thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố từ thực tiễn viện kiểm sát nhân dân tỉnh cao bằng - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG THẮM

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ LÂM THI

Hà Nội - 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được
trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả

Nguyễn Thị Hồng Thắm



2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.
2.3. Nhận xét, đánh giá.
Chương 3
2.1.

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH
CAO BẰNG

3.1.
3.2.

Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành quyền
công tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.
Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thực hành quyền công
tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.

KẾT LUẬN

Danh mục tài liệu tham khảo

16
24

32
32
38
51



Điều tra viên

KSĐT

:

Kiểm sát điều tra

KSV

:

Kiểm sát viên

LTCVKSND

:

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

THQCT

:

Thực hành qùn cơng tố

TNHS

:

quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn
Bảng 2.3: Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

39
41

Bảng 2.4: Kết quả thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố trong
giai đoạn khởi tố vụ án, bị can

43

Bảng 2.5: Kết quả thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố
trong giai đoạn truy tố

47

Bảng 2.6: Kết quả thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố
trong giai đoạn xét xử

50

Bảng 2.7: Bảng thông kê số vụ VKS trả hồ sơ cho CQĐT điều tra
bổ sung

55


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều 107 Khoản 1 Hiến pháp năm 2013 quy định: Viện kiểm sát nhân

giao, góp phần vào việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hợi và đã
đạt được những thành tích đáng ghi nhận song vẫn chưa thật sự đáp ứng được
các yêu cầu cải cách tư pháp.
Với mong muốn góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận thực hiện
pháp luật về thực hành quyền công tố đồng thời tổng kết, đánh giá kết quả, chỉ ra
những mặt còn hạn chế của hoạt động này tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao
Bằng, từ đó đề xuất giải pháp góp phần bảo đảm hoạt đợng thực hiện pháp luật
về thực hành quyền công tố tại địa phương, học viên xin chọn đề tài “Thực hiện
pháp luật về thực hành quyền công tố từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Cao Bằng” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay, thực hiện pháp luật được đặt ra là nhiệm vụ cấp bách của các
cơ quan Đảng, của Nhà nước, xã hợi và tồn thể nhân dân. Để pháp luật phát
huy được hết hiệu quả là công cụ quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, thì thực
hiện pháp luật phải được quan tâm, đảm bảo. Có nhiều cơng trình nghiên cứu
về thực hiện pháp luật trên nhiều lĩnh vực khác nhau như:
- “Thực hiện pháp luật về hịa giải ở cơ sở ở Bình Thuận hiện nayThực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sỹ Luật học của Lê Trung Quân,
Học viện chính trịnh Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2004.
- “Thực hiện pháp luật trong hoạt động của lực lượng Công an nhân dân
để bảo vệ trật tự, an toàn xã hội ở nước ta hiện nay”, Luận án phó tiến sỹ Luật
học của Đỗ Tiến Triển, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 1996.
- “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa”, Luận văn thạc sỹ Luật học của Lại Thế Nguyên, Học viện chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh năm, 2014.
- “Thực hiện pháp luật về khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai
trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên, Việt Nam”, Luận án tiến sỹ của Lê Duyên
Hà, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2017.
- “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam”, Luận án tiến sỹ
của Trần Thị Quốc Khánh, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2017.
- “Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường Nhà nước do công

3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của thực hiện pháp luật
về thực hành qùn cơng tố của VKSND
- Phân tích làm rõ những đặc điểm của địa bàn tỉnh Cao Bằng có liên
3


quan đến hoạt động thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của
VKSND tỉnh Cao Bằng
- Đánh giá thực trạng và chỉ ra những hạn chế, bất cập cũng như
nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong thực hiện pháp luật về thực hành
quyền công tố của VKSND tỉnh Cao Bằng.
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm hiệu quả hoạt động thực hiện pháp luật
về thực hành qùn cơng tố của cơ quan VKSND nói chung và tỉnh Cao Bằng
nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về thực
hiện pháp luật về thực hành quyền công tố và thực trạng thực hiện trên địa
bàn tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp
luật về thực hành quyền công tố của VKSND tỉnh Cao Bằng trong phạm vi thời
gian từ năm 2015 đến năm 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa
Mac-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chính sách của Đảng,
Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp qùn Xã hợi chủ nghĩa về chính sách
hình sự, về chiến lược cải cách tư pháp.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp như phân
tích, tổng hợp để làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về thực hành quyền công
tố của VKSND tỉnh Cao Bằng, phương pháp thống kê, so sánh làm rõ kết quả


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN.

