Luận văn thạc sĩ đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã đoài khôn huyện quảng uyên tỉnh cao bằng - Pdf 36

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HÀ THỊ LINH

Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ ĐOÀI KHÔN - HUYỆN QUẢNG UYÊN - TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy : Quản lý

Chuyên ngành

Đất đai : Quản lý Tài

Khoa Khóa học

nguyên : 2011 - 2015


HÀ THỊ LINH

Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ ĐOÀI KHÔN - HUYỆN QUẢNG UYÊN - TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thái Nguyên và Ban Chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên và các thầy cô giáo bộ môn, đặc
biệt là thầy giáo ThS. Hà Anh Tuấn người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận
này.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng khóa luận của em không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến chỉ bảo, đóng góp của các thầy cô giáo, bạn
bè để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên

Hà Thị Linh
DANH MỤC CÁC BẢNG


4

Trang


i

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang


6
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Chữ viêt tăt


: Thực hiện

THCS

: Trung học cơ sở

TB

: Trung bình

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
Trang

4.1.

Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Đoài Khôn, huyện Quảng Uyên,

5.1.
TÀI LIỆU THAM KHẢO


7

Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1.

xã thuần nông với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Vì vậy, việc định hướng cho người dân
trong xã khai thác, sử dụng hợp lý và có hiệu quả vốn đất nông nghiệp hiện có đang là vấn
đề được các cấp chính quyền quan tâm nghiên cứu để đưa ra các giải pháp chuyển đổi cơ
cấu cây trồng một cách hợp lý nhằm đưa ra các giải pháp sử dụng đất nông nghiệp một cách
tốt nhất, một cách hiệu quả nhất.
Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đoài Khôn - huyện Quảng Uyên - tỉnh Cao
Bằng”.

1.2.

Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1.

Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu các loại hình sử dụng đất trên địa bàn xã lựa chọn loại hình

sử dụng đất đạt hiệu quả cao và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Đoài Khôn, huyện Quảng
Uyên, tỉnh Cao Bằng.

1.2.2.
-

Mục tiêu cụ thể

Đánh giá hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của xã Đoài Khôn - huyện Quảng
Uyên - tỉnh Cao Bằng.



1.4.
-

Ý nghĩa của đề tài

Củng cố được kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến thức thực tế cho
sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở.

-

Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề
tài.
Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng đất của sản xuất nông nghiệp từ đó đề xuất
được những giải pháp sử dụng đất đạt hiệu quả cao.


Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1.
2.1.1.
2.1.1.1.

Cơ sở khoa học
Khái niệm về đất và đất nông nghiệp
Khái niệm đất
Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó là đá và

khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển. Đất là lớp mặt tươi xốp của lục


theo chiều thẳng đứng bao gồm : Lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt
nước, mặt nước ngầm và khoáng sản trong long đất theo chiều nằm ngang - trên bề mặt
đất, giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa hết sức to lớn đối với hoạt động sản xuất và của
sống của xã hội loài người gắn liền với sự phát triển của đất " [4].

2.1.1.2.

Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên

cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích
bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp,
đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [11].

2.1.1.3.

Khái niệm về loại hình sử dụng đất nông nghiệp (Land Use TypeLUT)
Loại hình sử dụng đất: tùy theo mức độ và tên gọi khác nhau nhưng trong nông

nghiệp và loại hình sử dụng đất được khái quát là loại hình sử dụng đất để sản xuất một
hoặc một nhóm cây trồng, vật nuôi một hay nhiều năm. Đơn vị đất đai là nền, còn loại hình
sử dụng đất là đối tượng để đánh giá, phân hạng mức độ thích hợp của đất đai.
Trên thế giới, lý thuyết về loại hình sử dụng đất đã được FAO định nghĩa như sau:
“Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thúc trạng sử dụng đất của một vùng đất
với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật
được xác định. Có thể hiểu theo nghĩa rộng là các loại hình sử dụng đất chính (Major type
of land use) hoặc được mô tả chi tiết hơn với khái niệm là loại hình sử dụng đất (Land Use
Type - LUT)” [12].
Loại hình sử dụng đất chính: là sự phân nhỏ của sự dụng đất trong khu vực hoặc

2.2.1.
2.21.1.

