TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
“PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM
TRONG
THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY
TNHH THƯƠNG MẠI VÀ SẢN XUẤT
NAM PHÁT”
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT THƯƠNG MẠI
Giáo viên hướng dẫn
- Họ và tên: TS. Nguyễn Thị Tình
- Bộ môn : Luật chuyên ngành
Sinh viên thực tập
- Họ và tên: Nguyễn Văn Việt
- Lớp
: K48P1
HÀ NỘI, 2016
TÓM LƯỢC
Đường lối đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước cùng với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và
thế giới trong những năm gần đây đã cho thấy tính hiệu quả trong việc xây
dựng và phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ với những thành tựu to lớn. Cùng
với sự phát triển kinh tế - xã hội, các quan hệ thương mại cũng ngày càng
LỜI CẢM ƠN
Là một sinh viên chuyên ngành Luật thương mại, trải qua quá trình bốn
năm học tập lý luận tại Trường Đại học Thương mại cùng với quá trình thực
tập tốt nghiệp tại Công ty TNHH thương mại và sản xuất Nam Phát đã giúp em
có được những kiến thức lý luận chuyên ngành và hiểu biết về thực tiễn thực
thi và áp dụng pháp luật tại các doanh nghiệp. Qua đó, em đã hoàn thành xong
bài khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Pháp luật về chế tài phạt vi phạm trong
thương mại và thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH thương mại và sản xuất
Nam Phát”. Để có được bài khóa luận tốt nghiệp hoàn thiện, em xin gửi lời
cảm ơn tới các thầy, cô giáo Trường Đại học Thương mại, Khoa Kinh tế - Luật
đã truyền đạt cho em rất nhiều kiến thức trong quá trình học tập và làm khóa
luận tốt nghiệp. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS Nguyễn
Thị Tình đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành bài
khóa luận. Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể các anh chị
trong Công ty TNHH thương mại và sản xuất Nam Phát đã tận tình giúp đỡ em
trong quá trình thực tập.
Bài khóa luận tốt nghiệp được thực hiện trong khoảng thời gian gần hai
tháng. Dù em đã có nhiều cố gắng nhưng do kiến thức còn hạn hẹp, nên bài
khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót. Kính mong nhận được sự đóng
góp, nhận xét của quý thầy cô để đề tài khóa luận của em được hoàn thiện và
đầy đủ hơn.
Sau cùng, em xin chúc toàn thể các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế - Luật nói
chung và cô giáo Nguyễn Thị Tình nói riêng thật dồi dào sức khỏe để tiếp tục
sứ mệnh truyền đạt kiến thức cho các thế hệ sinh viên Trường Đại học Thương
mại.
Em xin chân thành cảm ơn!
3
trong các quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, các quy định về chế tài phạt
vi phạm còn nhiều vấn đề chưa cụ thể, quy định còn bất cập, mâu thuẫn giữa Luật
thương mại và Bộ luật dân sự gây khó khăn cho các bên trong việc áp dụng và từ đó dễ
dẫn tới những tranh chấp kiện tụng.
Để khai thác và đi sâu làm rõ nội dung pháp luật về chế tài phạt vi phạm trong
thương mại, từ đó đánh giá và đưa ra đề xuất các giải pháp kiến nghị nhằm tháo gỡ
những vướng mắc, hoàn thiện các quy định pháp lý liên quan, em đã lựa chọn đề tài:
“Pháp luật về chế tài phạt vi phạm trong thương mại và thực tiễn thực hiện tại
Công ty TNHH thương mại và sản xuất Nam Phát” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
của mình.
6
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Với sự ra đời của Luật thương mại 2005, vấn đề về các chế tài trong thương mại
nói chung và chế tài phạt vi phạm nói riêng ngày càng thu hút sự quan tâm của rất
nhiều tác giả; có thể kể đến một số công trình nghiên cứu, bài viết, bài nghiên cứu liên
quan đáng chú ý dưới những góc độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau như sau:
Thạc sỹ Lê Văn Sua (2015), “Quy định về chế tài trong Luật thương mại 2005 –
một số vướng mắc và kiến nghị”, Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp, ngày
01/12/2015. Tác giả chỉ ra và phân tích rõ 6 điểm còn vướng mắc khi áp dụng các quy
định của pháp luật về chế tài phạt vi phạm và các quy định có liên quan. Qua đó, tác
giả đưa ra quan điểm của mình về định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về
chế tài trong thương mại nhằm tạo ra hành lang pháp lý thương mại tự do, công bằng,
bình đẳng.
Tác giả Đoàn Thị Ngọc Hải (2015), “Hoàn thiện các quy định về chế tài trong
thương mại theo Luật Thương mại năm 2005”, Trang thông tin điện tử của Bộ Tư
pháp, ngày 03/11/2015. Bài viết đã chỉ ra một số bất cập và phương hướng hoàn thiện
chế tài trong thương mại, trong đó có chế tài phạt vi phạm. Điều đáng chú ý trong bài
viết của tác giả là hai phương án tiếp cận đối với quy định về mức phạt vi phạm trong
về phạt vi phạm do vi phạm pháp luật hợp đồng theo pháp luật Việt Nam”, Thông tin
pháp luật dân sự, tháng 8 năm 2008.
