(Luận văn thạc sĩ) thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố từ thực tiễn viện kiểm sát nhân dân tỉnh cao bằng - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG THẮM

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ LÂM THI

Hà Nội - 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được
trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả

Nguyễn Thị Hồng Thắm



Thực trạng thực hiện pháp luật về thực hành quyề
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.
51

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH
CAO BẰNG

62


3.1.
3.2.
KẾT LUẬN

Danh mục tài liệu tham khảo

Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về thực
công tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằn
Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thực h
tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTHS
BLHS
CQĐT
ĐTV
KSĐT

giao thực hiện chức năng này, đây là hai chức năng hiến định. Đồng thời pháp
luật đã quy định cho Viện kiểm sát nhân dân những nhiệm vụ và quyền hạn để
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình mục đích nhằm đảm bảo cho pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong đó, việc thực hiện
chức năng thực hành quyền công tố theo đúng quy định của pháp luật góp
phần tích cực trong định hướng điều tra chính xác, đảm bảo cho công tác khởi
tố, bắt giam, giữ, thay thế, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn cũng như ra các
quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật, góp phần xư lý đúng người,
đúng tợi, tránh oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Do vậy, để hoạt động thực hành
quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân có hiệu quả, đáp ứng được u cầu
của cơng cuộc cải cách tư pháp cũng như yêu cầu của cơng c̣c đấu tranh
phòng, chống tợi phạm trong tình hình mới, việc vận dụng và thực hiện pháp
luật về thực hành quyền công tố phải đúng đắn mới phát huy được hiệu quả và
khẳng định được vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống chính trị
của Việt Nam.
Trong những năm gần đây, ngành kiểm sát nhân dân đã khơng ngừng
nỗ lực phấn đấu hồn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, liên tục truy
tố các vụ án lớn về tham nhũng, kinh tế, chức vụ, các vụ án xâm phạm tính
mạng, sức khỏe của con người cũng như các vụ án đối tượng phạm tội sư
dụng công nghệ cao, các vụ án ma túy xuyên quốc gia… được Đảng và Nhà
nước đánh giá cao, nhân dân tin tưởng, ủng hộ. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều
hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về THQCT của hệ thống Viện KSND,
do những nguyên nhân chủ quan, khách quan cần phải được nhận diện và tìm
ra giải pháp khắc phục. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng cũng khơng
nằm ngoại lệ, tuy đã có nhiều cố gắng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được
1


giao, góp phần vào việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hợi và đã
đạt được những thành tích đáng ghi nhận song vẫn chưa thật sự đáp ứng được

Quốc gia Hồ Chí Minh năm, 2014.
-

“Thực hiện pháp luật về khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai

trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên, Việt Nam”, Luận án tiến sỹ của Lê Duyên
Hà, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2017.
-

“Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam”, Luận án tiến sỹ

của Trần Thị Quốc Khánh, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2017.
-

“Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường Nhà nước do công
2


chức cơ quan hành chính nhà nước gây ra ở Việt Nam”, Luận văn tiến sỹ của
Nguyễn Đỗ Kiên, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2014.
-

"Vai trò của dư luận xã hội đối với việc thực hiện pháp luật ở nước ta

hiện nay", Luận văn Thạc sỹ của Tạ Thị Thu Hường, năm 2009.
-

"Một số vướng mắc, bất cập của BLTTHS năm 2015" của tác giả

Nguyễn Văn Chung đăng trên Tạp chí Tòa án số 7 năm 2016.

3.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất một số giải pháp nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thực hành qùn cơng tố
của VKSND nói chung và VKSND tỉnh Cao Bằng nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ
-

Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của thực hiện pháp luật

về thực hành quyền công tố của VKSND
-

Phân tích làm rõ những đặc điểm của địa bàn tỉnh Cao Bằng có liên
3


quan đến hoạt động thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của
VKSND tỉnh Cao Bằng
-

Đánh giá thực trạng và chỉ ra những hạn chế, bất cập cũng như

nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong thực hiện pháp luật về thực hành
quyền công tố của VKSND tỉnh Cao Bằng.
-

Đề xuất các giải pháp bảo đảm hiệu quả hoạt động thực hiện pháp luật

về thực hành quyền công tố của cơ quan VKSND nói chung và tỉnh Cao Bằng
nói riêng.

