MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Về mặt lý luận
Trước sự phát triển của nền kinh tế quốc tế, các quốc gia trên thế giới
luôn tự thích nghi và điều chỉnh hệ thống chính sách, pháp luật của nước
mình phù hợp với pháp luật quốc tế.
WTO là một tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh, gồm các Hiệp
định và quy tắc về kinh tế, thương mại v.v..., trong đó các quy định về tổ
chức và thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế chiếm một số lượng lớn. Đặc
biệt các quy tắc về nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử
phát triển của WTO, có thế nói rằng, nông nghiệp là một trong các trụ cột
chính của WTO do tích phức tạp ảnh hưởng đến hàng tỷ nông dân và người
tiêu dùng trên toàn thế giới. Việc đưa ra các nghiên cứu Hiệp định nông
nghiệp cũng như các đáng giá thực hiện Hiệp định này trong nước đóng vai
trò đặc biệt quan trọng trong việc ban hành chính sách pháp luật nông
nghiệp quốc gia.
Để thực hiện được Hiệp định và các nguyên tắc này, nhằm đem lại
hiệu quả cao cho sự phát triển của quốc gia, rất cần có một nghiên cứu về
Hiệp định và nguyên tắc về nông nghiệp của WTO, nhằm:
1. Tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định về nông nghiệp của Hiệp
định nông nghiệp trong WTO ở một số quốc gia.
2. Nhằm hiểu biết sâu sắc các quy định trong Hiệp định nông nghiệp;
3. Trên cơ sở đó vận dụng vào thực tiễn quản lý đối với nền kinh tế
trong nước và các hoạt động chuyên ngành;
1
4. Đưa ra các giải pháp về sửa đổi, bổ sung những thiếu sót trong hệ
thống pháp luật.
Với các mục đích trên, đề tài "Chính sách và pháp luật nông
trong Hiệp định, nhưng ngược lại, việc sửa đổi này cũng nhằm bảo vệ thị
trường nông sản trong nước, đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời cũng
đảm bảo quyền lợi của người nông dân trong quá trình hội nhập.
Cơ hội đối với ngành nông nghiệp khi tham gia WTO
Minh bạch hoá chính sách pháp luật: Trước hết phải nói rằng việc
tham gia vào Hiệp định Nông nghiệp buộc các nước thành viên phải tiến
hành cải cách chính sách pháp luật trong nước của mình phù hợp với các
quy định của Hiệp định. Các vấn đề cải cách chính sách pháp luật tập trung
vào chính sách luật pháp về thuế quan, phi thuế quan, bảo hộ, cạnh tranh
v.v… do đó, pháp luật về nông nghiệp Việt Nam có cơ hội lớn đối với việc
sửa đổi chính sách phù hợp với quốc tế và trong nước.
Khả năng mở rộng thị trường: Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ được
các nước thành viên khác dành cho quy chế tối huệ quốc quy chế không
phân biệt đối xử có mức thuế nhập khẩu ưu đãi hơn. Việc cắt giảm thuế nhập
khẩu nông sản, mở rộng hạn ngạch thuế quan, giảm dần thuế đối với hàng
nông sản chế biến và xoá bỏ các rào cản phi thuế khác sẽ tạo điều kiện cho
hàng nông sản của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam thâm
nhập vào thị trường các nước phát triển. Thị trường tiêu thụ được mở rộng
không những trong khu vực mà cả trên thế giới.
Về đầu tư: Môi trường kinh tế - xã hội ổn định, kết hợp với triển
vọng hội nhập quốc tế đã có tác động tích cực tới đầu tư nước ngoài trong
lĩnh vực nông nghiệp. Nhiều nước đã đầu tư lớn vào Việt Nam như: Đài
Loan, Hồng Kông, Pháp, Trung Quốc. Gia nhập WTO, hệ thống pháp lý sẽ
được điều chỉnh theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo ra môi trường
4
kinh doanh trong nước bình đẳng, khuyến khích được mọi thành phần kinh
tế, nhất là các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ tham gia đầu tư vào ngành
- Khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản nước ta còn
thấp do năng suất, chất lượng thấp, thiết bị và công nghệ chế biến lạc hậu
nên giá thành sản phẩm cao như mía đường, ngô, đậu tương… khi giảm thuế
nhập khẩu và bỏ các rào cản phi thuế sẽ phải cạnh tranh nhiều hơn với hàng
nông sản nhập khẩu.
