LUẬN văn THẠC sĩ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT hợp ĐỒNG đáp ỨNG yêu cầu của nền KINH tế THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ lâu, hợp đồng đã trở thành một công cụ pháp lý để xác lập quan hệ
của các chủ thể phát sinh từ các giao lưu dân sự, kinh tế. Chúng ta đều biết
rằng, nhu cầu của các tổ chức và cá nhân trong đời sống xã hội vô cùng đa
dạng và phong phú. Để đáp ứng nhu cầu đó, con người phải quan hệ với nhau
thông qua các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, vật phẩm. Công việc của
các bên được thực hiện thông qua những cam kết đó là hợp đồng. Như vậy,
hợp đồng thể hiện trong hầu hết các quan hệ mua bán của các bên trong nhiều
lĩnh vực như dân sự, kinh tế, nghiên cứu khoa học... Chính vì vậy, việc áp dụng
những giao dịch, cũng như các nhu cầu về vận dụng pháp luật của nhà nước để
đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia ký kết hợp đồng, thực
hiện hợp đồng cũng như giải quyết những tranh chấp liên quan đến hợp đồng là
hết sức cần thiết. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, khi mà các quan hệ dân
sự kinh tế càng trở nên phức tạp và trong điều kiện nước ta đã trở thành thành
viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì yêu cầu này càng
trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Điều này đã được minh chứng trong chính
các quy định của nhiều văn bản pháp luật, như Bộ luật Dân sự, Luật Thương
mại, Bộ luật Hàng hải Việt Nam... Riêng Bộ luật Dân sự bao gồm 215 điều quy
định về hợp đồng dân sự trên tổng số 777 điều luật, chúng ta có thể thấy được
tính phức tạp, đa dạng cũng như mức độ quan trọng của quan hệ hợp đồng.
Ngoài ra, Bộ luật Dân sự còn chứa đựng rất nhiều quy định có liên quan đến
hợp đồng.
Tuy hợp đồng là sự thỏa thuận tự nguyện của các bên nhưng để sự tự
nguyện đó không không ảnh hưởng tới lợi ích của người khác và lợi ích của
cộng đồng thì cần thiết có sự điều chỉnh của pháp luật.



hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.


5

8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.


6

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY

1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI, VAI TRÒ CỦA HỢP ĐỒNG

1.1.1. Khái niệm và những đặc điểm của hợp đồng
1.1.1.1. Khái niệm hợp đồng
Cơ sở cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của hợp đồng đã hình thành
và phát triển hàng nghìn năm nay. Nó tồn tại và phát triển trong xã hội
phương Tây, xã hội phương Đông hay cả chính xã hội như Bắc Mỹ, châu Úc.
Như vậy, để tìm hiểu thể nào là hợp đồng, cơ sở cho sự hình thành hợp đồng
cũng như sự ra đời của pháp luật về hợp đồng, trước hết ta khái quát tóm lược
những quan điểm về hợp đồng của các nước cũng như các khu vực trên thế
giới.
Khởi nguồn từ triết lý pháp luật tự nhiên, dựa trên các giá trị pháp luật
hợp đồng của La Mã và các học thuyết về quyền cá nhân, hợp đồng và pháp
luật hợp đồng phương Tây đã có hơn hai nghìn năm để phát triển các học

thiệt hại (theo cổ luật Việt Nam lược khảo) được thể hiện ẩn dưới các quy
định hình luật. Pháp luật thời Lê đề cao sự tự nguyện giao kết và thực hiện
khế ước, quy định thể thức giao kết bằng văn bản, cách lập văn bản và làm
cứng các khế ước, cho đến việc định hình phạt và đền bù cho vi phạm khế
ước.
Từ những quan điểm về hợp đồng như đã nêu trên, ta thấy chủ thể của
hợp đồng chính là những cá nhân hoặc các tổ chức. Để tồn tại và phát triển,
mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia vào nhiều mối quan hệ xã
hội khác nhau. Trong các quan hệ đó, tồn tại mối quan hệ khi các bên thiết lập
với nhau để chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu
sinh hoạt, tiêu dùng và kinh doanh đóng một vai trò quan trọng như là một tất


