ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÚY HẢO
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VỀ NHÀ Ở CỦA VỢ
CHỒNG KHI LY HÔN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÚY HẢO
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VỀ NHÀ Ở CỦA VỢ
CHỒNG KHI LY HÔN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành
Mã số
: Luật dân sự và tố tụng dân sự
: 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
chấp nhà ở của vợ chồng khi ly hôn..................................................................... 43
1.3.1. Hệ thống pháp luật ....................................... Error! Bookmark not defined.
1.3.2. Năng lực của đội ngũ cán bộ ........................ Error! Bookmark not defined.
1.3.3. Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của đất nướcError!
Bookmark
not
defined.
1.3.4. Ý thức pháp luật ........................................... Error! Bookmark not defined.
1.3.5. Các yếu tố khác ............................................ Error! Bookmark not defined.
Chương 2 .............................................................................................................. 45
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NHÀ Ở
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN HIỆN NAY ....................................................... 45
2.1. Thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp nhà ở của vợ chồng khi
ly hôn .................................................................................................................... 45
2.1.1. Những kết quả đạt được ............................................................................. 45
2.1.2. Những khó khăn và hạn chế ....................................................................... 47
2.1.3. Nguyên nhân của những khó khăn hạn chế ............................................... 51
2.2. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hơn tại các
Tịa án nhân dân................................................................................................... 57
2.2.1. Đối với nhà ở lả tài sản chung của vợ chồng ............................................. 57
2.2.2. Đối với nhà ở là tài sản riêng của vợ, chồng.............................................. 61
2.2.3. Trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình ......................................... 66
2.2.4. Trường hợp nhà ở mà vợ chồng thuê, mượn ............................................. 69
2.2.5. Về tranh chấp liên quan đến tài sản chung của vợ chồng dùng thế chấp
khoản vay tại ngân hàng ....................................................................................... 72
phát huy truyền thống và những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam, Luật hơn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014 góp phần xây dựng, hồn
thiện và bảo vệ chế độ HN&GĐ tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách
ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, của
các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp
của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh
phúc, bền vững.
Đời sống HN&GĐ luôn là một vấn đề rất nhạy cảm và phức tạp. Hiện nay,
tình trạng ly hơn ngày càng có xu hướng tăng cao. Lĩnh vực hơn nhân, gia đình
đã được nhà nước ta quan tâm từ rất lâu thể hiện qua các văn bản Luật điều chỉnh
lĩnh vực này.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, số lượng vụ án ly hơn xảy ra rất nhiều và
có xu hướng tăng mạnh, bên cạnh đó có nhiều vụ án chưa được xử lý, giải quyết
thỏa đáng, chưa đúng các quy định của pháp luật về ly hôn theo quy định của
pháp luật HN&GĐ Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân của vấn đề này đó là:
chun mơn nghiệp vụ chưa đồng đều, một số ít cơng chức chưa đạt chuẩn về
trình độ, chủ yếu mới qua tập huấn đào tạo, chế độ chính sách cịn thấp. Việc
thực thi cơng vụ do đó vừa thiếu tính chun nghiệp, vừa chưa đáp ứng kịp thời
yêu cầu của người dân.
Trong các vụ án ly hơn, Tịa án thường giải quyết triệt để được ba vấn đề
gồm: tài sản, vấn đề quyền nuôi con và vấn đề hơn nhân. Trong đó, vấn đề tài
1
sản luôn là một nội dung rất phức tạp trong giải quyết các vụ án ly hôn. Trong
giải quyết các tranh chấp về tài sản thì vấn đề tranh chấp tài sản là nhà ở ln là
vấn đề nóng bỏng.
Khi ly hôn, giữa vợ chồng thường xảy ra các tranh chấp, đặc biệt là về tài
sản. Quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân, tồn
tại trong thời kỳ hôn nhân, không có tính đền bù ngang giá và khó xác định được
giảm sút một phần niềm tin vào vai trị bảo vệ cơng lý, thực hiện việc bảo vệ
người yếu thế trong xã hội của Tịa án.