1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của
Viện kiểm sát nhân dân.
* Khái niệm Thực hành quyền công tố:
Quyền công tố là quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện
việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội nhằm đưa người đó ra xét xử
trước Tòa án và đồng thời bảo vệ sự ḅc tợi đó. Khoản 1, Điều 107 Hiến
pháp 2013 có quy định: "VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt
động tư pháp" và Điều 2 Luật Tổ chức VKSND 2014 cũng quy định
"VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của
nước CHXHCN Việt Nam". Như vậy, Thực hành quyền công tố là một trong
hai chức năng hiến định của VKSND.
Trong khoa học pháp lý hiện nay tồn tại nhiều quan niệm về quyền
công tố. Theo nghĩa hẹp, quyền công tố bắt đầu sau khi Cơ quan điều tra
(hoặc Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) kết
thúc việc điều tra tội phạm, ban hành bản kết luận điều tra và chuyển tồn bợ
hồ sơ vụ án hình sự sang VKS đề nghị truy tố. Thực hiện qùn cơng tố chính
là việc Viện kiểm sát thực hiện truy tố người phạm tội ra trước Tòa án bằng
bản Cáo trạng. Quyền công tố kết thúc sau khi Tòa án ra bản án (quyết định)
có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tợi [27]. Hiện nay có các quan điểm
về phạm vi của quyền công tố như sau:
Quan điểm 1: Quyền công tố được bắt đầu sớm hơn, ngay từ khi Cơ
quan điều tra (hoặc Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra)
tiến hành các hoạt động điều tra tội phạm và kết thúc sau khi Tòa án xét xử, ra

phải bắt đầu từ khi điều tra vụ án. Việc Viện kiểm sát vào cuộc sớm hơn, bắt
7


đầu từ giai đoạn tiếp nhận giải quyết tin báo, tố giác tội phạm đã khẳng định
được chức năng Thực hành qùn cơng tố của Viện kiểm sát có ý nghĩa quan
trọng trong việc phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm. Thực hiện được tốt
khâu công tác này là yếu tố quyết định đến việc khởi tố đúng người phạm tội,
không làm oan người vô tội hay bỏ lọt tợi phạm, hạn chế thấp nhất việc bắt
giữ hình sự chủn xử lý hành chính vì khơng chứng minh được hành vi
phạm tội và ngược lại. Như vậy, phạm vi của thực hành quyền công tố từ giai
đoạn kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tợi phạm và kiến nghị
khởi tố được luật hóa và quy định cụ thể trong Bợ luật hình sự năm 2015.
BLTTHS năm 2015 đã có các điều luật quy định về nhiệm vụ, quyền
hạn của VKSND, theo đó VKSND thực hành quyền công tố trong 4 giai đoạn
tố tụng. Cụ thể: THQCT trong giai đoạn khởi tố quy định tại Điều 159
BLTTHS, THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án được quy định tại Điều 165
BLTTHS, THQCT trong giai đoạn truy tố quy định tại Điều 236; và THQCT
trong giai đoạn xét xử quy định tại Điều 266. Qua đó, có thể xác định THQCT
của VKSND bao gồm những nợi dung sau:
- Bắt đầu thực hành quyền công tố từ quá trình xác minh, điều tra đối với sự
kiện phạm tội (căn cứ để tiến hành khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự);
- Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định KTBC của
Cơ quan điều tra (hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra) hoặc VKS trực tiếp ra quyết định KTBC đối với người thực
hiện hành vi phạm tội;
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra, khi xét thấy
cần thiết, VKS trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; trong trường hợp xét
thấy hành vi của điều tra viên có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát yêu
cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV theo quy định của pháp luật.

việc truy cứu TNHS đối với cá nhân, tổ chức phạm tội nhằm đưa cá nhân, tổ
chức đó ra xét xử trước Tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó.
Thực hành quyền cơng đó là việc thực hiện các hành vi tố tụng cần
9


thiết theo quy định của pháp luật TTHS để truy cứu TNHS cá nhân, tổ chức
phạm tội, đưa cá nhân, tổ chức phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự
buộc tội đó.
* Khái niệm thực hiện pháp luật:
Thực hiện pháp luật nghĩa là việc một chủ thể làm đúng những quy định
của pháp luật; là quá trình chuyển các quy định của pháp luật vào thực tiễn c̣c
sống xã hợi, là hoạt đợng nhằm mục đích làm cho các quy phạm pháp luật được
thực hiện trong thực tế. Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luậtKhoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nợi: "thực hiện pháp luật là mợt q trình hoạt
đợng có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống trở
thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật". [30]
Các hình thức thực hiện pháp luật gồm có tn thủ pháp luật; thi hành pháp
luật; sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
Tn thủ pháp luật: là mợt hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ
thể pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm. Ở
hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động,
thực hiện các quy phạm pháp luật dưới dạng không hành đợng.
Thi hành pháp luật: là mợt hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ
thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành đợng tích cực.
Sử dụng pháp luật: là mợt hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ
thể thực hiện pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện các hành vi
pháp luật cho phép).
Áp dụng pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà
nước thơng qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức
cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình

"Việc dân sự cốt ở đơi bên", có các ngun tắc như tơn trọng qùn tự định
đoạt của đương sự... thì các hoạt đợng thực hành quyền công tố chỉ xuất hiện
duy nhất trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự. Do vậy, thực hiện pháp
luật về thực hành quyền công tố mang tính quyền lực rất cao. Pháp luật quy
định cho VKSND một hệ thống các quyền năng pháp lý rộng lớn, trong đó
quyền nhân danh nhà nước truy tố người phạm tội ra trước tòa án để xét xử là
11


qùn duy nhất chỉ có ở VKSND và là mợt trong những quyết định trong q
trình thực hành qùn cơng tố. Các quyết định hạn chế quyền con người,
quyền công dân như lệnh bắt khẩn cấp, lệnh tạm giam, lệnh gia hạn tạm giữ,
quyết định KTBC... như đã nêu trên đều phải có phê chuẩn của VKSND. Việc
thay thế, hủy bỏ các lệnh, quyết định đó đều do cơ quan duy nhất thực hiện là
VKSND. Do vậy, việc thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố cần
triệt để, nghiêm minh, thận trọng, khách quan... bởi lúc này VKSND có qùn
sử dụng các qùn năng pháp lý của mình do pháp luật hình sự và tố tụng
hình sự quy định để truy cứu TNHS đối với người phạm tội.
Hai là, Thực hiện pháp luật về THQCT là hoạt động thuộc thẩm quyền duy
nhất của VKSND.
Nếu chủ thể thực hiện pháp luật trong hoạt đợng điều tra vụ án hình sự
được giao cho nhiều Cơ quan điều tra khác nhau như: Cơ quan điều tra của
Công an nhân dân (Cơ quan An ninh điều tra của Bộ Công an, Cơ quan cảnh
sát điều tra của Bộ Công an...Cơ quan An ninh điều tra của tỉnh; Cơ quan
cảnh sát điều tra cấp tỉnh, Cơ quan cảnh sát điều tra cấp huyện); CQĐT trong
Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
thì chủ thể thực hiện pháp luật thực hành quyền công tố chỉ duy nhất là
VKSND (các vụ được giao chức năng THQCT của VKSND tối cao, VKSND
tỉnh và VKSND cấp huyện, ngoài ra có VKS quân sự các cấp...). Người thực
hiện các quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố là Kiểm sát viên,

mạng chính trị của mợt con người. Vì vậy, đòi hỏi hoạt đợng đó phải được
tiến hành theo mợt trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ, cụ thể, đồng thời phải áp
dụng quy định của pháp luật đối với mỗi loại tội phạm cụ thể, với một người
phạm tội cụ thể để đưa ra những quyết định áp dụng pháp luật chính xác, có
căn cứ, mợt mặt khơng xâm phạm đến các quyền con người, quyền công dân
của người phạm tội, mặt khác đảm bảo mọi hành vi phạm tợi, người phạm tợi
phải được xử lý nhanh chóng, nghiêm minh.
Việc thực hiện triệt để, nghiêm minh, khách quan các quy định của
pháp luật về thực hành quyền công tố theo các trình tự, thủ tục chặt chẽ còn
có ý nghĩa quyết định đến việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
13


không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.
1.1.3. Vai trò thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện
kiểm sát nhân dân.
Thực hiện pháp luật về thực hành qùn cơng tố của VKSND có vai trò
chung là góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống
nhất qua đó bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, qùn cơng
dân. Vai trò đó được cụ thể hóa ở những nội dung sau:
Một là, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và
xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự chính là việc đi
ngược lại thời gian để tìm ra sự thật khách quan của vụ án, nhưng nhận thức của
con người có hạn, theo thời gian những dấu vết, chứng cứ chứng minh hành vi
phạm tội đã không còn nguyên vẹn hoặc mất đi, việc tìm ra sự thật khách quan
của vụ án là vơ cùng khó khăn... trong khi đó VKSND là cơ quan duy nhất được
giao chức năng THQCT: "Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với
người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

trong quá trình truy cứu TNHS bị can có căn cứ, chính xác, đảm bảo đúng
ngưới, đúng tợi, đúng quy định của pháp luật, ví dụ như quyết định phê chuẩn
khởi tố bị can, phê chuẩn lệnh tạm giam bị can, yêu cầu điều tra...
1.2 . NỘI DUNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật TTHS năm 2015; Quyết định số
169/QĐ -VKSTC ngày 02/5/2018 ban hành Quy chế tạm thời công tác thực
hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố; Quyết định số 03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017
ban hành Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc
khởi tố, điều tra và truy tố; Quyết định số 170/QĐ-VKSTC ngày 02/5/2018
ban hành Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc
khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám
định (hiện đã được thay thế bởi Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày
17/4/2020 ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc
khởi tố, điều tra và truy tố). Theo đó thực hiện pháp luật về THQCT sẽ có các
16