-

Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm mợt số vấn đề lý luận về thực

hiện pháp luật về thực hành qùn cơng tố, từ đó nâng cao hơn nữa nhận thức
của cán bộ, kiểm sát viên VKSND tỉnh Cao Bằng trong quá trình thực hiện
chức năng, nhiệm vụ được giao.
-

Các giải pháp luận văn đưa ra nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế

trong việc thực hiện pháp luật về THQCT của VKSND tỉnh Cao Bằng có thể làm
4


tài liệu tham khảo cho các cán bộ, kiểm sát viên tham khảo, rút kinh nghiệm mặt
còn tồn tại hạn chế, bất cập, đồng thời áp dụng các giải pháp mà luận văn đưa ra
để bảo đảm việc thực hiện pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án cụ thể.
-

Luận văn cũng có thể làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy cho học

viên, sinh viên các cơ sở đào tạo nghiên cứu khoa học Luật; là tài liệu tham
khảo cho Kiểm sát viên các cấp tỉnh Cao Bằng nghiên cứu áp dụng trong hoạt
động thực tiễn nhằm nâng cao trình đợ lý luận và thực tế cơng tác thực hiện
pháp luật về thực hành quyền công tố.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về THQCT của
VKSND.

hồ sơ vụ án hình sự sang VKS đề nghị truy tố. Thực hiện qùn cơng tố chính
là việc Viện kiểm sát thực hiện truy tố người phạm tội ra trước Tòa án bằng
bản Cáo trạng. Quyền công tố kết thúc sau khi Tòa án ra bản án (quyết định)
có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tợi [27]. Hiện nay có các quan điểm
về phạm vi của quyền công tố như sau:
Quan điểm 1: Quyền công tố được bắt đầu sớm hơn, ngay từ khi Cơ
quan điều tra (hoặc Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra)
tiến hành các hoạt động điều tra tội phạm và kết thúc sau khi Tòa án xét xư, ra
6


bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tội. Như vậy
thực hành quyền công tố được thực hiện trong cả giai đoạn điều tra, truy tố,
xét xư người thực hiện hành vi phạm tội [31]. Hiểu theo nghĩa này thì qùn
cơng tố được bắt đầu từ sau khi khởi tố vụ án (nghĩa là từ giai đoạn CQĐT
tiến hành các hoạt đợng điều tra thì quyền công tố đã xuất hiện).
Quan điểm 2: Quyền công tố bắt đầu từ giai đoạn VKS thụ lý giải quyết
vụ án (tức là khi CQĐT hoàn thành việc điều tra), chuyển hồ sơ và bản kết luận
điều tra sang cho VKS để nghiên cứu xem xét ban hành quyết định truy tố.

Quan điểm 3: Quyền công tố bắt đầu từ khi tiếp nhận, giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm. Nghĩa là quyền công tố được bắt đầu sớm hơn, VKS
thực hiện quyền này từ giai đoạn CQĐT tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác,
lúc này CQĐT chưa khởi tố vụ án mà chỉ thực hiện các biện pháp xác minh để
giải quyết tin báo, tố giác về tợi phạm để xác định có hành vi phạm tội xảy ra
hay không, xác định người phạm tội.
Quan điểm của tác giả: Tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba, quan
điểm này cũng đã được luật hóa, cụ thể theo quy định tại Điều 159 BLTTHS
năm 2015 đã ghi nhận quyền công tố của Viện kiểm sát được bắt đầu từ giai
đoạn tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố. Thời


Bắt đầu thực hành quyền công tố từ quá trình xác minh, điều tra đối với

sự kiện phạm tợi (căn cứ để tiến hành khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự);
-

Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định KTBC của

Cơ quan điều tra (hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra) hoặc VKS trực tiếp ra quyết định KTBC đối với người thực
hiện hành vi phạm tội;
-

Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra, khi xét thấy

cần thiết, VKS trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; trong trường hợp
xét thấy hành vi của điều tra viên có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì Viện kiểm
sát yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV theo quy định của pháp luật.
-

Viện kiểm sát quyết định việc áp dụng hay không áp dụng một số biện

pháp hạn chế quyền, tự do của cá nhân người phạm tội (như phê chuẩn việc bắt,
8


gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thực hiện các biện pháp ngăn chặn khác); Nếu
xét thấy các quyết định trên của CQĐT khơng có căn cứ và trái pháp luật thì
có qùn hủy bỏ.
-

hiện việc truy cứu TNHS đối với cá nhân, tổ chức phạm tội nhằm đưa cá
nhân, tổ chức đó ra xét xử trước Tịa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó.
Thực hành quyền cơng đó là việc thực hiện các hành vi tố tụng cần
9


thiết theo quy định của pháp luật TTHS để truy cứu TNHS cá nhân, tổ chức
phạm tội, đưa cá nhân, tổ chức phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự
buộc tội đó.
* Khái niệm thực hiện pháp luật:
Thực hiện pháp luật nghĩa là việc một chủ thể làm đúng những quy định
của pháp luật; là quá trình chuyển các quy định của pháp luật vào thực tiễn c̣c
sống xã hợi, là hoạt đợng nhằm mục đích làm cho các quy phạm pháp luật được
thực hiện trong thực tế. Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luậtKhoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nợi: "thực hiện pháp luật là mợt q trình hoạt
đợng có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống trở
thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật". [30]

Các hình thức thực hiện pháp luật gồm có tn thủ pháp luật; thi hành
pháp luật; sư dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
Tn thủ pháp luật: là mợt hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
chủ thể pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật
cấm. Ở hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể thực hiện nghĩa vụ một cách
thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dưới dạng không hành đợng.
Thi hành pháp luật: là mợt hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ
thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành đợng tích cực.

Sư dụng pháp luật: là mợt hình thức thực hiện pháp luật trong đó các
chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện các
hành vi pháp luật cho phép).
Áp dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà

chứng cứ thu thập được trong qúa trình điều tra.
Nếu kiểm sát hoạt đợng tư pháp xuất hiện trong cả quá trình giải quyết
vụ án hình sự, các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế, lao đợng... với tính chất
"Việc dân sự cốt ở đơi bên", có các ngun tắc như tơn trọng qùn tự định
đoạt của đương sự... thì các hoạt đợng thực hành quyền công tố chỉ xuất hiện
duy nhất trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự. Do vậy, thực hiện pháp
luật về thực hành quyền công tố mang tính quyền lực rất cao. Pháp luật quy
định cho VKSND một hệ thống các quyền năng pháp lý rộng lớn, trong đó
quyền nhân danh nhà nước truy tố người phạm tội ra trước tòa án để xét xư là
11


qùn duy nhất chỉ có ở VKSND và là mợt trong những quyết định trong q
trình thực hành qùn cơng tố. Các quyết định hạn chế quyền con người,
quyền công dân như lệnh bắt khẩn cấp, lệnh tạm giam, lệnh gia hạn tạm giữ,
quyết định KTBC... như đã nêu trên đều phải có phê chuẩn của VKSND. Việc
thay thế, hủy bỏ các lệnh, quyết định đó đều do cơ quan duy nhất thực hiện là
VKSND. Do vậy, việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố cần
triệt để, nghiêm minh, thận trọng, khách quan... bởi lúc này VKSND có qùn
sư dụng các qùn năng pháp lý của mình do pháp luật hình sự và tố tụng
hình sự quy định để truy cứu TNHS đối với người phạm tội.
Hai là, Thực hiện pháp luật về THQCT là hoạt động thuộc thẩm quyền
duy nhất của VKSND.
Nếu chủ thể thực hiện pháp luật trong hoạt đợng điều tra vụ án hình sự
được giao cho nhiều Cơ quan điều tra khác nhau như: Cơ quan điều tra của
Công an nhân dân (Cơ quan An ninh điều tra của Bộ Công an, Cơ quan cảnh
sát điều tra của Bộ Công an...Cơ quan An ninh điều tra của tỉnh; Cơ quan cảnh
sát điều tra cấp tỉnh, Cơ quan cảnh sát điều tra cấp huyện); CQĐT trong Quân
đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thì chủ
thể thực hiện pháp luật thực hành quyền công tố chỉ duy nhất là VKSND (các