Sử dụng đất và quan điểm sử dụng đất bền vững
Sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất
Khái niệm sử dụng đất
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất

trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường. Căn cứ vào quy luật
phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ổn định và bền vững về mặt sinh
thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý nhất là tài nguyên đất
đai phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu quả về kinh tế xã hội và môi trường
sinh thái một cách cao nhất. Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân
loại. Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu sản xuất và
đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai. Với vai trò là nhân tố của sức sản


xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đai được thể hiện ở các khía cạnh sau:

-

Sử dụng hợp lý về không gian hình thành hiệu quả kinh tế không gian về sử dụng đất.

-

Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai dựa trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ cấu
kinh tế sử dụng đất.
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử
dụng đất.


+ Nguồn nước và chế độ nước: là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện vận
chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp sinh vật sinh trưởng và phát triển.
+ Đặc điểm lý hóa của đất: trong sản xuất nông lâm nghiệp thành phần cơ giới, kết
cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ, vô cơ trong đất. quyết định đến chất lượng và khả năng
sử dụng đất. Quỹ đất đai nhiều hay ít tốt hay xấu cũng ảnh trực tiếp đến hiệu quả sử dụng
đất.
Tóm lại: mỗi vùng địa lý khác nhau có sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ,
nguồn nuớc và các điều kiện tự nhiên khác. Các yếu tố này ảnh huởng rất lớn đến khả năng
sản xuất và hiệu quả sử dụng đất. Vì vậy cần nghiên cứu kĩ những đặc điểm này để tuân
theo các quy luật của tự nhiên, tận dụng và phát huy các lợi thế, khắc phục những hạn chế
nhằm đạt đuợc hiệu quả cao nhất trong sản xuất về cả kinh tế, xã hội và môi truờng.
*Yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội
Bao gồm các yếu tố nhu: Chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý,
trình độ phát triển của kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bổ sản xuất, các điều kiện
về nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, sự phát triển của khoa học công nghệ,
trình độ quản lý... các nhân tố này thuờng xếp sau các nhân tố về điều kiện tự nhiên nhung
mang ý nghĩa chủ đạo, quyết định đối với việc sử dụng đất đai. Thực vậy, phuơng huớng sử
dụng đất đuợc quyết định bởi yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất
định. Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng về phuơng thức
sử dụng đất, ảnh huởng của điều kiện tự nhiên tới việc sử dụng đất đuợc đánh giá bằng hiệu
quả sử dụng đất. Thực trạng sử dụng đất liên quan đến lợi ích kinh tế của nguời sở hữu, sử
dụng và kinh doanh đất, tuy nhiên nếu có chính sách uu đãi sẽ tạo điều kiện cải tạo và hạn
chế sử dụng đất theo kiểu bóc lột đất đai. Mặt khác, sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối
đa cũng dẫn đến tình trạng đất đai không những bị sử dụng không hợp lý mà còn bị hủy
hoại.
Nhu vậy, các nhân tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội cũng tạo ra


nhiều tổ hợp ảnh huởng đến việc sử dụng đất đai. Tuy nhiên mỗi yêu tố giữ vị trí và có tác
động khác nhau. Vì vậy, cần dựa vào yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong lĩnh vực sử dụng

đề đảm bảo lương thực cho sự gia tăng dân số đã trở thành sức ép mạnh mẽ lên đất đai.
Diện tích đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, con người đã phải