8

yếu đối với mọi đời sống xã hội. Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật
chất, tài sản đó không thể tự chúng tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ.
Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chí của các
chủ thể. Mác nói rằng: "Tự chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao
đổi với nhau được. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những
người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong
các vật đó".
Mặt khác, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được
bên kia chấp nhận cũng không thể hình thành mối quan hệ để qua đó thực
hiện việc chuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được. Do
đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên thì quan hệ
trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành. Quan hệ đó được gọi là hợp
đồng. Như vậy, cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để hình thành một hợp đồng
là việc thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên tham gia hợp đồng. Tuy
nhiên, hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật khi ý chí của các bên phù hợp

thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó. Đối với các hợp đồng được ký kết
nhằm mục đích kinh doanh ngoài có những dấu hiệu chung của hợp đồng thì
hợp đồng doanh có sự khác biệt thêm. Hợp đồng kinh doanh được hiểu là sự
thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực
hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích tìm kiếm lợi nhuận
với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.
Điều một Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 định nghĩa: Hợp
đồng kinh tế là những hợp đồng được ký kết giữa các bên nhằm sản xuất, mua
bán, lưu thông hàng hóa, trao đổi dịch vụ, nghiên cứu, liên doanh liên kết giữa
các bên nhằm sản xuất, mua bán, lưu thông hàng hóa, trao đổi, dịch vụ,
nghiên cứu, liên doanh, liên kết sản xuất nhằm bất kỳ một mục đích kinh
doanh khác để thực hiện tốt kế hoạch của bản thân các bên ký kết và thu lợi
nhuận. Hoạt động có thể bao gồm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần


10

kinh tế, đó có thể là công ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp
liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp ký
kết hợp đồng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Các
hoạt động kinh doanh hết sức đa dạng: đầu tư vốn, sản xuất, mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ trên thương trường. Hợp đồng được ký kết trong nhiều lĩnh
vực kinh doanh khác nhau như mua bán hàng hóa, vận chuyển, xây dựng, bảo
hiểm, tín dụng, đại lý, ủy thác, liên kết kinh doanh… Hình thức của hợp đồng
có thể bằng lời nói, văn bản hoặc bằng các hành vi cụ thể.
Tóm lại, từ những nội dung cơ bản nhất của hợp đồng nói chung, hợp
đồng dân sự, hợp đồng trong hoạt động kinh doanh và cả quan điểm nước
ngoài cũng như quan điểm của các tổ chức thế giới cho thấy: Hợp đồng là

phát từ lợi ích của họ. Do vậy, hợp đồng được xem là sản phẩm của ý chí
được hình thành từ lợi ích của các bên tham gia giao kết hợp đồng. Tuy nhiên,
trong điều kiện đa dạng và phức tạp của các mối quan hệ ngày nay khi mà con
người sống trong sự phụ thuộc lẫn nhau, khi mà lợi ích kinh tế của mọi người
là không bằng nhau thì chính ích lợi của các bên khi tham gia giao kết hợp
đồng vẫn bị giới hạn và bắt buộc những lợi ích đó phải phù hợp với lợi ích
chung của xã hội.
Tính độc lập và sự phụ thuộc của hai nhóm lợi ích đó (lợi ích của các
bên tham gia hợp đồng và lợi ích của xã hội) đã làm nảy sinh nghĩa vụ trong
hợp đồng. Như vậy, tự do ý chí, tự do thoả thuận và tự do giao kết hợp đồng
cũng bị giới hạn phần nào, sự giới hạn đó chính là sự can thiệp của pháp luật
thông qua việc nhà nước ban hành những điều bắt buộc cho các bên tham gia
quan hệ hợp đồng (ví dụ: điều kiện chủ thể,…).
Tóm lại, trên cơ sở tự do ý chí của các bên khi thỏa thuận và ký kết
hợp đồng, sự can thiệp của pháp luật về vấn đề hợp đồng sẽ bảo đảm cho các
quan hệ hợp đồng được phát triển ổn định và đúng định hướng đã dự định.


12

Thứ ba, các bên bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Cơ quan nhà nước đã được ấn định thì người cán bộ công chức phải
có nghĩa vụ hoàn thành, việc hoàn thành nghĩa vụ đó như một yêu cầu bắt
buộc. Trong một cơ quan, tổ chức, nhiệm vụ của cán bộ cấp trên giao cho cán
bộ cấp dưới phải phục tùng chịu sự phân công và chỉ đạo của cán bộ cấp trên.
Trong mối quan hệ này cơ sở hình thành quyền và nghĩa vụ bắt nguồn từ
quyết định đơn phương của thủ trưởng cấp trên, của cơ quan nhà nước và nó
mang tính mệnh lệnh hành chính. Khác với tính bất bình đẳng về quyền và
nghĩa vụ trong các quan hệ trên, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng luôn ngang bằng và bình đẳng nhau. Trong hợp đồng, quyền lợi của bên