Chính từ những nội dung nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Áp
dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly
hôn theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Áp dụng pháp luật (ADPL) của Tòa án nhân dân (TAND) trong giải quyết
án HN&GĐ nói chung và tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hôn đã được
giới khoa học pháp lý và nhất là những người trực tiếp làm công tác xét xử của
ngành Tịa án quan tâm nghiên cứu. Đã có một số cơng trình nghiên cứu, bài viết
đề cập đến một số khía cạnh về những vấn đề liên quan đến đề tài, trong đó phải
kể đến những cơng trình nghiên cứu sau:
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Chu Đức Thắng: “Áp dụng pháp luật trong
việc giải quyết các vụ án dân sự của TAND ở cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay”
(Bảo vệ tại Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2004).
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga: “Áp dụng
pháp luật trong giải quyết các vụ án hơn nhân và gia đình của TAND cấp huyện
ở tỉnh Nghệ An hiện nay” (Bảo vệ tại trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013).
Nghiên cứu trực tiếp về vấn đề giải quyết tranh chấp tài sản cũng như
tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hôn hiện nay có một số cơng trình
nghiên cứu sau: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình
3
Việt Nam (Nguyễn Văn Cừ, Luận án Tiến sĩ, 2005); Xác định chế độ tài sản của
vợ chồng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Nguyễn Hồng Hải, Luận văn Thạc
sĩ, 2002); Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 - Thành tựu, vướng mắc và
hướng hồn thiện (Trần Thị Thùy Liên, Luận văn Thạc sĩ, 2012); Chia tài sản
chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam - Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn
thiện (Nguyễn Thị Hạnh, Luận văn Thạc sĩ, 2012); Giải quyết tranh chấp về chia
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ADPL trong giải quyết
tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hôn ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, Luận văn sẽ phân tích các quy
định của pháp luật hiện hành về cơ sở lý luận và thực tiễn việc ADPL trong giải
quyết tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm
2014.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về việc giải quyết tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hôn
thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau. Trong khuôn khổ luận
văn thạc sĩ, phạm vi nghiên cứu luận văn thạc sĩ được giới hạn trong các văn bản
pháp luật về thế chấp phần vốn góp như: Bộ luật dân sự năm 2015, Luật kinh
doanh Bất động sản năm 2014, Luật nhà ở năm 2014, Luật HN&GĐ năm
2014…và một số văn bản có liên quan như: Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày
31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp
thi hành Luật HN&GĐ... Nội dung luận văn giới hạn trong vấn đề giải quyết
tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hôn được pháp luật Việt Nam quy định.
Thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi được đề ra ở trên, tác giả mong
muốn cung cấp cho người đọc một cách tổng thể các quy định của pháp luật hiện
5
hành về giải quyết tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hôn. Đồng thời, đưa
ra những giải pháp để tháo gỡ vướng mắc còn tồn tại.
Đề tài nghiên cứu thực tiễn ADPL trong giải quyết tranh chấp về nhà ở
của vợ chồng khi ly hơn tại Tịa án nhân dân (TAND) trên địa bàn cả nước từ
năm 2013 đến năm 2017. Đề tài không nghiên cứu vấn đề ADPL giải quyết tranh
chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hơn có yếu tố nước ngồi.
Chương 1: Khái quát về áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về
nhà ở của vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về nhà ở của
vợ chồng khi ly hôn tại các Tòa án nhân dân hiện nay
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
trong giải quyết tranh chấp về nhà ở của vợ chồng khi ly hôn trong giai đoạn
hiện nay
7
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
NHÀ Ở CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và đặc điểm của áp dụng pháp luật giải quyết tranh
chấp nhà ở của vợ chồng khi ly hôn
1.1.1. Khái niệm
Xây dựng khái niệm về ADPL giải quyết tranh chấp nhà ở của vợ chồng
khi ly hôn cần phải xác định được ba nội dung cơ bản của khái niệm gồm: khái
niệm áp dụng pháp luật, khái niệm ly hôn và khái niệm tranh chấp về nhà ở của
vợ chồng khi ly hôn.