mở mang thêm diện tích đất nông nghiệp trên những vùng đất không thích hợp cho sản
xuất, hậu quả là quá trình thoái hoá đất diễn ra một cách khá nghiêm trọng.
Tác động của con người đã làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng bị suy giảm và
dẫn đến thoái hoá đất. Việc phục hồi độ phì vốn có của đất là không hề dễ dàng và nếu
muốn phục hồi lại thì cần phải chi phí rất lớn. Đất có những chức năng chính là: duy trì
vòng tuần hoàn sinh hoá học và địa hoá học, phân phối nước, tích trữ và phân phối vật chất,
mang tính đệm và phân phối năng lượng. Các chức năng trên của đất là những trợ giúp cần
thiết cho các hệ sinh thái, sử dụng đất đai một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong
muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của con người. Vì vậy tìm kiếm những biện pháp
sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế quan
tâm, và thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (Sustainable land use) đã trở nên thông dụng trên
thế giới như hiện nay.
Nông nghiệp bền vững không có nghĩa là khước từ những kinh nghiệm truyền thống
mà phải phối hợp, lồng ghép những sáng kiến mới từ các nhà khoa học, từ nông dân hoặc cả
hai. Đối với những người nông dân, bền vững là việc sử dụng những công nghệ và thiết bị
mới vừa được phát kiến, những mô hình canh tác tổng hợp để giảm giá thành đầu vào; đó là
những công nghệ về chăn nuôi động vật, những kiến thức về sinh thái để quản lý sâu hại và
thiên địch.
Để nông nghiệp bền vững cần có 3 điều kiện đó là: công nghệ bảo tồn tài nguyên,
những tổ chức từ bên ngoài và những tổ chức về các nhóm địa phương. Các nhà khoa học
cho rằng xu thế phát triển nông nghiệp bền vững được các nước phát triển khởi xướng và
hiện nay đã trở thành đối tượng mà nhiều nước nghiên cứu theo hướng kế thừa, chắt lọc cái
tinh tuý của nền nông nghiệp chứ không chạy theo cái hiện đại để bác bỏ những cái thuộc
về truyền thống. Trong nông nghiệp bền vững việc chọn cây gì, con gì trong một hệ sinh
thái tương ứng không thể áp đặt theo ý muốn chủ quan mà phải điều tra nghiên cứu để hiểu
biết tự nhiên.

-

Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin cho nông dân.

-

Những nguyên tắc chính được coi là nền tảng trong sử dụng đất đai bền vững là:
+ Duy trì, nâng cao sản lượng (Hiệu quả sản xuất).
+ Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất (An toàn).
+ Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất, nước.
+ Có hiệu quả lâu dài.
+ Đuợc xã hội chấp nhận.
Thực tế nếu diễn ra đồng bộ với những mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt
đuợc, nếu chỉ đạt đuợc một hay vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững
chỉ mang tính bộ phận.


Vận dụng các nguyên tắc đã nêu ở trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất đuợc
coi là bền vững phải đạt đuợc 3 yêu cầu:

-

Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho năng suất cao, chất luợng tốt, đuợc thị truờng chấp
nhận. Hệ thống sử dụng đất phải có mức sản xuất sinh học cao phù hợp với điều kiện đất
đai của vùng, nếu không sẽ không canhij tranh đuợc với cơ chế thị truờng. Về chất luợng
sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tại địa phuơng, xuất khẩu tùy theo mục tiêu của từng vùng.
Tổng giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích là thuớc đo quan trọng nhất đối với hiệu quả
kinh tế.

-

việc phát triển kinh tế - xã hội, công nghệ, khoa học và kỹ thuật thì chức năng của đất ngày
càng mở rộng và có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người. Tổng diện tích bề
mặt của toàn thế giới là 510 triệu km2 trong đó đại dương chiếm 361 triệu km2(71%), còn
lại là diện tích lục địa chỉ chiếm 149 triệu km2 (29%). Bắc bán cầu có diện tích lớn hơn
nhiều so với Nam bán cầu. Toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới
là 3.256 triệu ha, chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền. Diện tích đất nông nghiệp phân
bố không đồng đều: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Á chiếm 26%, Châu âu chiếm 13%, Châu
phi chiếm 6%, bình quân đất nông nghiệp trên thế giới là 12.000 m2. Đất trồng trọt trên thế
giới mới đạt 1,5 tỷ chiếm 10.8% tổng diện tích đất đai, diện tích đất đang canh tác trên thế
giới chỉ chiếm 10% tổng diện tích đất tự nhiên (khoảng 1.500 triệu ha), được đánh giá là:

> Đất có năng suất cao: 14%
> Đất có năng suất trung bình: 28%
> Đất có năng suất thấp: 58%
Nguồn tài nguyên đất trên thế giới hàng năm bị giảm đáng kể, đặc biệt là đất nông
nghiệp mất đi do chuyển sang mục đích sử dụng khác. Mặt khác dân số ngày càng tăng,
theo ước tính mỗi năm dân số thế giới tăng từ 80 - 85 triệu người. Như vậy, với mức tăng
này mỗi người cần phải có 0,2 - 0,4 ha đất nông nghiệp mới đủ lương thực, thực phẩm.
Đứng trước những khó khăn rất lớn đó thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất của đất nông
nghiệp là hết sức cần thiết [4].
2.2.3.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
* Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Tính đến ngày 01/01/2013 Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.097,2 nghìn
ha, trong đó đất nông nghiệp là 26.371,5 nghìn ha chiếm 79,68% tổng diện tích đất tự
nhiên. Diện tích đất bình quân đầu người ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới. Ngày
nay với áp lực về dân số và tốc độ đô thị hóa diện tích đất đai nước ta ngày càng giảm, đặc
biệt là diện tích đất nông nghiệp. Tính theo bình quân đầu người thì diện tích đất tự nhiên


giảm 26,7%, đất nông nghiệp giảm 21,5%.

