TÓM LƯỢC.
HĐMBHH đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện giao dịch mua bán hàng
hóa đối với mỗi doanh nghiệp. Mặc dù đã là một hình thức giao kết phổ biến
nhưng việc nghiên cứu về loại hợp đồng này là rất cần thiết giúp hoạt động kinh
doanh của công ty được thuận lợi hơn và việc thực hiện pháp luật thực sự tốt và
hiệu quả hơn. Đối với đề tài này, Công ty TNHH Kẻ Gỗ là nơi mà em đã được tiếp
xúc liên hệ với thực tế từ những vấn đề lý luận được học tại Trường đại học
Thương mại. Bằng những kiến thức em đã được giảng dạy tại trường cùng những
kiến thức thực tế học hỏi tại doanh nghiệp, em hy vọng sẽ đóng góp một số giải
pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật tại công ty.
Qua quá trình nghiên cứu đề tài đã đạt được những kết quả như sau:
1. Xác định rõ những vấn đề cần nghiên cứu về thực hiện HĐMBHH.
2. Làm rõ những lý luận cơ bản về hợp đồng và quá trình giao kết, thực hiện hợp
đồng.
3. Tìm hiểu nhân tố ảnh hưởng từ đó phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện tại
Công ty TNHH Kẻ Gỗ.
4. Đưa ra định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về thực hiện HĐMBHH, đồng thời
đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề này.
Kết quả nghiên cứu mang yếu tố thực tiễn, có thể áp dụng tham khảo cho vấn đề
xây dựng pháp luật liên quan đến vấn đề thực hiện HĐMBHH, giúp hoàn thiện và
tăng tính hiệu quả thực thi của hệ thống pháp luật Việt Nam.
MỤC LỤC.
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ.
- Cơ cấu tổ chức bộ máy Công ty TNHH Kẻ Gỗ.
Hội đồng thành
Trưởng phòng
kinh doanh,
marketing.
Quản lý nhân sự.
Kỹ thuật viên.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.
LTM2005 : Luật thương mại 2005 .
BLDS2005 : Bộ luật dân sự 2005.
HĐMBHH : Hợp đồng mua bán hàng hóa.
LỜI CẢM ƠN.
Nhân viên
Qua sự phân công của Khoa Kinh Tế - Luật Trường Đại Học Thương Mại và sự
đồng ý của TS Nguyễn Thị Tình, em đã nghiên cứu và thực hiện đề tài: “ Pháp luật
về thực hiện HĐMBHH và thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Kẻ Gỗ”. Để có thể
hoàn thành tốt bài khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy, cô giáo
trong bộ môn đã tận tình giảng dạy trong suốt quá trình tham gia học tại trường
nhằm cung cấp cho chúng em những kiến thức rất bổ ích; cảm ơn các anh chị trong
Công ty TNHH Kẻ Gỗ đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực tập tại công
ty.Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Tình đã hướng dẫn, giúp đỡ em
rất tận tình trong suốt quá trình làm khóa luận để em có thể hoàn thành bài luận
một cách tốt nhất và đạt hiệu quả cao. Qua quá trình thực hiện em đã nghiên cứu
được nhiều vấn đề sâu rộng hơn, hiểu biết nhiều hơn về pháp luật liên quan đến
-
“Lưu ý khi thực hiện HĐMBHH” của Công ty Luật PLF, 2013. Trong bài viết này
đã phân tích được những vấn đề quan trọng cần lưu ý để thực hiện hợp đồng đúng
pháp luật và mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp, các vấn đề này được đúc kết
từ thực tế công ty luật gặp phải khi các khách hàng thường xuyên tham vấn ý kiến
luật sư hỗ trợ. Qua tài liệu này em đã nắm bắt được một số điểm hạn chế gây khó
khăn cho doanh nghiệp khi thực hiện hợp đồng.
- “ Pháp luật về các loại hợp đồng trong thương mại” của tác giả Hoàng Mến, 2009.