Trước hết trong khái niệm về áp dụng pháp luật, đây là một khái niệm cơ
bản, đã có nhiều người nghiên cứu, do đó, trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ
rút lại một số nội dung về vấn đề áp dụng pháp luật.
Áp dụng pháp luật là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật cơ bản,
có tính chất đặc biệt. Sự phân định thành bốn hình thức thực hiện pháp luật cũng
chỉ mang tính tương đối, trên thực tế, giữa các hình thức thực hiện pháp luật ln
có mối quan hệ mật thiết. [47, tr.112]
Các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cần được thực hiện
trong cuộc sống thì chúng mới có ý nghĩa. Mục đích của việc ban hành văn bản
của Viện kiểm sát, xét xử của TAND.
ADPL thể hiện tính quyền lực nhà nước, mang tính tổ chức chặt chẽ theo
những thủ tục và trật tự đã được pháp luật quy định và là hoạt động mang tính
sáng tạo, mặc dù được thực hiện thơng qua cơ quan nhà nước, cụ thể là những
người có thẩm quyền. Vì vậy hoạt động ADPL có thể bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ
quan của người ADPL, nhưng hồn tồn phải theo ý chí của Nhà nước là quy
định của pháp luật. Tức là người có thẩm quyền phải lựa chọn những xử sự theo
yêu cầu luật định chứ khơng phải ý muốn của mình.
9
ADPL thể hiện sự khác biệt so với các hình thức thực hiện pháp luật khác
qua việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cá nhân hay nhóm cá nhân được
Nhà nước trao quyền luôn luôn chủ động trong việc ADPL, nghĩa là việc thực
hiện ADPL là nghĩa vụ của chủ thể có quyền.
Xem xét dưới góc độ chủ động tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ
quan, người có thẩm quyền thì ADPL có đặc điểm gần giống với các hình thức
thi hành pháp luật vì việc thực hiện pháp luật ở đây là trách nhiệm, nghĩa vụ của
các cơ quan, người có thẩm quyền. Do vậy ADPL nếu xem xét ở góc độ chủ thể
áp dụng ln là cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền với những quyền và nghĩa
vụ pháp lý cụ thể thì ADPL còn được xem như là việc thi hành pháp luật của các
cơ quan người có thẩm quyền trong việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước
nói chung [47, tr.165].
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật quan trọng, thơng
qua hình thức này ý chí của Nhà nước được trở thành hiện thực, Nhà nước thực
hiện được chức năng tổ chức, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, kết hợp
với trật tự xã hội, bảo đảm cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước,
các công chức nhà nước trong khn khổ pháp luật. Điều này có lý do bởi trong
nhiều trường hợp, các quy định của pháp luật khơng thể thực hiện nếu chỉ bằng
các hình thức tn theo pháp luật, thi hành pháp luật hoặc sử dụng pháp luật. Lý
theo quy định của pháp luật.
Áp dụng pháp luật vừa là hình thức thực hiện pháp luật của các cơ quan
nhà nước hoặc cơng chức có thẩm quyền vừa là cách thức Nhà nước tổ chức cho
các chủ thể thực hiện pháp luật. Vì vậy ADPL có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, ADPL là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực
nhà nước, cụ thể là: Áp dụng pháp luật về nguyên tắc chỉ do cơ quan nhà nước
hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành. Mỗi cơ quan nhà nước hay nhà
chức trách trong phạm vi thẩm quyền được tiến hành những hoạt động ADPL
11
nhất định, hay các cơ quan nhà nước khác nhau có thẩm quyền ADPL khác nhau
[14, tr.502]. Ví dụ: Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền truy tố bị can; TAND
có thẩm quyền xét xử.
