VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG THẮM
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ LÂM THI
Hà Nội - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được
trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Thắm
MỤC LỤC
2.3. Nhận xét, đánh giá.
Chương 3
2.1.
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH
CAO BẰNG
3.1.
3.2.
Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành quyền
công tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.
Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành quyền công
tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.
KẾT LUẬN
Danh mục tài liệu tham khảo
16
24
32
32
38
51
62
62
KSĐT
:
Kiểm sát điều tra
KSV
:
Kiểm sát viên
LTCVKSND
:
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
THQCT
:
Thực hành qùn cơng tố
TNHS
:
Trách nhiệm hình sự
39
41
Bảng 2.4: Kết quả thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố trong
giai đoạn khởi tố vụ án, bị can
43
Bảng 2.5: Kết quả thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố
trong giai đoạn truy tố
47
Bảng 2.6: Kết quả thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố
trong giai đoạn xét xử
50
Bảng 2.7: Bảng thông kê số vụ VKS trả hồ sơ cho CQĐT điều tra
bổ sung
55
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều 107 Khoản 1 Hiến pháp năm 2013 quy định: Viện kiểm sát nhân
dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp… Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được Nhà nước
các yêu cầu cải cách tư pháp.
Với mong muốn góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận thực hiện
pháp luật về thực hành quyền công tố đồng thời tổng kết, đánh giá kết quả, chỉ ra
những mặt còn hạn chế của hoạt động này tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao
Bằng, từ đó đề xuất giải pháp góp phần bảo đảm hoạt đợng thực hiện pháp luật
về thực hành quyền công tố tại địa phương, học viên xin chọn đề tài “Thực hiện
pháp luật về thực hành quyền công tố từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Cao Bằng” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay, thực hiện pháp luật được đặt ra là nhiệm vụ cấp bách của các
cơ quan Đảng, của Nhà nước, xã hợi và tồn thể nhân dân. Để pháp luật phát
huy được hết hiệu quả là công cụ quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, thì thực
hiện pháp luật phải được quan tâm, đảm bảo. Có nhiều cơng trình nghiên cứu
về thực hiện pháp luật trên nhiều lĩnh vực khác nhau như:
- “Thực hiện pháp luật về hịa giải ở cơ sở ở Bình Thuận hiện nayThực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sỹ Luật học của Lê Trung Quân,
Học viện chính trịnh Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2004.
- “Thực hiện pháp luật trong hoạt động của lực lượng Công an nhân dân
để bảo vệ trật tự, an toàn xã hội ở nước ta hiện nay”, Luận án phó tiến sỹ Luật
học của Đỗ Tiến Triển, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 1996.
- “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa”, Luận văn thạc sỹ Luật học của Lại Thế Nguyên, Học viện chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh năm, 2014.
- “Thực hiện pháp luật về khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai
trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên, Việt Nam”, Luận án tiến sỹ của Lê Duyên
Hà, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2017.
- “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam”, Luận án tiến sỹ
của Trần Thị Quốc Khánh, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2017.
- “Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường Nhà nước do công
2
về thực hành qùn cơng tố của VKSND
- Phân tích làm rõ những đặc điểm của địa bàn tỉnh Cao Bằng có liên
3
quan đến hoạt động thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của
VKSND tỉnh Cao Bằng
- Đánh giá thực trạng và chỉ ra những hạn chế, bất cập cũng như
nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong thực hiện pháp luật về thực hành
quyền công tố của VKSND tỉnh Cao Bằng.
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm hiệu quả hoạt động thực hiện pháp luật
về thực hành qùn cơng tố của cơ quan VKSND nói chung và tỉnh Cao Bằng
nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về thực
hiện pháp luật về thực hành quyền công tố và thực trạng thực hiện trên địa
bàn tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp
luật về thực hành quyền công tố của VKSND tỉnh Cao Bằng trong phạm vi thời
gian từ năm 2015 đến năm 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa
Mac-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chính sách của Đảng,
Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp qùn Xã hợi chủ nghĩa về chính sách
hình sự, về chiến lược cải cách tư pháp.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp như phân
tích, tổng hợp để làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về thực hành quyền công
tố của VKSND tỉnh Cao Bằng, phương pháp thống kê, so sánh làm rõ kết quả
thực hiện pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN.