26.371,5

100
79,68

1.1

Đất sản xuất nông nghiệp

10.210,8

30,85

1.1.1

Đất trồng cây hàng năm

6.422,8

19,41

1.1.1.1

Đất trồng lúa

4.097,1

12,38

1.1.1.2

1.2.1

Đất rừng sản xuất

7.391,8

22,33

1.2.2

Đất rừng phòng hộ

5.851,8

17,68

1.2.3

Đất rừng đặc dụng

6,53

1.3

Đất nuôi trồng thủy sản

2.162,2
710,0

1.4


2.2
2.3

Đất chuyên dung

1.844,4

5,57

Đất tôn giáo, tín ngưỡng

15,1

0,05

2.4

Đất nghĩa trang, nghĩa địa

101,5

0,31

2.5

Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng

1.076,9


trồng lúa có ý nghĩa quan trọng đối với tình hình phát triển của nước ta hiện nay.
Bảng 2.2: Phân bố diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các vùng trên
cả nước 2013
Diện tích

Cơ cấu

1

Đồng bằng sông Hồng

(ha)
2.105,9

(%)
6.36

2

Trung du và miền núi phía Bắc

9.527,5

28,79

3

Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

9.583,4


Tông
\­­­­­ĩ­­­­­­­­­­­­­7­­­­­­­
(Nguồn: Tổng cục thông kê)

2.3.
2.3.1.

33097,
2

100

Hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất
Khái quát hiệu quả sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Khi nhận thức của con người còn hạn

chế, người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả là một. Sau này khi nhận thức của con
người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật
nuôi là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới.
Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các
nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của cả nhà nông - những người trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp.
Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở


lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ
mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, là một trong những điều kiên quyết để
phát triển nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững.

chi phí các nguồn lực trong quá trình sản xuất. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đều tất yếu
của sản xuất xã hội, yêu cầu của công tác quản lý kinh tế buộc phải nâng cao chất lượng các
hoạt động kinh tế để xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế.


Hiệu quả kinh tế phải đạt được 3 vấn đề sau:

-

Một là: hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan diểm lý thuyết hệ thống.

-

Hai là: hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh chất lượng của các hoạt động kinh tế
bằng việc tăng cường nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích con người.

-

Ba là: mọi hoạt động sản xuất của con người đều phải tuân theo quy luật tiêt kiệm thời gian
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được
và lượng chi phí bỏ ra trong sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là phần giá trị thu được
của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối
tương quan cần xét cả phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ
chặt chẽ giữa hai đại lượng đó.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng bản chất của hiệu quả kinh tế sử dụng đất
là: với một diện tích nhất định sản suất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với
một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
vật chất xã hội [3].

* Hiệu quả xã hội

thoái hóa. Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, con người phải thâm canh, tăng
vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp. Để nắm vững số lượng
và chất lượng đất đai cần phải điều tra thành lập bản đồ đất, đánh giá phân hạng đất, điều
tra hiện trạng, quy hoạch sử dụng đất hợp lý là điều quan trọng mà quốc gia đặc biệt quan
tâm nhằm ngăn ngừa những suy thoái tài nguyên đất đai do thiếu sự hiểu biết của con
người, đồng thời nhằm quản lý sử dụng đất đai tốt. Phát triển nông nghiệp bền vững có tính
chất quyết định trong sự phát triển chung của toàn xã hội.

2.3.3.

Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất bền vững
Tiêu chuẩn đánh giá việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông - lâm -

nghiệp là mức độ tăng thêm các kết quả sản xuất trong điều kiện nguồn lực hiện có hoặc
mức độ tiết kiệm về chi phí các nguồn lực khi sản xuất ra một khối lượng nông - lâm nhất
định.
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất là mức độ đạt được các mục kinh tế, xã
hội và môi trường. “Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông - lâm
nghiệp, sử dụng đất phải tuân theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 mục tiêu
chung là bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường”.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status