Thứ hai, ADPL là hoạt động phải tuân theo thủ tục chặt chẽ do pháp
luật quy định. Do tính chất quan trọng và phức tạp của hoạt động ADPL, chủ thể
bị ADPL có thể được hưởng những lợi ích rất lớn hoặc có thể phải chịu những
hậu quả pháp lý rất nghiêm trọng. Nên trong các văn bản pháp luật luôn quy định
rõ cơ sở, điều kiện, trình tự thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá
trình ADPL [14, tr.503].
Thứ ba, hoạt động ADPL là hoạt động điều chỉnh có tính chất cá biệt,
cụ thể đối với các quan hệ xã hội nhất định. Đối tượng của hoạt động ADPL là
những quan hệ cần đến sự điều chỉnh cá biệt trên cơ sở những mệnh lệnh chung
trong quy phạm pháp luật. Bằng hoạt động ADPL những quy phạm pháp luật
nhất định được cá biệt hóa vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã
hội [14, tr.503].
Thứ tư, ADPL là hoạt động địi hỏi tính sáng tạo. Bởi ADPL là một
hình thức quan trọng đưa các quy phạm pháp luật trên giấy vào điều chỉnh
các quan hệ cụ thể của đời sống xã hội. Các tình huống trong thực tiễn thì rất
đa dạng, phong phú. Vì vậy, địi hỏi người có thẩm quyền ADPL phải nghiên
nghĩa vụ của hai bên sẽ được pháp luật giải quyết thỏa đáng, đảm bảo quyền lợi
cho các bên.
Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật hơn nhân và gia đình
nói riêng, việc đưa ra khái niệm đầy đủ về ly hơn có ý nghĩa quan trọng, phản
ánh quan điểm chung nhất của nhà nước ta về ly hôn, tạo cơ sở lý luận cho việc
xác định bản chất pháp lý của ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điểu chỉnh của
các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình về ly hơn và các vấn đề phát sinh
khác.
13
Điều 3 Khoản 14 Luât HN&GĐ Việt Nam năm 2014 giải thích: “Ly hơn
là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
của Tịa án” [32].
Nhìn chung, khái niệm ly hơn của Luật HN&GĐ năm 2014 có sự thay đổi
cơ bản so với khái niệm ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000. Tuy nhiên, về
bản chất, hai điều luật đó đều phản ánh được ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ
chồng, quan hệ hôn nhân, để giúp các bên trong quan hệ hơn nhân được giải
thốt khỏi tình trạng hơn nhân đổ vỡ. Khái niệm ly hôn trong Luật HN&GĐ năm
2014 mang tính chất chặt chẽ hơn khi đề cập tới nội dung: “bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật của Tịa án” [32]. Thơng qua đó để phản ánh tính quyền lực
của nhà nước, cũng như phản ánh bản chất của ly hơn nói riêng là mang tính chất
giai cấp.
Tịa án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét xử, có vai trị quan trọng
trong việc tn thủ, chấp hành các quy định của pháp luật. Phán quyết ly hơn của
Tịa án thể hiện dưới hình thức: bản án, quyết định. Nếu hai bên vợ chồng thuận
tình ly hôn, giải quyết với nhau được tất cả các nội dung sau khi ly hơn thì Tịa
án cơng nhận ly hơn và ra quyết định dưới hình thức quyết định cơng nhận thuận
tình ly hơn. Nếu vợ chồng mâu thuẫn, tranh chấp, một bên u cầu ly hơn thì
Tịa án xét xử và ra phán quyết ly hôn dưới dạng bản án.
là tài sản chung, quyền sử dụng đất của vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài
sản chung của vợ chồng. Khác với tài sản chung đơn thuần, tài sản chung vợ,
chồng có nguồn gốc tạo ra từ thời kỳ hơn nhân, có thể là do vợ, chồng lao động
tạo ra hoặc từ những hành vi pháp lý diễn ra trong thời kỳ hôn nhân (thỏa thuận
tài sản riêng trở thành tài sản chung, thừa kế, tặng cho…).