- Mặc dù nước ta đã đạt được khá nhiều thành tựu về nâng cao năng
suất cây trồng, vật nuôi, nhưng do quy mô sản xuất quá nhỏ bé (bình quân cả
nước là 0,8 ha đất nông nghiệp/hộ gia đình) nên năng suất lao động rất thấp.
Thu nhập của hộ gia đình nông dân thấp dẫn đến nông dân không có vốn tái
đầu tư mở rộng và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Chất lượng
nông sản hàng hoá nhìn chung còn thấp và không đồng đều cũng là một
thách thức rất lớn đối với cả thị trường trong nước và xuất khẩu.
- Song song với quá trình đàm phán gia nhập WTO, nước ta cũng
đang tham gia tích cực vào quá trình tự do hoá thương mại khu vực như Khu
vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEANTrung Quốc (AC-FTA) v.v… Các cam kết về mở cửa thị trường trong nước
sẽ đem lại nhiều thách thức cho nông lâm sản nói chung, nhất là đối với
ngành hàng có khả năng cạnh tranh yếu như ngành chăn nuôi (thịt, trứng,
sữa), mía đường, ngô, bông vv… Kể cả trong những ngành hàng có khả
năng cạnh tranh khá thì cũng có nhiều doanh nghiệp yếu kém, làm ăn thua lỗ
triền miên. Đây cũng là thách thức không nhỏ đối với ngành nông nghiệp.
Như đã đề cập ở trên, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, từ chỗ
là một nước thiếu đói triền miên, Việt Nam đã trở thành quốc gia hàng đầu
trong khu vực về xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp như: gạo, cà phê, chè,
hồ tiêu cao su...Đứng trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông
6
nghiệp cũng đang tích cực triển khai thực hiện đường lối đổi mới phù hợp
với quá trình hội nhập chung của đất nước.
Xuất phát từ nhu cầu trên, cần thiết phải có các nghiên cứu, đề tài
ngành như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Bộ
Thương mại, Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế, Trường Đại học
Ngoại thương, Đại học Quốc gia Hà Nội…, đồng thời trong quá trình nghiên
cứu, hệ thống pháp luật quốc gia về lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế nói
chung, về chính sách pháp luật nông nghiệp nói riêng đã được sử dụng theo
phương pháp thông kê, phân tích, tổng hợp nhằm đưa ra những nhận xét cụ
thể về từng lĩnh vực.
Dựa trên những tài liệu có được từ việc thông kê, những nhận định
từ việc phân tích, tổng hợp, và thực tế của Việt Nam, đề tài đã đưa ra một số
khuyến nghị về việc xây dựng chính sách pháp luật nông nghiệp cho phù
hợp với các quy định trong Hiệp định nông nghiệp của Tổ chức thương mại
thế giới (WTO).
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về nông nghiệp trong Tổ chức
thương mại thế giới WTO.
Chương 2: Hiệp định nông nghiệp và việc thực thi tại một số nước.
Chương 3: Thực trạng bảo hộ nông nghiệp Việt Nam, định hướng
chính sách xây dựng pháp luật nông nghiệp trong khuôn khổ WTO.
8
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÔNG NGHIỆP
TRONG TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO
chỉnh lại những biện pháp bảo hộ được duy trì từ đầu những năm 1930. Kết
quả của vòng đàm phán đầu tiên này là 45.000 nhượng bộ về thuế quan ảnh
hưởng đến thương mại trị giá 10 tỷ USD, tức là gần 1/5 tổng thương mại
trên toàn thế giới. Tổng hợp những quy định và cam kết đã thoả thuận được
đưa vào một văn kiện pháp lý quốc tế có giá trị ràng buộc đối với các nước.
Văn kiện pháp lý đó chính là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
(GATT). GATT đã được 23 nước chính thức ký vào ngày 23/10/1947 và có
hiệu lực vào ngày 1/1/1948, trong khi Hiến chương của ITO vẫn đang được
các nước đàm phán. 23 nước ký GATT sau này đã trở thành những thành
viên sáng lập của WTO, vì GATT không phải là một tổ chức mà chỉ là một
Hiệp định, nên các nước lúc đó tham gia GATT được gọi là các bên ký kết
(Contracting parties) [17].