1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của
Viện kiểm sát nhân dân.
* Khái niệm Thực hành quyền công tố:
Quyền công tố là quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện
việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội nhằm đưa người đó ra xét xử
trước Tòa án và đồng thời bảo vệ sự ḅc tợi đó. Khoản 1, Điều 107 Hiến
pháp 2013 có quy định: "VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt
động tư pháp" và Điều 2 Luật Tổ chức VKSND 2014 cũng quy định
"VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của
nước CHXHCN Việt Nam". Như vậy, Thực hành quyền công tố là một trong
hai chức năng hiến định của VKSND.
Trong khoa học pháp lý hiện nay tồn tại nhiều quan niệm về quyền
công tố. Theo nghĩa hẹp, quyền công tố bắt đầu sau khi Cơ quan điều tra
(hoặc Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) kết
thúc việc điều tra tội phạm, ban hành bản kết luận điều tra và chuyển tồn bợ
hồ sơ vụ án hình sự sang VKS đề nghị truy tố. Thực hiện qùn cơng tố chính
là việc Viện kiểm sát thực hiện truy tố người phạm tội ra trước Tòa án bằng
bản Cáo trạng. Quyền công tố kết thúc sau khi Tòa án ra bản án (quyết định)
có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tợi [27]. Hiện nay có các quan điểm
về phạm vi của quyền công tố như sau:
Quan điểm 1: Quyền công tố được bắt đầu sớm hơn, ngay từ khi Cơ
quan điều tra (hoặc Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra)
tiến hành các hoạt động điều tra tội phạm và kết thúc sau khi Tòa án xét xử, ra
6
đầu từ giai đoạn tiếp nhận giải quyết tin báo, tố giác tội phạm đã khẳng định
được chức năng Thực hành qùn cơng tố của Viện kiểm sát có ý nghĩa quan
trọng trong việc phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm. Thực hiện được tốt
khâu công tác này là yếu tố quyết định đến việc khởi tố đúng người phạm tội,
không làm oan người vô tội hay bỏ lọt tợi phạm, hạn chế thấp nhất việc bắt
giữ hình sự chủn xử lý hành chính vì khơng chứng minh được hành vi
phạm tội và ngược lại. Như vậy, phạm vi của thực hành quyền công tố từ giai
đoạn kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tợi phạm và kiến nghị
khởi tố được luật hóa và quy định cụ thể trong Bợ luật hình sự năm 2015.
BLTTHS năm 2015 đã có các điều luật quy định về nhiệm vụ, quyền
hạn của VKSND, theo đó VKSND thực hành quyền công tố trong 4 giai đoạn
tố tụng. Cụ thể: THQCT trong giai đoạn khởi tố quy định tại Điều 159
BLTTHS, THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án được quy định tại Điều 165
BLTTHS, THQCT trong giai đoạn truy tố quy định tại Điều 236; và THQCT
trong giai đoạn xét xử quy định tại Điều 266. Qua đó, có thể xác định THQCT
của VKSND bao gồm những nợi dung sau:
- Bắt đầu thực hành quyền công tố từ quá trình xác minh, điều tra đối với sự
kiện phạm tội (căn cứ để tiến hành khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự);
- Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định KTBC của
Cơ quan điều tra (hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra) hoặc VKS trực tiếp ra quyết định KTBC đối với người thực
hiện hành vi phạm tội;
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra, khi xét thấy
cần thiết, VKS trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; trong trường hợp xét
thấy hành vi của điều tra viên có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát yêu
cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV theo quy định của pháp luật.