Khi có tranh chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng
cứ pháp lý chắc chắn hơn so với hình thức hợp đồng được giao kết bằng lời nói.
Căn cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của
mình đối với bên kia. Vì vậy, đối với những hợp đồng có giá trị lớn, tính chất
phức tạp,các bên chưa thực sự tin tưởng nhau thì các bên thường chọn hình thức
này. Thông thường, hợp đồng được lập thành nhiều bản và mỗi bên giữ một bản,
coi như đã có trong tay một bằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình.
Trong những hợp đồng bằng văn bản có thể chia thành hợp đồng ký
bằng văn bản thông thường và hợp đồng ký bằng văn bản có công chứng,
chứng thực hợp lệ.
+ Hợp đồng có chứng nhận, chứng thực
Đối với những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và
đối tượng của nó là những tài sản mà Nhà nước cần quản lý, kiểm soát khi
chúng được dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác, thì các bên phải
lập thành văn bản có công chứng, chứng thực. Hợp đồng được lập ra theo hình
thức này có giá trị chứng cứ cao nhất. Vì vậy, đối với những hợp đồng mà
pháp luật không yêu cầu phải lập theo hình thức này nhưng để quyền lợi của


14

mình được đảm bảo, các bên vẫn có thể chọn hình thức này để giao kết hợp
đồng.
+ Hợp đồng bằng lời nói
Thông qua hình thức này, các bên giao kết hợp đồng chỉ cần thỏa thuận
miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện
những hành vi nhất định đối với nhau. Hình thức này thường được áp dụng trong
những trường hợp các bên thân quen hoặc đã có độ tin tưởng lẫn nhau hoặc đối
với những hợp đồng mà ngay sau khi giao kết sẽ được thực hiện và chấm dứt.
- Căn cứ vào sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ các bên, có thể chia

"Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc và hợp đồng
chính" (khoản 4 Điều 406 Bộ luật Dân sự 2005). Trước hết các hợp đồng phụ
muốn có hiệu lực phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện luật định về chủ thể, về
nội dung, về hình thức v.v... Mặt khác, dù rằng đã tuân thủ đầy đủ các điều
kiện nói trên nhưng hợp đồng vẫn không có hiệu lực nếu hợp đồng chính (hợp
đồng mà nó phụ thuộc) bị coi là không có hiệu lực.
- Căn cứ theo tính chất có đi có lại về lợi ích của các chủ thể, có thể
chia thành:
+ Hợp đồng có đền bù
Là loại hợp đồng mà trong đó mỗi bên chủ thể khi đã thực hiện cho
bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng. Chúng ta
biết rằng, đặc điểm cơ bản của quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự là sự trao
đổi có đền bù. Tuy nhiên, không nhất thiết cứ bên này hưởng lợi ích vật chất
thì bên kia hưởng lợi ích vật chất mới được coi là "đền bù tương ứng". Do
nhu cầu đa dạng, các bên có thể thỏa thuận để giao kết những hợp đồng mà
trong đó một bên hưởng lợi ích vật chất nhưng bên kia lại hưởng một lợi ích
thuộc về tinh thần. Cần xác định rằng các hợp đồng mang tính chất đền bù đa
phần là hợp đồng song vụ cũng như đa phần các hợp đồng song vụ đều mang


16

tính đền bù. Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều hợp đồng dù mang tính chất
đền bù nhưng lại là hợp đồng đơn vụ như hợp đồng cho vay có lãi mà hiệu lực
của nó được xác định tại thời điểm bên vay đã nhận tiền. Mặt khác, có nhiều
hợp đồng song vụ nhưng không mang tính chất đền bù như hợp đồng gửi giữ
không có thù lao.
+ Hợp đồng không có đền bù
Hợp đồng không đền bù là những hợp đồng mà trong đó một bên nhận
được từ bên kia một lợi ích nhưng không phải giao lại một lợi ích nào. Bên

tượng của hợp đồng.
- Căn cứ vào tính chất của nội dung của hợp đồng, người ta có thể hợp
đồng thành các loại hợp đồng như: hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại,
hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, hợp đồng lao động, hợp đồng khoa học
công nghệ …
- Ngoài các cách phân loại hợp đồng như trên, pháp luật của nhiều
nước còn có nhiều cách phân loại hợp đồng khác
Tóm lại, việc phân chia hợp đồng dân sự thành các loại nói trên vừa
dựa vào sự quy định của pháp luật, vừa dựa trên phương diện lý luận, vừa dựa
trên phương diện thực tiễn. Qua đó, nhằm xác định được những đặc điểm
chung và riêng của từng nhóm hợp đồng, góp phần nâng cao hiệu quả trong
quá trình điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
1.1.3. Vai trò của hợp đồng
Xuất phát từ bản chất của hợp đồng cũng như các hình thức khác nhau
của hợp đồng đã được pháp luật ghi nhận và đã có ý nghĩa đối với đời sống xã
hội. Ta thấy hợp đồng có một số vai trò nhất định như sau:
- Hợp đồng là cơ sở quan trọng để xây dựng và thực hiện kế hoạch của
các bên. Có thể khẳng định rằng trong tất cả mọi vấn đề nếu không xây dựng