Mặc dầu, ITO cuối cùng được thông qua tại Hội nghị Liên hợp quốc
về thương mại và làm việc tại Havana tháng 3/1948, Quốc hội một số nước,
đặc biệt là Quốc hội Mỹ đã không thông qua Hiến chương này, và vì vậy, tổ
chức ITO đã không tồn tại. GATT, mặc dù chỉ mang tính tạm thời đã trở
thành công cụ pháp lý duy nhất mang tính đa biên, điều tiết thương mại thế
giới kể từ năm 1948 cho đến khi WTO được thành lập vào năm 1945.
Đặc điểm nổi bật của GATT: Trải qua 48 năm tồn tại, GATT đã tổ
chức được 8 vòng đàm phán. Nội dung chủ yếu của các vòng đàm phán là
vấn đề thuế. Ở 6 vòng đầu, giảm thuế là vòng đàm phán duy nhất, sở dĩ như
11
vy l do thu l cụng c trc tip nht nh nc tỏc ng lờn hot ng
trao i thng mi vi bờn ngoi, l ro cn ỏng k nht i vi tin trỡnh
t do hoỏ v n nh mụi trng thng mi quc t. Ni dung ca cỏc vũng
m phỏn ny cú th túm tt c nh sau [17]:
Cỏc vũng m phỏn ca GATT
Thuế suất giảm trung bình 35%, số
hàng đợc giảm thuế chiếm 5,6% giá
trị hàng hoá buôn bán của thế giới
1950-1951
Torquay
38
8.700
Thuế suất giảm trung bình 26%
1956
Geneve
26
3.000
Thuế suất giảm trung bình 15%, ảnh
hởng tới 2,5 tỉ USD kim ngạch thơng
mại thế giới
1960-1961
Geneve
(vũng Dillon)
Thuế suất bình quân sản phẩm chế
biến giảm xuống còn 4,7% (so với
mức 40% khi thành lập GATT)
1986-1994
Geneve
(vũng Urugoay)
123
Các nớc phát triển đa số hạng mục
hàng hoá cam kết giảm thuế từ 78%
lên 99%, các nớc đang phát triển: từ
21% lên 73%
Ngun: Ti liu Ban Th ký WTO chun b cho chng trỡnh o to
v WTO cỏc nc thuc khu vc Chõu - Thỏi Bỡnh Dng (4/1997).
Qua bng cú th thy, ti 2 vũng m phỏn sau ny do s hỡnh thnh
ca cỏc nc ang phỏt trin v cng vi mong mun phỏt trin thng mi
quc t, nhiu nc ang phỏt trin ó gia nhp GATT, nõng s lng
12
GATT lên 102 (năm 1979) và 123 nước (1994), các nước đang phát triển với
tư cách là các nước tham gia GATT, cũng đã cam kết đưa hạng mục hàng
hoá cam kết giảm thuế từ 21-73%. Tại Vòng đàm phán Tokyo, (1973-1979),
do tình hình thương mại thế giới có nhiều thay đổi, nên một số lĩnh vực mới
được bổ sung và đưa vào chương trình nghị sự của các cuộc đàm phán tại
vòng Tokyo rồi tiếp đến là vòng Urugoay diễn ra trong bối cảnh của các
Thoả thuận về mua bán máy bay dân dụng
Nguồn: Đại học Melbourne, Luật Quốc tế - Chương 7, tr. 7.
Tiếp tục phát huy các thành tựu đó, vòng đàm phán cuối cùng trong
khuôn khổ hiệp định GATT, vòng Urugoay đã đem đến một bước tiến dài
trong nỗ lực của các nước, nhằm cải tổ và mở rộng hệ thống thương mại đa
biên. Phạm vi các vấn đề thuộc chương trình nghị sự này rất lớn, bao trùm
tới 15 lĩnh vực khác nhau của thương mại quốc tế. Và đặc biệt hơn, chúng
mang tính cả gói, theo đó các nước thoả thuận rằng, nếu việc đàm phán
trong một lĩnh vực nào đó bị thất bại thì kết quả của tất cả các cuộc đàm
phán khác cũng sẽ bị huỷ bỏ. Điều này thể hiện quyết tâm của các nước là
muốn đi đến cùng trong việc thương lượng về những lĩnh vực đặc biệt nhạy
cảm như nông sản và hàng vải sợi may mặc, dù biết trước là sẽ có khó khăn.