- Viện kiểm sát quyết định việc áp dụng hay không áp dụng một số biện
pháp hạn chế quyền, tự do của cá nhân người phạm tội (như phê chuẩn việc bắt,
Thực hành quyền cơng đó là việc thực hiện các hành vi tố tụng cần
9
thiết theo quy định của pháp luật TTHS để truy cứu TNHS cá nhân, tổ chức
phạm tội, đưa cá nhân, tổ chức phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự
buộc tội đó.
* Khái niệm thực hiện pháp luật:
Thực hiện pháp luật nghĩa là việc một chủ thể làm đúng những quy định
của pháp luật; là quá trình chuyển các quy định của pháp luật vào thực tiễn c̣c
sống xã hợi, là hoạt đợng nhằm mục đích làm cho các quy phạm pháp luật được
thực hiện trong thực tế. Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luậtKhoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nợi: "thực hiện pháp luật là mợt q trình hoạt
đợng có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống trở
thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật". [30]
Các hình thức thực hiện pháp luật gồm có tn thủ pháp luật; thi hành pháp
luật; sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
Tn thủ pháp luật: là mợt hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ
thể pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm. Ở
hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động,
thực hiện các quy phạm pháp luật dưới dạng không hành đợng.
Thi hành pháp luật: là mợt hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ
thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành đợng tích cực.
Sử dụng pháp luật: là mợt hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ
thể thực hiện pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện các hành vi
pháp luật cho phép).
Áp dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà
nước thơng qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức
cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình
căn cứ vào những quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh,
thay đổi, đình chỉ, hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể.
duy nhất trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự. Do vậy, thực hiện pháp
luật về thực hành quyền công tố mang tính quyền lực rất cao. Pháp luật quy
định cho VKSND một hệ thống các quyền năng pháp lý rộng lớn, trong đó
quyền nhân danh nhà nước truy tố người phạm tội ra trước tòa án để xét xử là
11
qùn duy nhất chỉ có ở VKSND và là mợt trong những quyết định trong q
trình thực hành qùn cơng tố. Các quyết định hạn chế quyền con người,
quyền công dân như lệnh bắt khẩn cấp, lệnh tạm giam, lệnh gia hạn tạm giữ,
quyết định KTBC... như đã nêu trên đều phải có phê chuẩn của VKSND. Việc
thay thế, hủy bỏ các lệnh, quyết định đó đều do cơ quan duy nhất thực hiện là
VKSND. Do vậy, việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố cần
triệt để, nghiêm minh, thận trọng, khách quan... bởi lúc này VKSND có qùn
sử dụng các qùn năng pháp lý của mình do pháp luật hình sự và tố tụng
hình sự quy định để truy cứu TNHS đối với người phạm tội.
Hai là, Thực hiện pháp luật về THQCT là hoạt động thuộc thẩm quyền duy
nhất của VKSND.
Nếu chủ thể thực hiện pháp luật trong hoạt đợng điều tra vụ án hình sự
được giao cho nhiều Cơ quan điều tra khác nhau như: Cơ quan điều tra của
Công an nhân dân (Cơ quan An ninh điều tra của Bộ Công an, Cơ quan cảnh
sát điều tra của Bộ Công an...Cơ quan An ninh điều tra của tỉnh; Cơ quan
cảnh sát điều tra cấp tỉnh, Cơ quan cảnh sát điều tra cấp huyện); CQĐT trong
Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
thì chủ thể thực hiện pháp luật thực hành quyền công tố chỉ duy nhất là
VKSND (các vụ được giao chức năng THQCT của VKSND tối cao, VKSND
tỉnh và VKSND cấp huyện, ngoài ra có VKS quân sự các cấp...). Người thực
hiện các quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố là Kiểm sát viên,
và do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao lãnh đạo tập trung, thống
nhất.
dụng quy định của pháp luật đối với mỗi loại tội phạm cụ thể, với một người
phạm tội cụ thể để đưa ra những quyết định áp dụng pháp luật chính xác, có
căn cứ, mợt mặt khơng xâm phạm đến các quyền con người, quyền công dân
của người phạm tội, mặt khác đảm bảo mọi hành vi phạm tợi, người phạm tợi
phải được xử lý nhanh chóng, nghiêm minh.