pháp luật của các Cơ quan tiến hành tố tụng nhằm mục đích đưa họ ra tòa xét
xư về tội phạm đã thực hiện. Như vậy, các quyết định này ảnh hưởng trực tiếp
đến các quyền cơ bản, thậm chí là quyền sống, ảnh hưởng đến sinh mạng
chính trị của mợt con người. Vì vậy, đòi hỏi hoạt đợng đó phải được tiến hành
theo mợt trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ, cụ thể, đồng thời phải áp dụng quy
định của pháp luật đối với mỗi loại tội phạm cụ thể, với một người phạm tội
cụ thể để đưa ra những quyết định áp dụng pháp luật chính xác, có căn cứ,
mợt mặt khơng xâm phạm đến các quyền con người, quyền công dân của
người phạm tội, mặt khác đảm bảo mọi hành vi phạm tợi, người phạm tợi phải
được xư lý nhanh chóng, nghiêm minh.
Việc thực hiện triệt để, nghiêm minh, khách quan các quy định của
pháp luật về thực hành quyền công tố theo các trình tự, thủ tục chặt chẽ còn
có ý nghĩa quyết định đến việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
13


không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.
1.1.3. Vai trò thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện

kiểm sát nhân dân.
Thực hiện pháp luật về thực hành qùn cơng tố của VKSND có vai trò
chung là góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và
thống nhất qua đó bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người,
qùn cơng dân. Vai trò đó được cụ thể hóa ở những nội dung sau:
Một là, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra
và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự chính là việc đi
ngược lại thời gian để tìm ra sự thật khách quan của vụ án, nhưng nhận thức của con
người có hạn, theo thời gian những dấu vết, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội
đã không còn nguyên vẹn hoặc mất đi, việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án là

quyền công dân của VKSND thông qua các hoạt đợng THQCT. Mục đích của
việc áp dụng một số biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân là bảo
vệ trật tự pháp luật, bảo vệ quyền lợi ích của bị hại, người liên quan... nhưng
cũng cần chú ý bảo vệ quyền, lợi ích của đối tượng bị áp dụng. Việc bắt, tạm giữ,
tạm giam, khởi tố... trái pháp luật sẽ dẫn đến hậu quả oan, sai, xâm phạm đến
quyền, lợi ích hợp pháp của họ, ảnh hưởng đến sinh mạng chính trị của mợt con
người, làm giảm uy tín của nhà nước, làm giảm lòng tin của nhân dân vào các cơ
quan tiến hành tố tụng. Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố... là yêu cầu của
công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và phải kiên quyết thực hiện, nhưng
không được phép tùy tiện, khơng thể viện bất cứ mợt lý do gì mà áp dụng các
biện pháp đó mợt cách tràn lan, khơng có căn cứ, sai đối tượng, sai mục đích...
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân.

Do vậy, VKSND có trách nhiệm bảo đảm bất cứ trường hợp nào bị bắt,
tạm giữ, tạm giam, bị khởi tố... phải có đủ các yếu tố: đúng người, đúng hành
vi, tuân thủ đúng quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục...
Ba là, Việc truy cứu TNHS đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp
luật.
Truy cứu THNS là việc áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự vào
15


các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự từ khởi tố đến xét xư nhằm mục đích
ḅc người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm về hành vi mình
đã gây ra thơng qua hình phạt tương ứng. Trong quá trình truy cứu trách
nhiệm hình sự người có tợi ra trước tòa án nhân dân để xét xư, cơ quan chứng
minh tội phạm là CQĐT, trực tiếp là Điều tra viên, cơ quan có quyền THQCT
là VKS mà trực tiếp là kiểm sát viên; Hoạt động của các chủ thể này đều chịu
sự điều chỉnh của BLTTHS và để làm rõ các vấn đề cần chứng minh được quy
định tại Điều 85 BLTTHS: Có hành vi phạm tợi xảy ra hay khơng? nếu có thì