18

kế hoạch cụ thể và chi tiết thì mọi công việc tiến hành đều rơi vào tình trạng
không có phương hướng và để bảo đảm việc xây dựng kế hoạch được bảo
đảm thì một trong những cơ sở quan trọng bắt nguồn của vấn đề chính là hợp
đồng. Hợp đồng là một phương tiện để kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của
các bên ký kết. Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên, cơ
sở để cho sự phân minh cũng như khẳng định tính đúng sai không thể có nội
dung nào khác quan trọng hơn đó chính là hợp đồng. Bên cạnh những nội
dung chính của hợp đồng như: tên của hợp đồng, tên chủ thể, tên mặt hàng,

một công cụ quản lý mới thì chính các tổ chức với tổ chức, tổ chức với cá
nhân thành viên có liên quan, cá nhân với cá nhân, hợp đồng cũng là cơ sở tạo
sự ràng buộc lẫn nhau và trở thành công cụ quản lý hiệu quả.
1.2. KHÁI NIỆM, NGUYÊN TẮC, CẤU TRÚC CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG

1.2.1. Khái niệm pháp luật về hợp đồng
Từ khái niệm về hợp đồng, các đặc điểm của hợp đồng cũng như vai
trò của hợp đồng đã trình bày ở phần một của chương một cho ta thấy các
quan hệ về hợp đồng tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau: từ lĩnh vực kinh
doanh, linh vực dân sự, lao động, tín dụng và khoa học công nghệ. Điều này
cho thấy quan hệ hợp đồng có phạm vi rất rộng. Quan hệ hợp đồng có thể chỉ
là các quan hệ rất đơn giản như việc mua bán hàng hoá đơn gian của đời sống
dân sự hàng ngày(trong những trường hợp này, các hợp đồng thường chỉ là
hợp đồng bằng lời nói) tới các hợp đồng có nội dung rất phức tạp bao gồm
nhiều chủ thể tham gia, nội dung lớn với nhiều bộ phận khác nhau đẻ thực
hiện các nội dung công việc đã thoả thuận trong hợp đồng (trong trường hợp
này, các hợp đồng thường là hợp đồng thương mại, hợp đồng xây dựng BTO,
BOT, BT, hay các hợp đồng mua bán hàng hoá xuất nhập khẩu). Để bảo đảm
các quan hệ hợp được phát triển đúng mục đích và yêu cầu của nhà nước cũng
như quan hệ hợp đồng được ký kết và thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng và
tự nguyện của các bên, bảo đảm lợi ích cũng như nghĩa vụ cho các bên tham


20

gia ký kết thì quan hệ hợp đồng cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật.
Do tính chất đa dạng của hợp đồng là tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau
của đời sống xã hội chính dẫn tới các quy định pháp luật do nhà nước ban
hành để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng cũng tồn tại trong nhiều ngành luật
khác nhau, trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Bộ luật Dân

hợp đồng trong kinh doanh, hợp đồng thương mại khác với hợp đồng lao
động…
Tuy nhiên, để cho hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể được thực
hiện có hiệu quả và bảo đảm được sự quản lý của nhà nước thì nhà nước ban
hành nhiều quy phạm pháp luật để áp dụng trong việc cụ thể hóa các vấn đề
của hợp đồng. Như vậy, pháp luật về hợp đồng bao gồm một hệ thống các văn
bản pháp luật khác nhau, trong mỗi văn bản pháp luật đó sẽ bao gồm nhiều điều
luật quy định cụ thể hóa các nội dung của hợp đồng, định hình các quy tắc xử
sự của các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Từ đó ta có thể kết luận pháp luật
về hợp đồng như sau: Pháp luật về hợp đồng là một hệ thống các quy tắc xử
sự, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện
nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hợp đồng.
1.2.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng
1.2.2.1. Tôn trọng quyền thỏa thuận tự nguyện của các bên
Các bên tham gia quan hệ hợp đồng có quyền tự do cam kết, thỏa
thuận phù hợp với pháp luật trong việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ
dân sự. Mọi cam kết và thỏa thuận hợp pháp được pháp luật bảo hộ.
Khi cam kết, thỏa thuận các bên hoàn toàn tự nguyện, không được ai
dùng bất cứ thủ đoạn nào nhằm buộc một người cam kết, thỏa thuận trái với ý
chí của người đó. Mọi cam kết, thỏa thuận không có sự tự nguyện của các bên
có thể coi là vô hiệu.
Khi tiến hành thỏa thuận các chủ thể đều bình đẳng, không được lấy
bất cứ một lí do nào về sự khác biệt để đối xử không bình đẳng. Các chủ thể