Khái niệm nhà ở được quy định tại Luật Nhà ở năm 2014 và được giải
thích tại khoản 1 Điều 3 như sau: Nhà ở là cơng trình xây dựng với mục đích để
ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân [32].
15
Khái niệm "nhà ở" quy định tại Luật Nhà ở bao gồm:
- Nhà ở riêng lẻ là nhà ở được xây dựng trên thửa đất ở riêng biệt thuộc
quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, bao gồm nhà biệt thự,
nhà ở liền kề và nhà ở độc lập.
- Nhà chung cư là nhà có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang chung, có phần
sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống cơng trình hạ tầng sử dụng chung
cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, bao gồm nhà chung cư được xây dựng với
mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp để
ở và kinh doanh.
- Nhà ở thương mại là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê, cho
thuê mua theo cơ chế thị trường.
- Nhà ở công vụ là nhà ở được dùng để cho các đối tượng thuộc diện được
ở nhà công vụ theo quy định của Luật này thuê trong thời gian đảm nhận chức
vụ, công tác.
- Nhà ở để phục vụ tái định cư là nhà ở để bố trí cho các hộ gia đình, cá
nhân thuộc diện được tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở, bị giải tỏa nhà ở
theo quy định của pháp luật.
- Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được
hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật này.
của gia đình (trong trường hợp vợ chồng sống chung cùng gia đình mà ly hơn).
- Tranh chấp về việc phân chia hiện vật trong nhà ở.
- Tranh chấp về việc thỏa thuận giá trị nhà ở.
- Tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với người thứ ba.
Khi vợ chồng tranh chấp về chia nhà ở thì họ khó thỏa thuận thống nhất
trong việc phân chia nhà ở nên cần có một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến
hành giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định của pháp
luật hiện hành thì việc giải quyết ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng
17
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Khi vợ, chồng có đơn gửi đến Tịa án
u cầu giải quyết ly hôn và cùng với việc giải quyết ly hôn họ u cầu giải
quyết về tài sản thì Tịa án sẽ tiến hành thụ lý vụ án, thực hiện các thủ tục, quy
trình tố tụng đã được pháp luật quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự như
lấy lời khai, thu thập chứng cứ, hòa giải, định giá, mở phiên tịa (nếu hịa giải
khơng thành)...Các bước tố tụng này giúp Tịa án có thể xem xét, đánh giá chứng
cứ, cân nhắc kỹ, quyết định về tính hợp pháp, hợp lý trong lời khai, chứng cứ do
các bên đưa ra. Nếu đủ cơ sở pháp lý xác định tài sản tranh chấp là tài sản chung
của vợ chồng thì Tịa án căn cứ vào quy định của Luật HN&GĐ hiện hành để
giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng.
Như vậy, ADPL về giải quyết tranh chấp nhà ở của vợ chồng khi ly hơn là
hình thức thực hiện pháp luật đặc thù, do Tòa án nhân dân tiến hành theo thủ tục
luật định được tính từ giai đoạn đương sự có đơn khởi kiện, Tịa án tiếp nhận và
thụ lý đơn khởi kiện của đương sự cho đến các bước tố tụng khác như hòa giải,
thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ và đưa ra phán quyết cuối cùng dựa trên
cơ sở các quy định của pháp luật về việc xác định tài sản chung và các nguyên
tắc chia tài sản chung khi ly hôn của vợ chồng nhằm đảm bảo sự cơng bằng, hợp
tình, hợp lý cho vợ, chồng khi họ không thỏa thuận được việc phân chia tài sản
chung là nhà ở.