Việc thực hiện triệt để, nghiêm minh, khách quan các quy định của
pháp luật về thực hành quyền công tố theo các trình tự, thủ tục chặt chẽ còn
có ý nghĩa quyết định đến việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
13
không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.
1.1.3. Vai trò thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện
kiểm sát nhân dân.
Thực hiện pháp luật về thực hành qùn cơng tố của VKSND có vai trò
chung là góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống
nhất qua đó bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, qùn cơng
dân. Vai trò đó được cụ thể hóa ở những nội dung sau:
Một là, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và
xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự chính là việc đi
ngược lại thời gian để tìm ra sự thật khách quan của vụ án, nhưng nhận thức của
con người có hạn, theo thời gian những dấu vết, chứng cứ chứng minh hành vi
phạm tội đã không còn nguyên vẹn hoặc mất đi, việc tìm ra sự thật khách quan
của vụ án là vơ cùng khó khăn... trong khi đó VKSND là cơ quan duy nhất được
giao chức năng THQCT: "Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với
người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử". Mục đích của
hoạt đợng THQCT là bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được
của mợt con người, làm giảm uy tín của nhà nước, làm giảm lòng tin của nhân dân
vào các cơ quan tiến hành tố tụng. Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố... là yêu
cầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và phải kiên quyết thực hiện,
nhưng không được phép tùy tiện, khơng thể viện bất cứ mợt lý do gì mà áp dụng
các biện pháp đó mợt cách tràn lan, khơng có căn cứ, sai đối tượng, sai mục đích...
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân.
Do vậy, VKSND có trách nhiệm bảo đảm bất cứ trường hợp nào bị bắt,
tạm giữ, tạm giam, bị khởi tố... phải có đủ các yếu tố: đúng người, đúng hành vi,
tuân thủ đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục...
Ba là, Việc truy cứu TNHS đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp
luật.
Truy cứu THNS là việc áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự vào
15
các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự từ khởi tố đến xét xử nhằm mục đích
ḅc người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm về hành vi
mình đã gây ra thơng qua hình phạt tương ứng. Trong quá trình truy cứu
trách nhiệm hình sự người có tợi ra trước tòa án nhân dân để xét xử, cơ
quan chứng minh tội phạm là CQĐT, trực tiếp là Điều tra viên, cơ quan có
quyền THQCT là VKS mà trực tiếp là kiểm sát viên; Hoạt động của các
chủ thể này đều chịu sự điều chỉnh của BLTTHS và để làm rõ các vấn đề
cần chứng minh được quy định tại Điều 85 BLTTHS: Có hành vi phạm tợi
xảy ra hay khơng? nếu có thì hành vi đó phạm vào tợi danh gì? Hành vi đó
được quy định trong điều khoản nào của BLHS? Người thực hiện tội phạm là
ai? CQĐT tiến hành các thủ tục điều tra có đúng theo quy định của BLTTHS
hay khơng... Các hoạt đợng đó nhằm mục đích xác định chính xác tợi phạm
và người phạm tợi, từ đó ban hành được các quyết định áp dụng pháp luật
trong quá trình truy cứu TNHS bị can có căn cứ, chính xác, đảm bảo đúng
ngưới, đúng tợi, đúng quy định của pháp luật, ví dụ như quyết định phê chuẩn
Nội dung Thực hiện pháp luật về THQCT trong việc áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế bao gồm:
Thứ nhất: Xét, phê chuẩn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, Việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn, biện pháp chưỡng chế như: lệnh bắt khẩn cấp, lệnh gia hạn
tạm giữ, lệnh bắt bị can để tạm giam, tạm giam bị can, biện pháp đặt tiền hoặc
tài sản có giá trị để bảo đảm thay thế biện pháp tạm giam phải được Viện
kiểm sát Nhân dân phê chuẩn. Đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và
biện pháp tạm hoãn xuất cảnh thì VKS khơng phê chuẩn, mà xét thấy khơng
đủ căn cứ thì VKS yêu cầu CQĐT hủy bỏ việc áp dụng, nếu CQĐT khơng
thực hiện thì VKS mới ra quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp đó.