Tài liệu này phân tích những nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ các bên theo quy định
của pháp luật khi thực hiện hợp đồng, đó là những cơ sở lý thuyết mà tác giả chưa
phân tích kỹ thực tế thực hiện pháp luật và những ưu điểm, hạn chế của pháp luật
đó. Vì vậy đối với đề tài này em sẽ phân tích kỹ hơn trên khía cạnh thực tế thực
hiện pháp luật của doanh ngiệp.
- Luận văn “Pháp luật về thực hiện HĐMBHH theo LTM 2005” của Nguyễn Thị
Hậu, 2014. Bài viết này cùng chung đề tài nghiên cứu nhưng chưa thật sự sâu sắc
mang tính lý thuyết cao, thực tiễn chưa sát với thực tế doanh nghiệp thực hiện.
Nhưng bên cạnh đó tác giả cũng đã đưa ra những quan điểm cá nhân về những hạn
chế của pháp luật đối với doanh nghiệp. Qua tài liệu này em đã đúc rút ra được một
số quan điểm của tác giả để hoàn thiện bài luận văn của mình.
- Bài viết “ Báo cáo rà soát văn bản pháp luật- LTM 2005” của TS. Vũ Đặng Hải
Yến, 2011. Bài viết này đã đưa ra những bất cập trong quy định của LTM 2005,
phân tích rất sâu sắc và cụ thể từng quy định từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm sửa
đổi, hoàn thiện các quy định đó.
- Bên cạnh đó còn nhiều tài liệu khác như “Giáo trình luật thương mại tập II, Đại
học Luật Hà Nội” , 2008; “Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư”, do
TS. Nguyễn Thị Dung (chủ biên) và một số tài liệu khác; có các bài viết trên các
và thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Kẻ Gỗ”.
3. Đối tượng, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối với đề tài này, đối tượng nghiên cứu là các quy định pháp luật về thực hiện
hợp đồng, từ lý thuyết đó phải xem xét thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Kẻ Gỗ
và đề ra các giải giáp hữu ích nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa ra giải
pháp cho phía công ty.
3.2.
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này được xác lập như sau:
- Nghiên cứu pháp luật về thực hiện hợp đồng trong LTM 2005, LDS 2005 và các
Nghị định, thông tư hướng dẫn đi kèm để nắm rõ các quy định về vấn đề này.
- Tìm kiếm các công trình nghiên cứu, bài báo, bài viết về những ưu điểm và hạn
chế của pháp luật về thực hiện hợp đồng; từ đó đề ra những giải pháp có tính ứng
dụng cao và sát với tình hình thực tế pháp luật hiện nay.
- Cần đưa ra những đánh giá thực tiễn về việc thực hiện pháp luật của Công ty
TNHH Kẻ Gỗ; từ đó xem xét công ty đã thực hiện pháp luật tốt hay chưa để đưa ra
giải pháp khắc phục.
3.3. Phạm vi nghiên cứu.
Đối với đề tài này, phạm vi nghiên cứu là cơ sở lý thuyết pháp luật về thực hiện
hợp đồng và đặc biệt nghiên cứu thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Kẻ Gỗ; từ
đó tìm ra những hạn chế và khó khăn mà công ty đang phải đối mặt để đưa ra
những giải pháp phù hợp giúp tăng tính hiệu quả trong việc thực hiện hợp đồng.
Quá trình thực hiện HĐMBHH là hành vi thực tế được thực hiện dựa trên những
điều khoản đã được thỏa thuận trong hợp đồng và các điều kiện khách quan trên
thực tế. Việc nghiên cứu thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Kẻ Gỗ giúp em
hiểu rõ hơn về tính khả thi của pháp luật khi áp dụng vào thực tế, từ đó rút ra
những kinh nghiệm thực tiễn.
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA
BÁN HÀNG HÓA.
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa.
1.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa.
Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện trên cơ sở thuận mua,
vừa bán tức là trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên. Sự thống nhất ý chí (hay
còn gọi là sự thỏa thuận) sẽ được xác lập trong HĐMBHH. Trong LTM 2005
không đưa ra khái niệm về HĐMBHH mà chỉ định nghĩa về hoạt động mua bán
hàng hóa (Khoản 8 Điều 3 LTM 2005). Nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng
mua bán tài sản trong LDS 2005 để xác định bản chất của HĐMBHH. Hàng hóa
thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản và HĐMBHH trong thương mại là một
dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản, có bản chất chung của hợp đồng. Như
vậy ta có thể định nghĩa như sau: HĐMBHH là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa giữa
các bên mà theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa
cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán,
nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Căn cứ vào yếu tố chủ thể,
đối tượng, nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, HĐMBHH được chia thành
HĐMBHH trong nước và HĐMBHH có yếu tố nước ngoài. Về HĐMBHH có yếu
tố nước ngoài, nó không được định nghĩa trong LTM 2005, nhưng qua quy định tại
Điều 758 BLDS về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, có thể suy ra rằng một
hợp đồng được coi là HĐMBHH quốc tế khi có một trong các yếu tố sau:
•
Căn cứ vào yếu tố chủ thể, hợp đồng được giao kết bởi các bên không cùng quốc
tịch.
quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo luật thương mại khi chủ thể này lựa chọn
áp dụng luật thương mại”. Như vậy chủ thể của HĐMBHH có thể là thương nhân
hoặc không phải là thương nhân.
1.1.2.2.
Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa.
Theo quy định tại Điều 24 LTM 2005, trường hợp pháp luật không quy định loại
hợp đồng đó phải được thể hiện bằng một hình thức nhất định, thì có thể được giao
kết bằng lời nói, văn bản, hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên. Văn bản hợp đồng
có thể do các bên thoả thuận lập hoặc có thể lập theo mẫu. Phụ lục hợp đồng cũng
được coi là một trong những hình thức của hợp đồng và có hiệu lực như hợp đồng.
Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải giao kết hợp
đồng dưới hình thức văn bản, ví dụ như HĐMBHH quốc tế phải được thể hiện
dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
như điện báo, telex, fax hay thông điệp dữ liệu (Khoản 2 Điều 27 LTM 2005).
1.1.2.3.
Đối tượng hợp đồng mua bán hợp đồng.
Ở Việt Nam, trước khi có LTM 2005, đối tượng của HĐMBHH là hàng hóa bao
gồm: máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động
sản khác lưu thông trên thị trường; nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho
thuê, mua, bán. Khái niệm hàng hóa này có phạm vi hẹp hơn so với quan niệm trên
thế giới. Trên thực tế, các hoạt động mua bán có tính chất thương mại ở Việt Nam
không chỉ dừng lại ở đối tượng là những loại hàng hóa này. Khắc phục sự bất cập
của LTM 1997 về khái niệm hàng hóa, LTM 2005 đã quy định: “Hàng hóa bao
gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản được hình thành trong tương lai,
tố pháp lí cần thiết liên quan như: quốc tịch của các bên,ngành nghề đăng kí kinh
doanh, trụ sở kinh doanh, địa chỉ giao dịch, tài khoản ngân hàng, mã số thuế…
-
Điều khoản đối tượng của hợp đồng :
Điều khoản đối tượng của hợp đồng là điều khoản quan trọng bậc nhất trong hợp
đồng mua bán. Trong điều khoản này, các bên có thể thỏa thuận những điều khoản
sau:
-
Điều khoản về hàng hóa:
Trong điều khoản hàng hóa bao gồm tên hàng, số lượng, trọng lượng, chất lượng
hàng hóa,…. Tên hàng hóa mua bán phải được nêu chính xác trong hợp đồng nhằm
tránh nhầm lẫn trong quá trình thực hiện hợp đồng. Tùy theo từng hàng hóa mà
cách viết điều khoản này có sự khác nhau. Các bên có thể viết điều khoản cùng với
tên khoa học, tên thông dụng của hàng hóa. Trong các HĐMBHH quốc tế, tên hàng
còn được viết kèm theo tên của nhà sản xuất hàng hóa, tên địa danh sản xuất ra
hàng hóa, tên công cụng của hàng hóa…. Về chất lượng hàng hóa được xác định
bằng nhiều cách tùy thuộc tính chất của hàng hóa. Các bên có thể thỏa thuận một
tiêu chuẩn xác định cụ thể, hoặc xác định phẩm chất hàng hóa theo mẫu. Ngoài ra
còn có các điều khoản khác liên quan đến hàng hóa nhưtrọng lượng, số lượng, điều
khoản bao bì, mã kí hiệu hàng hóa, cách thức đóng gói hàng hóa,…
-
Điều khoản giá cả hàng hóa.