Với phạm vi chương trình Nghị sự rộng lớn như vậy, việc nảy sinh
rất nhiều các mâu thuẫn giữa các bên trong quá trình đàm phán là tất yếu. Để
giàn xếp những bất đồng đó, các nước tham gia GATT đã mất gần 8 năm.
Trong thời gian đó, các nước đã phải lần lượt tháo gỡ những điểm khúc mắc
nghiêm trọng nhất như thương mại nông sản, thương mại dịch vụ, các quy
tắc chống bán phá giá và việc thành lập một tổ chức mới. Kết quả là vòng
đàm phán có quy mô lớn nhất lịch sử thương mại thế giới này cũng kết thúc
thắng lợi, với 28 văn kiện pháp lý được ký kết liên quan đến hầu hết các khía
cạnh pháp lý của lĩnh vực thương mại và đặc biệt WTO đã ra đời. Tuy nhiên
ghi nhận lại kết quả của 8 vòng đàm phán đều có những khó khăn trong tự
14
do hoá thương mại. Những kết quả của 8 vòng đàm phán cũng là những nội
dung mà WTO phải điều chỉnh [17].
Chủ đề đàm phán tại vòng Urugoay
1. Thuế quan
thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, thương
mại trong đầu tư.
Thứ năm: cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, về mặt pháp lý
mang tính chặt chẽ, tự động và nhanh hơn so với cơ chế của GATT, do vậy
mà giảm nguy cơ bế tắc so với hệ thống của GATT. Các phán quyết của
WTO cũng có giá trị hiệu lực cao hơn và việc thi hành được đảm bảo hơn.
Tóm lại, sự khác nhau cơ bản giữa GATT và WTO chính là tính
hoàn thiện của hệ thống pháp lý hàm chứa trong WTO nhằm điều chỉnh
thương mại trong phạm vi toàn cầu. GATT mang tính chất là những thoả
thuận tự nguyện giữa các quốc gia, còn WTO là thiết chế pháp lý của hệ
thống thương mại thế giới với mục tiêu là thiết lập cơ chế pháp lý, ở quy mô
toàn cầu, cho lĩnh vực thương mại quốc tế, trong đó có những ràng buộc liên
quan đến trách nhiệm và cả việc xử lý vi phạm của các nước thành viên
WTO.
1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ các nguyên tắc cơ bản của WTO
Nhiệm vụ của WTO là từng bước xây dựng một môi trường thương
mại thế giới tự do và lành mạnh, tạo điều kiện tối đa cho các hoạt động
thương mại phát triển, đóng góp vào sự tăng trưởng và thịnh vượng chung
của kinh tế toàn cầu. Đồng thời phối hợp với các tổ chức quốc tế khác thúc
đẩy nhanh hơn quá trình tự do hoá thương mại và hội nhập toàn diện của nền
kinh tế thế giới. Để thực hiện được nhiệm vụ này, WTO có 6 chức năng sau
[15]:
17
1. Tổ chức các cuộc đàm phán đa biên.
2. Xây dựng mới, sửa đổi các nguyên tắc, quy tắc pháp lý quốc tế
3. Giải quyết các tranh chấp về thương mại quốc tế.
4. Đánh giá định kỳ về chính sách thương mại của các nước nhằm
sự đãi ngộ trên thị trường nội địa nước mình (tức là không có những quy
định bảo hộ đối với sản phẩm, dịch vụ của nước nhập khẩu so với dịch vụ,
sản phẩm của nước xuất khẩu) sau khi hàng đã được nhập khẩu, không kém
phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ đã được dành cho hàng hoá, dịch vụ hay
quyền sở hữu trí tuệ, hay nhà đầu tư …của chính nước mình.
Nếu như chế độ MFN hướng về sự không phân biệt đối xử giữa hàng
hoá, dịch vụ của một thành viên của WTO với hàng hoá, dịch vụ …của tất
cả các thành viên khác của WTO thì chế độ NT hướng về sự không phân
biệt đối xử giữa sản phẩm, dịch vụ của nước nhập khẩu …
Nguyên tắc tự do hoá thương mại
Tất cả các nước, kể cả nước nghèo nhất đều có lợi khi tham gia vào
thương mại quốc tế vì mỗi nước đều có lợi thế so sánh tương đối trong việc sản
xuất một số loại hàng hoá, dịch vụ. Đó chính là thuyết lợi thế so sánh do nhà
kinh tế học Keynes tìm ra từ thế kỷ 19 nền tảng cơ bản của kinh tế học hiện đại.