Như vậy, khi xét phê chuẩn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế, KSV phải kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được đã có
đủ căn cứ để phê chuẩn không, các quyết định của CQĐT có được ban hành
đúng thẩm qùn khơng... ví dụ: Căn cứ phê chuẩn bắt người bị giữ trong
17
trường hợp khẩn cấp tại Điều 110 BLTTHS; căn cứ phê chuẩn lệnh tạm giam
đối chiếu tại các Điều 113, 119, 173 BLTTHS ... Nếu thấy chưa đủ căn cứ để
xét phê chuẩn thì VKS phải yêu cầu CQĐT bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Trường hợp cần thiết như người bị giữ, bị bắt không nhận tội KSV phải trực
tiếp lấy lời khai của họ trước khi đề xuất lãnh đạo Viện phê chuẩn. Việc xét
phê chuẩn lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải thực hiện trong thời
hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị của CQĐT, việc phê chuẩn lệnh
tạm giam, lệnh bắt tạm giam được thực hiện trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày
nhận được hồ sơ đề nghị hoặc tài liệu bổ sung. Nếu xét thấy lệnh bắt khẩn
cấp, lệnh gia hạn tạm giữ, lệnh bắt bị can để tạm giam, tạm giam bị can... là
khơng có căn cứ hoặc khơng cần thiết thì Viện kiểm sát nhân dân có quyền từ
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố:
Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, và kiến nghị khởi tố
được coi là một giai đoạn tố tụng, mở đầu cho các hoạt đợng tố tụng hình sự.
Đây là giai đoạn xác định có hay khơng có tợi phạm xảy ra, quyết định khởi
tố hay khơng khởi tố vụ án hình sự. Do vậy, VKSND phải ln chủ đợng, tích
cực, đồng hành với hoạt động của cơ quan điều tra trong việc tiếp nhận, phân
loại tố giác, tin báo về tội phạm, nếu thấy tin báo khơng tḥc thẩm qùn thì
phải chủn ngay đến cơ quan có thẩm quyền thụ lý giải quyết. Theo quy
định tại Điều 159, Điều 161 BLTTHS năm 2015, hoạt động THQCT của
VKSND ở giai đoạn này bao gồm: xem xét phê chuẩn hoặc không phê chuẩn
việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp hạn chế quyền con
người, quyền công dân; gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm; hủy bỏ các quyết định tạm giữ, khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình
sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin; Yêu cầu CQĐT khởi tố vụ
án hình sự...
Trong trường hợp thấy cần phải kiểm tra tính xác thực của nguồn tin về
tội phạm, thu thập các tài liệu, chứng cứ để làm rõ các tình tiết liên quan đến
các vấn đề cần chứng minh thì KSV đề ra yêu cầu xác minh.
19
Khi có căn cứ quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 BLTTHS năm 2015
thì VKS có qùn trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm: Cơ quan có
thẩm quyền điều tra vi phạm pháp luật nghiêm trong trong hoạt đợng kiểm tra,
xác minh, có dấu hiệu bỏ lọt tợi phạm thì VKS phải có văn bản yêu cầu CQĐT
có thẩm quyền khắc phục vi phạm. Nếu VKS đã u cầu mà CQĐT khơng khắc
phục thì VKS dẽ trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo tợi phạm đó.
Trong q trình THQCT việc giải quyết tố giác, tin báo về tợi phạm,
VKS có qùn gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố. Việc gia hạn được thực hiện theo quy định tại Điều 147