Điều khoản trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
Khi thoả thuận các bên cần dựa trên mối quan hệ, độ tin tưởng lẫn nhau mà quy
định hoặc không quy định về vấn đề phạt vi phạm. Thông thường, với những bạn
hàng có mối quan hệ thân thiết, tin cậy lẫn nhau, uy tín của các bên đã được khẳng
định trong một thời gian dài thì họ không quy định (thoả thuận) điều khoản này.
Còn trong các trường hợp khác thì nên có thoả thuận về phạt vi phạm.Theo Điều
422 BLDS 2005 thì không giới hạn mức phạt nhưng theo Điều 301 LTM 2005 thì
quyền thoả thuận về mức phạt vi phạm của các bên bị hạn chế ở mức không quá
8% giá trị nghĩa vụ hợp đồng. Do vậy, các bên khi thoả thuận về mức phạt phải căn
cứ vào quy định của LTM để lựa chọn mức phạt trong phạm vi từ 8% trở xuống,
nếu các bên thoả thuận mức phạt lớn hơn (ví dụ 12%) thì phần vượt quá (4%) được
coi là vi phạm điều cấm của pháp luật và bị vô hiệu.
-
Điều khoản phương thức giải quyết tranh chấp:
Pháp luật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh
doanh sau: Thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án. Theo đó, khi xảy ra tranh
chấp kinh doanh các bên có thể giải quyết tranh chấp thông qua việc trực tiếp
thương lượng với nhau.Trong trường hợp không thương lượng được, việc giải
quyết tranh chấp có thể được thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua
phương thức hòa giải, trọng tài hoặc tòa án.Việc giải quyết các tranh chấp trong
kinh doanh dựa trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên. Cơ
quan nhà nước và trọng tài thương mại chỉ can thiệp theo yêu cầu của các bên
tranh chấp.Trọng tài thương mại chỉ giải quyết tranh chấp khi có thỏa thuận trọng
tài.
1.1.2.5.
Nguyên tắc được hiểu là những điều cơ bản đưa ra làm cơ sở cho cách thức
thực hiện, nó được rút ra từ thực tế để chỉ đạo hành động (theo từ điển Việt- Việt).
Đối với HĐMBHH, LTM 2005 không quy định về nguyên tắc thực hiện nhưng nó
cũng phải tuân thủ theo những nguyên tắc được quy định trong BLDS 2005. Việc
quy định như vậy tạo ra khung pháp lý nhằm đưa ra những nguyên tắc tối thiểu cần
có khi các chủ thể thực hiện hợp đồng, còn đối với từng loại hợp đồng khác nhau
thì lại có những quy định về cách thức thực hiện khác nhau. Quy định về nguyên
tắc thực hiện HĐMBHH ngắn gọn, cụ thể chỉ bao quát trong Điều 412 BLDS 2005
gồm ba ý chính, thâu tóm được hàm ý mà pháp luật muốn hướng tới là các chủ thể
tham gia giao kết hợp đồng. Với mục đích đảm bảo quyền, lợi ích các bên dựa trên
tinh thần trách nhiệm của các bên và không ảnh hưởng tới lợi ích của xã hội.
1.2.3. Nội dung pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
1.2.3.1. Giao nhận hàng hóa.
- Giao hàng là nghĩa vụ mà bên mua phải thực hiện bao gồm nhiều nội dung
khác nhau được quy định trong điều 34 đến điều 41 và điều 43, 44 LTM 2005. Nội
dung này trong hợp đồng bao gồm nhiều điều khoản khác nhau như địa điểm, thời
hạn giao hàng, phương thức vận chuyển,….và pháp luật quy định toàn bộ nội dung
liên quan đến vấn đề giao hàng kể cả khi không có thỏa thuận trong hợp đồng
nhằm đảm bảo trách nhiệm của các bên khi thực hiện nghĩa vụ này và dự tính
những trường hợp xảy ra ngoài ý muốn. Việc quy định như vậy giúp các doanh
nghiệp dễ dàng trong quá trình xử lý khi thực hiện giao hàng mà xảy ra những
trường hợp bất khả kháng.