nội dung sau:
1.2.1. Thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố trong việc
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Các biện pháp ngăn chặn trong TTHS được quy định tại Mục I chương
VII BLTTHS năm 2015 bao gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Bắt
người (Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả
tang, bắt người đang bị truy nã; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người bị
yêu cầu dẫn độ); biện pháp tạm giữ; Tạm giam; Bảo lĩnh; Đặt tiền để bảo
đảm; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Tạm hoãn xuất cảnh.
Các biện pháp cưỡng chế trong TTHS được quy định tại Mục II chương

cấp, lệnh gia hạn tạm giữ, lệnh bắt bị can để tạm giam, tạm giam bị can... là
khơng có căn cứ hoặc khơng cần thiết thì Viện kiểm sát nhân dân có quyền từ
chối phê chuẩn, người bị tạm giữ, tạm giam phải được trả tự do ngay. Đây là
nội dung thẩm quyền hết sức quan trọng của VKSND. Thực hiện tốt việc xét
phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam sẽ thể hiện rõ trách nhiệm pháp lý của
Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công
dân theo quy định của pháp luật.
Thứ hai: Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ hoặc thay thế
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc VKS ra quyết định hủy bỏ, thay thế.
Điều 125 BLTTHS quy định về hủy bỏ Biện pháp ngăn chặn: "1. Mọi
biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một
trong các trường hợp: a) quyết định khơng khởi tố vụ án hình sự; b) đình chỉ
điều tra, đình chỉ vụ án; c) đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối
với bị can; d) bị cáo được tịa tun khơng có tội, miễn trách nhiệm hình sự,
miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án treo, hoặc hình phạt cảnh
cáo, phạt tiền, cải tạo khơng giam giữ....".
Theo đó VKS thực hiện quyền yêu cầu CQĐT hủy bỏ hoặc thay thế
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong các trường hợp sau: đối với trường
hợp việc áp dụng biện pháp ngăn chặn khơng do VKS phê chuẩn thì VKS sẽ
18


ban hành văn bản yêu cầu CQĐT có thẩm quyền điều tra ra quyết định hủy
bỏ; trường hợp CQĐT ra quyết định hủy bỏ nhưng VKS thấy khơng có căn cứ
thì VKS sẽ yêu cầu CQĐT hủy bỏ quyết định khơng có căn cứ đó.
VKS ra quyết định hủy bỏ, thay thế biện pháp ngăn chặn trong các
trường hợp: CQĐT không thực hiện các yêu cầu hủy bỏ hoặc thay thế biện
pháp ngăn chặn của VKS; trường hợp quyết định áp dụng biện pháp ngăn
chặn do VKS phê chuẩn thì VKS sẽ ra quyết định hủy bỏ.
1.2.2. Thực hiện pháp luật về thực hành quyền công tố trong việc

VKS có qùn gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố. Việc gia hạn được thực hiện theo quy định tại Điều 147
BLTTHS, theo đó được gia hạn giải quyết tố giác tin báo tội phạm và kiến
nghị khởi tố một lần không quá 2 tháng.
Thứ hai: Thực hiện pháp luật về THQCT trong việc khởi tố VAHS:
Để phát sinh quy trình tố tụng hình sự giải quyết vụ án hình sự, CQĐT
phải ra quyết định khởi tố vụ án. Theo đó khi nhận được quyết định khởi tố
vụ án của CQĐT, VKS có quyền yêu cầu nếu:
+ Chưa rõ căn cứ để khởi tố vụ án thì VKS u cầu cơ quan có thẩm
qùn điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ để làm rõ ;
+ Yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố VAHS hủy bỏ quyết định
khởi tố vụ án không có căn cứ hoặc VKSND trực tiếp thực hiện việc hủy bỏ
quyết định khởi tố vụ án nếu thấy không có căn cứ khởi tố vụ án;
+ Nếu thấy tợi phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tợi hoặc
còn có tợi phạm khác chưa được khởi tố thì VKS có qùn u cầu CQĐT đã
ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố VAHS; Nếu CQĐT
khơng thực hiện thì VKS tự mình ra quyết định thay đổi, bổ sung quyết định
khởi tó vụ án.
+ Nếu thấy quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án của CQĐT
khơng có căn cứ thì VKS ra văn bản yêu cầu CQĐT hủy bỏ quyết định đó. Nếu
CQĐT khơng ra quyết định hủy bỏ thì VKS trực tiếp ra quyết định hủy bỏ quyết
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status