22

bình đẳng về năng lực pháp luật, bình đẳng giữa các hình thức sở hữu khi
giao kết hợp đồng. Bình đẳng của các chủ thể được thể hiện ở các điểm sau:
- Bình đẳng trong việc tham gia vào các quan hệ hợp đồng không phụ

thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự với mục đích khôi phục lại tình
trạng tài sản của người bị xâm phạm, bảo đảm quyền sở hữu tài sản của các
chủ thể được thực hiện bình đẳng (Điều 9 Bộ luật Dân sự).
1.2.2.3. Bảo vệ trật tự công và lợi ích của người thứ ba ngoài quan
hệ hợp đồng
"Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm
phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền lợi ích hợp pháp của
người khác".
Việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ hợp đồng nhằm thỏa mãn
nhu cầu vật chất và tinh thần của các bên tham gia vào quan hệ đó. Tuy nhiên,
khi thực hiện các hành vi không được phép thực hiện tùy tiện mà phải thực
hiện trong khuôn khổ, giới hạn của hợp đồng. Quyền của một chủ thể được
giới hạn bởi quyền của các chủ thể khác, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công
cộng, nhằm bảo đảm việc các chủ thể gây thiệt hại cho các chủ thể còn lại thì
phải bồi thường các thiệt hại như đã thỏa thuận trong hợp đồng.
1.2.2.4. Tôn trọng và tuân thủ pháp luật, đạo đức và truyền thống
tốt đẹp
Quan hệ hợp đồng luôn luôn đề cao tính tự nguyện và sự tự do ý chí
của các bên trong việc thoả thuận ký kết hợp đồng, Nội dung này của hợp
đồng luôn được pháp luật ghi nhận và bảo đảm. Tuy nhiên, việc phát huy
quyền tự do hợp đồng của các bên luôn phải được đặt trong mố quan hệ với
lợi ích của người khác và những giá trị văn hoá truyền thống. Chính vì vậy,
quyền tự do hợp đồng luôn phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật của nhà
nước, nghĩa là các bên được quyền phát huy tối đa quyền tự do hợp đồng


24

nhưng việc phát huy đó phải đặt trong sự kiểm soát của pháp luật (trong
khuôn khổ pháp luật). Bên cạnh việc tuân thu đúng và đầy đủ các quy định

Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 (áp dụng cho các hợp đồng được
coi là hợp đồng kinh doanh).
- Giai đoạn sau ngày 01/01/2006:
Kể từ ngày 01/01/2006 thì luật chung về hợp đồng chỉ là Bộ luật Dân
sự năm 2005. Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 thay thế cho Bộ luật
Dân sự năm 1995 và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989.
Nhóm văn bản quy phạm pháp luật quy định các nội dung về hợp
đồng chuyên ngành
Bên cạnh những quy định trong các văn bản pháp luật chung về hợp
đồng thì trong từng lĩnh vực kinh tế cụ thể, Nhà nước còn ban hành các quy định
riêng về từng loại hợp đồng. Đây là nhóm văn bản pháp luật chuyên ngành về
hợp đồng. Ví dụ: Luật Điện lực, Luật Thương mại, Luật Xây dựng, Luật Kinh
doanh bảo hiểm, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng Việt
Nam, Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thủy nội địa...
- Pháp luật về hợp đồng chuyên ngành
Trong từng lĩnh vực kinh tế có thể có những quy định riêng về từng
loại hợp đồng cụ thể. Ví dụ:
+ Luật Điện lực và các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số
105/2005/NĐ-CP ngày 17/8/2005 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực;
+ Luật Thương mại năm 2005.
+ Luật Đấu thầu (có hiệu lực từ 01/4/2006).
+ Luật Kinh doanh bảo hiểm (09/12/2000).
+ Luật Đất đai năm 2003.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status