-
Nhận hàng là nghĩa vụ của bên mua phải thực hiện khi hàng đã được bên
bán giao đúng thỏa thuận, vấn đề này được quy định tại điều 56 LTM 2005. Đối
ra đối với hàng hóa. Nếu không quy định rõ ràng có thể dẫn đến xảy ra tranh chấp
khi có rủi ro xảy ra, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.
1.2.3.4. Trách nhiệm bảo hành.
Bảo hành là việc người bán cam kết sẽ thực hiện những biện pháp nhằm khắc phục
lỗi của hàng hóa xảy ra trong quá trình người mua sử dụng và còn trong thời hạn
bảo hành. Điều 49 LTM 2005 về vấn đề bảo hành đã góp phần bảo vệ lợi ích hợp
pháp của người tiêu dùng và đó cũng là cơ sở để người tiêu dùng và doanh nghiệp
có thể hiểu, tuân thủ và vận dụng tốt hơn các quy định về trách nhiệm bảo hành
hàng hóa, dịch vụ.Tuy nhiên, xét ở một khía cạnh nào đó còn khá nhiều bất cập
xung quanh các quy định về nghĩa vụ bảo hành, khiến người dùng và doanh
nghiệp nhiều khi không tháo gỡ được các rắc rối phát sinh.
1.2.3.5. Thanh toán.
Thanh toán là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong quan hệ hợp đồng
mua bán hàng hoá được quy định tại Điều 50 LTM 2005, bên mua có nghĩa vụ
thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận trong hợp đồng. Điều khoản thanh toán
được các bên thỏa thuận thông thường bao gồm những nội dung cụ thể về đồng
tiền thanh toán, phương thức thanh toán, thời hạn, địa điểm thanh toán, trình tự, thủ
tục thanh toán... Bên mua phải thực hiện đúng những nội dung này theo thỏa thuận.
Việc quy định nghĩa vụ của bên mua phải thực hiện đối với bên bán đảm bảo
quyền lợi cho bên bán khi mà hàng hóa đã được chuyển giao cho bên mua, tránh
tình trạng chậm thanh toán hay không thanh toán đúng hợp đồng gây thiệt hại cho
bên bán, quá trình quay vòng vốn trong sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng.
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY TNHH KẺ GỖ.
2.1.
Thực trạng quy định pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng
và lợi ích hợp pháp của người khác. Về nguyên tắc này khi các bên ký kết, thực
hiện hợp đồng vì lợi ích của mình nhưng phải hướng tới lợi ích chung của toàn xã
hội. Có như vậy thì trật tự pháp luật nói chung mới được giữ vững, thực hiệnnghĩa
vụ đối với nhà nước; qua đó, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên sẽ được pháp
luật bảo vệ, không làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của người khác.
2.1.2. Nội dung pháp luật về thực hiện HĐMBHH.
2.1.2.1. Giao nhận hàng hóa.
- Giao hàng.
Theo quy định của tại Điều 34 LTM 2005 thì bên bán phải giao hàng, chứng từ
theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo
quản và các quy định khác trong hợp đồng vàtrường hợp không có thoả thuận cụ
thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan theo quy định của pháp
luật. Nghĩa vụ này được phân tích cụ thể như sau:
Giao hàng đúng đối tượng và chất lượng:
Bên bán phải giao hàng đúng đối tượng và chất lượng theo thỏa thuận trong hợp
đồng và theo quy định của pháp luật. Chất lượng của hàng hóa có thể được thỏa
thuận hoặc xác định theo nhiều cách khác nhau: theo mẫu, theo mô phỏng, trên cơ
sở tiêu chuẩn hóa, theo giám định,…. Hàng hóa phải đảm bảo không có các khuyết
tật có thể nhìn thấy được khi bàn giao (khuyết tật bên ngoài) và cả những khuyết
tật không thể nhìn thấy ngay được mà chỉ có thể phát hiện trong quá trình sử dụng
(khuyết tật ẩn giấu bên trong).Hàng hóa là đối tượng của HĐMBHH, là nội dung
không thể thiếu trong thỏa thuận.Nhưng trên thực tế có nhiều trường hợp thỏa
thuận không rõ ràng tên, chất lượng của hàng hóa. Ví dụ: Một hợp đồng mua bán
chỉ quy định: “Tên hàng: Cát xây dựng” mà không đề cập chất lượng cát xây dựng.