WTO phát triển tư tưởng này lên, không chỉ khuyến khích tham gia mà còn tìm
cách tối đa hoá hiệu quả của việc tham gia này thông qua tự do hoá thương
mại.
Để tự do hoá thương mại, Chính phủ các nước có thể sử dụng thuế
quan để làm công cụ bảo hộ thị trường trong nước, nhưng đòi hỏi phải cắt
giảm các hàng rào thuế quan theo một khuôn khổ đã quy định tại GATT
19
1994 và họ cũng cần xoá bỏ các biện pháp phi thuế quan như cấm nhập
khẩu, ấn định hạn ngạch hoặc các chính sách đối ngoại hỗ trợ xuất khẩu…
Nguyên tắc cạnh tranh
Trên thương trường, các yếu tố nội tại của hàng hoá là điều kiện
quyết định khả năng và sức sống của nó. Cơ chế cạnh tranh cho phép nhà
sản xuất có được đầu vào đáp ứng đúng yêu cầu của sản xuất, với giá cạnh
những khía cạnh thương mại và kỹ thuật trong việc cung cấp hàng hoá, dịch
vụ, tình hình thị trường, các yêu cầu về chất lượng cần có…khi thực thi các
biện pháp có ảnh hưởng đến hoạt động thương mại. Các chính phủ phải
thông báo công khai ở trong nước và ngoài nước.
Nguyên tắc khuyến khích cải cách hội nhập
Mục tiêu của WTO là đem lại sự phát triển kinh tế cho các nước
thành viên. Tuy nhiên nếu tất cả các nước đều tiến hành mở cửa thị trường,
cho phép tự do cạnh tranh ngay thì kết quả tất yếu sẽ là sự sụp đổ của các
nền kinh tế còn yếu kém. Vì vậy, với các nước đang ở giai đoạn đầu của sự
phát triển cần có sự bảo hộ hợp lý và WTO đưa ra những quy định ưu đãi
đáng kể đối với những nước này. Ví dụ miễn giảm bớt nghĩa vụ trong việc
thực hiện TRIMS, TRIPS và GATS, thu hẹp phạm vi thực hiện các thoả
thuận về thuế quan, được phép áp dụng nguyên tắc về trợ cấp xuất khẩu bị
cấm, cho phép áp dụng dài hơn; được phép giới hạn hàng nhập khẩu; đưa ra
tổng hạn ngạch cho phép nhập khẩu với từng nước.
1.2 LỊCH SỬ RA ĐỜI HIỆP ĐỊNH NÔNG NGHIỆP TRONG WTO
1.2.1. Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994)
Nông nghiệp là một lĩnh vực quan trọng và gây ra nhiều tranh cãi
trong vòng đàm phán Uruguay. Trong lĩnh vực tồn tại ba quan điểm của ba
nhóm nước gồm nhóm các nước xuất khẩu, nhóm các nước nhập khẩu và nhóm
21
trung gian là những nước tự túc được lương thực và tuỳ theo từng hoàn cảnh có
thể trở thành nước xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một loại nông sản nhất
định. Hàng nông sản trong phần này tập trung vào bốn nhóm chính: ngũ cốc
gồm lúa mạch, mỳ, gạo, hạt thô (ngô); hạt có dầu và sản phẩm từ hạt có dầu;
sữa và các sản phẩm của sữa; thịt và các sản phẩm thịt; và đường. Đây cũng
về thu nhập sẽ khiến cầu biến động theo một cách tương đối. Tuy nhiên,
trong lâu dài thì quy luật này không có tác dụng. Trong nhiều trường hợp,
đặc biệt là đối với các nông sản như lương thực, đồ uống và đặc biệt nông
sản thô thì dù thu nhập của dân chúng có tăng lên đáng kể thì mức cầu cũng
không tăng nhanh và thâm chí còn chậm hơn thu nhập. Thêm vào đó, nhờ
các yếu tố kỹ thuật tiên tiến, các nước phát triển có thể có những sản phẩm
thay thế làm giảm thêm nữa lượng cầu về nông sản thô từ các nước đang
phát triển. Do đó, nhìn chung nhu cầu nhập khẩu của các nước đang phát
triển về nông sản có xu hướng tăng chậm nếu xét theo các yếu tố trên.