người (Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả
tang, bắt người đang bị truy nã; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người bị
yêu cầu dẫn độ); biện pháp tạm giữ; Tạm giam; Bảo lĩnh; Đặt tiền để bảo
đảm; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Tạm hoãn xuất cảnh.
Các biện pháp cưỡng chế trong TTHS được quy định tại Mục II chương
VII BLTTHS năm 2015 bao gồm: Áp giải, dẫn giải; Kê biên tài sản; phong
tỏa tài khoản;
Nội dung Thực hiện pháp luật về THQCT trong việc áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế bao gồm:
Thứ nhất: Xét, phê chuẩn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, Việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn, biện pháp chưỡng chế như: lệnh bắt khẩn cấp, lệnh gia hạn
tạm giữ, lệnh bắt bị can để tạm giam, tạm giam bị can, biện pháp đặt tiền hoặc
tài sản có giá trị để bảo đảm thay thế biện pháp tạm giam phải được Viện
kiểm sát Nhân dân phê chuẩn. Đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và
biện pháp tạm hoãn xuất cảnh thì VKS khơng phê chuẩn, mà xét thấy khơng
đủ căn cứ thì VKS yêu cầu CQĐT hủy bỏ việc áp dụng, nếu CQĐT khơng
thực hiện thì VKS mới ra quyết định hủy bỏ việc áp dụng biện pháp đó.
Như vậy, khi xét phê chuẩn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế, KSV phải kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được đã có
đủ căn cứ để phê chuẩn không, các quyết định của CQĐT có được ban hành
đúng thẩm qùn khơng... ví dụ: Căn cứ phê chuẩn bắt người bị giữ trong
17


trường hợp khẩn cấp tại Điều 110 BLTTHS; căn cứ phê chuẩn lệnh tạm giam
đối chiếu tại các Điều 113, 119, 173 BLTTHS ... Nếu thấy chưa đủ căn cứ để
xét phê chuẩn thì VKS phải yêu cầu CQĐT bổ sung tài liệu, chứng cứ. Trường
hợp cần thiết như người bị giữ, bị bắt không nhận tội KSV phải trực tiếp lấy

VKS ra quyết định hủy bỏ, thay thế biện pháp ngăn chặn trong các
trường hợp: CQĐT không thực hiện các yêu cầu hủy bỏ hoặc thay thế biện
pháp ngăn chặn của VKS; trường hợp quyết định áp dụng biện pháp ngăn
chặn do VKS phê chuẩn thì VKS sẽ ra quyết định hủy bỏ.
1.2.2. Thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố trong việc
khởi tố
Thứ nhất: Thực hiện pháp luật về THQCT trong việc tiếp nhận, giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố:
Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, và kiến nghị khởi tố
được coi là một giai đoạn tố tụng, mở đầu cho các hoạt đợng tố tụng hình sự.
Đây là giai đoạn xác định có hay khơng có tợi phạm xảy ra, quyết định khởi tố
hay khơng khởi tố vụ án hình sự. Do vậy, VKSND phải ln chủ đợng, tích
cực, đồng hành với hoạt động của cơ quan điều tra trong việc tiếp nhận, phân
loại tố giác, tin báo về tội phạm, nếu thấy tin báo khơng tḥc thẩm qùn thì
phải chủn ngay đến cơ quan có thẩm quyền thụ lý giải quyết. Theo quy định
tại Điều 159, Điều 161 BLTTHS năm 2015, hoạt động THQCT của VKSND ở
giai đoạn này bao gồm: xem xét phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền
công dân; gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; hủy bỏ các
quyết định tạm giữ, khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm
đình chỉ giải quyết nguồn tin; Yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hình sự...
Trong trường hợp thấy cần phải kiểm tra tính xác thực của nguồn tin về
tội phạm, thu thập các tài liệu, chứng cứ để làm rõ các tình tiết liên quan đến
các vấn đề cần chứng minh thì KSV đề ra yêu cầu xác minh.
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status