Trong khi đó cát xây dựng có rất nhiều loại: Cát vàng, cát đen, trong đó riêng về
chất lượng của cát đen cũng rất khác nhau tùy theo từng khu vực khai thác, cách
thức khai thác… Việc thỏa thuận về hàng hóa không rõ ràng như trên có thể dẫn tới
xảy ra tranh chấp. Để giải quyết vấn đề này Điều 39 LTM 2005 quy định: “Trong
chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
•
Khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định về chất lượng thì
chất lượng thì chất lượng của vật mua bán được xác định theo mục đích sử dụng và
chất lượng trung bình của vật cùng loại.
Giao hàng đúng thời hạn:
Những nội dung liên quan đến điều khoản giao hàng như thời gian, địa điểm,
phương thức giao hàng thường được các bên thỏa thuận phù hợp với đặc điểm của
hàng hoá trong hợp đồng. Trường hợp các bên không thỏa thuận những vấn đề này
trong hợp đồng thì áp dụng quy định của pháp luật hoặc tập quán. Theo Luật
thương mại 2005, trường hợp chỉ có thoả thuận về thời hạn giao hàng mà không
xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thời
điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua; trường hợp
không có thoả thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong 1 thời
hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng ( Đ37 LTM 2005).
Giao hàng đúng địa điểm.
Địa điểm giao hàng là một nội dung quan trọng trong hợp đồng vì nó liên quan đến
vấn đề chuyển rủi do, liên quan đến chi phí vận chuyển. Bên bán có nghĩa vụ giao
hàng đúng địa điểm đã thỏa thuận (Khoản 1 Điều 35 LTM 2005). Trên thực tế, đối
với những HĐMBHH với số lượng lớn, vận chuyển đường dài hay HĐMBHH
quốc tế thì vấn đề này không thể có thỏa thuận trước. Còn các trường hợp khác
nhau thì cũng có thể do các bên sơ suất hoặc các bên đã từng mua bán theo thói
quen với nhau nên không có thỏa thuận về địa điểm giao hàng. Theo Khoản 2 Điều
35 LTM 2005 đã có quy định về vấn đề này như sau: “Trường hợp không có thỏa
thuận về địa điểm giao hàng thì điạ điểm giao hàng được xác định như sau:
Nơi cư trú hoặc trú của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự
không phải là bất động sản.
Như vậy, địa điểm giao hàng có thể được xác định một cách dễ dàng dựa vào các
quy định này tránh xảy ra tranh chấp phát sinh liên quan.
-
Kiểm tra hàng hóa trước khi giao.
Kiểm tra hàng hóa là một khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hóa được
quy định tại Điều 44 LTM 2005. Bước này được thực hiện trước khi giao hàng
nhằm bảo đảm hàng hóa giao đúng hợp đồng, hạn chế tranh chấp phát sinh.Bên
bán phải tạo điều kiện, bảo đảm cho bên mua tiến hành kiểm tra hàng hóa.Nếu như
hợp đồng có quy định về vận chuyển hàng hóa, thì việc kiểm tra hàng hóa tiến
hành khi hàng hóa được chuyển tới địa điểm đến. Sau khi kiểm tra, bên mua phải
thông báo về tình trạng hàng hóa, về các khiếm khuyết của hàng hóa mà bên mua
biết. Nếu như bên mua không thông báo thì bên bán không phải chịu trách nhiệm
đối với những khiếm khuyết này. Tuy nhiên, có những khiếm khuyết bên mua
không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra thông thường. Trường hợp này,
bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm. Nếu như bên mua không thực hiện việc kiểm
tra hàng hóa trước khi bên bán giao hàng theo thỏa thuận thì bên bán có quyền giao
hàng và bên mua phải nhận hàng theo hợp đồng.Việc kiểm tra hàng hoá trước khi
giao hàng là yêu cầu cần thiết đối với giao dịch mua bán trong thương mại, ngăn
ngừa những sai sót trong việc giao hàng, tăng khả năng thực hiện hiệu quả việc
mua bán.