Ngược lại, đối với thị trường nhập khẩu của các nước đang phát triển, nếu
xét trên bốn yếu tố này sẽ thấy trong thời gian tới họ vẫn sẽ là nước nhập
khẩu nông sản chính, đặc biệt nếu xét theo góc độ tăng trưởng dân số. Với
tốc độ tăng trưởng dân số nhanh hơn tốc độ sản xuất thì ngay cả các nước
đang phát triển xuất khẩu lương thực hiện nay như Thái Lan, Trung Quốc,
Ấn Độ và thậm chí là Việt Nam trong mười năm tới sẽ biến thành các nước
nhập khẩu lương thực [2].
Về cung: Hai yếu tố chính ảnh hưởng tới cung trong nông nghiệp là
chính sách nông nghiệp và khoa học kỹ thuật. Cả hai yếu tố này đều quan
trọng như nhau và các nước phát triển đều có đủ hai yếu tố này. Nhờ những
tiến bộ khoa học kỹ thuật, cộng với chính sách hỗ trợ nội địa và trợ cấp xuất
khẩu, các nước phát triển từ chỗ là các nước nhập khẩu lương thực đã nhanh
chóng trở thành các nước xuất khẩu lương thực. Tuy nhiên, do lượng cầu
trong nước không lớn nhưng lại có lượng cung lớn nên buộc các nước phát
triển phải xuất khẩu nông sản và một phần được xuất khẩu theo hình thức
23
viện trợ lương thực sang các nước đang phát triển. Lượng cung trên thế giới
lại càng lớn khi số lượng các nước đang phát triển tham gia xuất khẩu nông
nghiệp ngày càng tăng dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng trong lĩnh vực
nhanh quá trình đàm phán nông nghiệp.
Quan điểm của các nhóm nước trong vòng đàm phán Uruguay
EU phản ứng tiêu cực với việc tự do hoá lĩnh vực nông nghiệp và
cho rằng nguyên nhân của các vấn đề trên chính là sự phát triển vượt bậc của
khoa học kỹ thuật chứ không phải do chính sách hỗ trợ của chính phủ. Sự
gia tăng nhanh chóng của sản lượng nông sản khiến cung vượt quá cầu đi
đôi với sự phát triển vượt bậc của sinh học trong việc tạo ra những giống vật
nuôi và cây trồng mới và đã tăng cường khả năng tự cung, tự cấp của các
quốc gia. Trong hoàn cảnh đó, thương mại trong nông nghiệp không những
sẽ bị hạn chế như hiện nay mà còn tiếp tục bị hạn chế trong tương lai do
lượng cung tiếp tục tăng. Thậm chí không có sự hỗ trợ của nhà nước, khoa
học kỹ thuật sẽ tiếp tục làm cho sản lượng nông nghiệp tăng vọt trong tương
lai. EU đề nghị quá trình tự do hoá trong nông nghiệp phải được tiến hàng
theo giai đoạn và tuỳ theo thị trường của từng loại nông sản khác nhau. Tại
hội nghị bộ trưởng Brussel tháng 12/1990. EU nhận ra rằng nếu không có sự
nhân nhượng với những nước đòi tự do hoá lĩnh vực nông nghiệp thì khó có
thể đi đến một Hiệp định cụ thể. Tuy nhiên, nếu EU nhân nhượng trước khi
cải tổ chương trình nông nghiệp chung (CAP) của mình thì sẽ vấp phải sự
phản kháng trong nội bộ. Do đó, EU quyết định sẽ cải tổ phần nào CAP từ
năm 1991 trước khi đi đến nhân nhượng cụ thể [24].
Mỹ và nhóm Cairns: ủng hộ đẩy mạnh tự do hoá trong nông nghiệp
và cho rằng các chính sách như hỗ trợ nội địa, trợ cấp xuất khẩu, hạn chế
nhập khẩu là những nguyên nhân chính bóp méo thương mại, gây ra sự mất
25