-
Nghĩa vụ nhận hàng:
đứng về phía bên mua để bảo vệ quyền lợi của bên mua; nếu người thứ ba có
quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản mua bán thì bên mua có quyền hủy bỏ
hợp đồng và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại.
- Chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua:
Về thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa, Điều62 LTM 2005 quy định: “Trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận, quyền sở hữu
được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển
giao”. Thông thường, khi bên bán chuyển giao hàng hóa cho bên mua trên thực tế,
đó cũng là thời điểm phát sinh quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đó.
Trường hợp pháp luật có quy định khác ở đây có thể nói đến là trường hợp hàng
hóa mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu
được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở
hữu đối với hàng hóa đó. Trong thực tế xảy ra những trường hợp như sau:
- Trường hợp hàng hóa mua bán mà khi giao nhận dịch chuyển được về mặt cơ học
như quần áo, giày dép, sách, vở,… thì quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao
cho người mua khi người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng.
- Trường hợp hàng hóa mua bán không chuyển dịch cơ học khi giao nhận như nhà ở
và các tài sản khác gắn liền với đất đai, việc giao nhận hàng hóa được thực hiện
thông qua việc giao nhận chứng từ về quyền sở hữu hàng hóa để chứng minh tình
trạng pháp lý của hàng hóa đó thì quyền sở hữu chỉ được chuyển giao cho người
mua khi hoàn tất việc chuyển giao các chứng từ đó.
- Trường hợp hàng hóa mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu như xe
máy, ô tô, máy bay, tàu thủy,… thì quyền sở hữu hàng hóa được chuyển cho bên
mua kể từ thởi điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với hàng hóa đó.
- Trường hợp hàng hóa không dịch chuyển khi giao nhận đồng thời cũng không có
chứng từ về hàng hóa thì quyền sở hữu hàng hóa được coi là đã chuyển giao tại địa
điểm và thời gian hợp đồng có hiệu lực.
- Trường hợp hàng hóa được mua theo phương thức mua sau khi sử dụng thử. Đây
Với bên mua, việc nhận hàng tại địa điểm giao hàng là một quyền quan trọng, đây
chính là điều kiện quan trọng khi xác định việc bên mua đã hoàn thành nghĩa vụ
giao hàng nên bên mua có quyền thực hiện việc kiểm tra hàng hóa và quyền định
có nhận hàng hay không. Ví dụ: Công ty A thỏa thuận mua hàng với công ty B và
thực hiện giao hàng tại kho hàng 1, tuy nhiên công ty B vận chuyển lại giao hàng
tại kho hàng 2 cách kho hàng 120km, bên công ty A vẫn nhận hàng. Trong trường
hợp này mặc dù có địa điểm giao hàng xác định là kho hàng 1 nhưng khi giao tại
kho hàng 2, công ty A vẫn nhận coi như đã đồng ý với việc thay đổi địa điểm.
Trường hợp này nếu có rủi ro công ty A vẫn phải chịu trách nhiệm theo trường hợp
có địa điểm giao hàng xác định. Nếu như bên A không nhận hàng thì bên B coi như
chưa hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình và phải chịu rủi ro nếu có với hàng
hóa.
- Rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định (Đ 58 LTM 2005) :
Nếu hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hoá và bên bán không có
nghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng
hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho người vận
chuyển đầu tiên. Đây là trường hợp trong HĐMBHH không quy định về việc vận
chuyển hàng hóa cũng như nghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định. Khi
không có địa điểm giao hàng, việc chuyển rủi ro trong trường hợp này thuộc về
bên mua sau khi hàng hóa đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên.
- Rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là
người vận chuyển (Đ59 LTM 2005):
Nếu hàng hoá đang được người nhận hàng để giao nắm giữ mà không phải là
người vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho
bên mua khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá; khi người nhận hàng
để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoá của bên mua.Ở đây cần lưu ý người
nhận hàng ở đây không phải là người vận chuyển mà là người nhận hàng để giao
nắm giữ hàng hóa.