Với phạm vi nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau, các tác giả chỉ mới tập
trung đi sâu vào những khía cạnh nhất định liên quan đến pháp luật về các chế tài
trong thương mại nói chung và chế tài phạt vi phạm nói riêng mà chưa đầu tư đi sâu
phân tích được cơ sở lý luận pháp lý liên quan đến đề tài, cũng như phân tích đánh giá
thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật liên quan và giải pháp kiến nghị nhằm
khắc phục những thực trạng ấy.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Ngày nay, các quan hệ hợp đồng được xác lập giữa các thương nhân ngày càng
diễn ra thường xuyên, pháp luật thương mại ra đời là cần thiết để duy trì và bảo đảm
sự tự do, bình đẳng cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng. Khi một hợp đồng
thương mại đã được giao kết hợp pháp và phát sinh hiệu lực pháp luật thì các bên phải
thực hiện các nghĩa vụ mà mình đã thỏa thuận trong hợp đồng. Chế tài trong thương
mại chính là các hình thức trách nhiệm mà bên vi phạm phải chịu khi vi phạm các
nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong hợp đồng, là các biện pháp tác động bất lợi về tài
sản của bên có quyền lợi bị vi phạm đối với chủ thể có hành vi vi phạm hợp đồng
trong thương mại.
Phạt vi phạm là một chế tài thường thấy và được các bên thường xuyên thỏa
thuận áp dụng khi giao kết hợp đồng. Phạt vi phạm được các chủ thể thỏa thuận đưa
vào hầu hết các hợp đồng giao kết với đối tác, khách hàng. Điều đó giúp điều tiết hành
vi của các thương nhân trong quá trình thực hiện hợp đồng, tạo ra sự ổn định tương đối
cho sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các chế tài, đặc biệt là
8
chế tài phạt vi phạm trong thời gian qua vẫn còn một số vấn đề gây tranh cãi, gây khó
khăn trong việc xử lý đối với bên có hành vi vi phạm hợp đồng. Những vấn đề này
phần lớn xuất phát từ sự bất cập của các quy định về chế tài trong thương mại. Dựa
trên những bài học kinh nghiệm từ các công trình nghiên cứu đã có cùng với sự tìm
doanh tự do, công bằng và bình đẳng.
9
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của một bài khóa luận tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Luật
thương mại, bài viết tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về chế tài phạt vi
phạm trong thương mại quy định tại Luật thương mại 2005 cùng với các văn bản
hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, khóa luận đối chiếu, so sánh với các quy định về
phạt vi phạm trong hợp đồng quy định tại Bộ luật dân sự 2005 để làm rõ vấn đề cần
nghiên cứu. Về vấn đề thực tiễn, khóa luận tập trung đi sâu và thực tiễn thực hiện các
quy định của pháp luật về chế tài phạt vi phạm trong thương mại tại Công ty TNHH
thương mại và sản xuất Nam Phát, từ đó liên hệ đánh giá về vấn đề thực hiện pháp luật
trong thực tế tại các doanh nghiệp.
5. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và các phương pháp
nghiên cứu chuyên ngành khoa học pháp lý nói riêng, khóa luận đã vận dụng một cách
linh hoạt các phương pháp để giải quyết những vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn liên
quan đến chế tài phạt vi phạm trong thương mại. Cụ thể có thể kể đến các phương
pháp như: phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp thu thập dữ liệu, phương
pháp phân tích xử lý dữ liệu, phương pháp so sánh,…
Phương pháp phân tích – tổng hợp:
Từ những cơ sở thông tin dữ liệu pháp lý liên quan đã thu thập được, tác giả tập
trung phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về chế tài phạt vi phạm trong
thương mại. Từ kết quả phân tích đó, tác giả tổng hợp đánh giá một cách khách quan,
có dẫn chứng thực trạng của pháp luật điều chỉnh về chế tài phạt vi phạm trong thương
mại nhằm định hướng đề xuất các giải pháp cần hoàn thiện. Bên cạnh đó, dựa vào
những hợp đồng mẫu và hợp đồng được ký kết giữa các công ty, đặc biệt là đơn vị mà
người viết đã thực tập – Công ty Nam Phát, tác giả đi sâu phân tích các điều khoản
liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm rõ thực tiễn thực hiện tại đơn vị.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về chế tài phạt vi phạm trong
thương mại và thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH thương mại và sản xuất
Nam Phát
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về chế tài phạt vi
phạm trong thương mại
CHƯƠNG 1:
11
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ
CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM TRONG THƯƠNG MẠI
1.1.
Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hợp đồng thương mại và chế tài phạt vi
phạm trong thương mại
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hợp đồng thương mại
1.1.1.1. Hợp đồng
Bàn về lịch sử hình thành, hợp đồng được ra đời khi xã hội xuất hiện sự phân
công lao động cũng như quá trình trao đổi hàng hóa được diễn ra. Có thể nói, hợp
đồng chính là phương thức quan trọng và khái quát nhất để các chủ thể tham gia vào
các mối quan hệ dân sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Có hai phương diện được đưa ra khi xem xét về khái niệm hợp đồng dân sự: Về
phương diện khách quan, hợp đồng dân sự là do các quy phạm pháp luật của Nhà nước
ban hành nhằm mục đích điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình
dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau. Về phương diện chủ quan,
hợp đồng dân sự chính là các giao dịch dân sự theo đó các bên chủ thể tự trao đổi ý chí
với nhau nhằm mục đích đi đến sự thỏa thuận làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân
sự nhất định.
Theo nghĩa chung nhất, định nghĩa “Hợp đồng dân sự” được quy định tại Điều
cho phép các bên quy định cho nhau các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng các bên
giao kết. Tuy nhiên, nội dung của hợp đồng không được trái với các nguyên tắc chung
của pháp luật Việt Nam.
Thứ tư, mục đích của hợp đồng dân sự là lợi ích hợp pháp, không trái đạo đức xã
hội mà các bên cùng hướng tới. Chỉ khi mục đích của hợp đồng dân sự được chứng
minh hoặc được thừa nhận là hợp pháp, không trái đạo đức xã hội thì hợp đồng dân sự
mới phát sinh hiệu lực, qua đó quyền và nghĩa vụ của các bên mới có thể thực hiện
được trên thực tế.
1.1.1.2. Hợp đồng thương mại
Từ lâu, khoa học pháp lý và pháp luật Việt Nam sử dụng nhiều khái niệm pháp lý
để chỉ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh như: hợp đồng kinh doanh, hợp đồng trong
hoạt động kinh doanh, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại… Tại Điều 1 Pháp lệnh
Hợp đồng kinh tế năm 1989 đã đưa ra khái niệm về hợp đồng kinh tế như sau: “… là
sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện
công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng nghiên cứu khoa
học – kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng
quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”. Với
khái niệm này, hợp đồng kinh tế được đặc trưng với ba tiêu chí cơ bản là chủ thể, mục
đích, hình thức hợp đồng nên chưa bao quát hết được các quan hệ hợp đồng trong hoạt
động thương mại. Hiện nay, Luật thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp
đồng thương mại nhưng có thể hiểu hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các
chủ thể kinh doanh với nhau và với các bên có liên quan về việc xác lập, thay đổi,
hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại. Các hoạt động
thương mại ở đây được xác định theo Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 “… là
13
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư,
xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Hợp đồng thương mại có những đặc điểm của hợp đồng dân sự nói chung và có
1 Khoản 1, Điều 6, Luật thương mại 2005
14
Chế tài là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động
mà Nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với chủ thể nào không thực hiện đúng mệnh lệnh
của Nhà nước đã nêu ở phần quy định của quy định pháp luật. 2 Nền kinh tế thị trường
ở nước ta dựa trên sự thiết lập nền tảng pháp lí quyền tự do kinh doanh trong quan hệ
thương mại và phương thức hình thành chủ yếu là thông qua các quan hệ hợp đồng.
Các quan hệ hợp đồng trong thương mại cũng vì thế mà trở nên đa dạng và phức tạp
hơn. Hiện tượng vi phạm hợp đồng cũng diễn ra nhiều hơn. Để giúp đảm bảo cam kết
giữa các bên được thực hiện, hoặc đền bù lại những tổn thất đã gây ra cho bên bị thiệt
hại do hành vi của bên vi phạm hợp đồng, pháp luật về chế tài trong thương mại ra đời
và ngày càng hoàn thiện hơn.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về chế tài trong thương mại.
Theo nghĩa rộng: Chế tài trong thương mại được hiểu là hình thức xử lý được cơ
quan Nhà nước hoặc bên có quyền lợi bị vi phạm áp dụng đối với mọi tổ chức cá nhân
có hành vi vi phạm pháp luật thương mại. Theo cách hiểu này, chỉ cần chủ thể tham
gia pháp luật thương mại có hành vi vi phạm pháp luật thương mại là đều có căn cứ để
áp dụng chế tài. Để tìm hiểu kĩ hơn về chế tài trong thương mại theo cách hiểu này đòi
hỏi cần các công trình nghiên cứu chuyên sâu, nghiên cứu trên rất nhiều các phương
diện. Trong phạm vi bài khóa luận, người viết chỉ tập trung nghiên cứu về chế tài trong
thương mại cũng như chế tài phạt vi phạm trong thương mại theo cách hiểu trong
phạm vi quan hệ hợp đồng (hiểu theo nghĩa hẹp).
Theo nghĩa hẹp: Chế tài trong thương mại là hình thức trách nhiệm mà bên vi
phạm phải chịu khi vi phạm các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng. Đó là các biện
pháp tác động bất lợi về tài sản của bên có quyền lợi bị vi phạm đối với chủ thể có
hành vi vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng thương mại. Rõ ràng, khi hợp đồng thương
mại đã được giao kết và phát sinh hiệu lực pháp luật thì các bên phải thực hiện các
Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập
quán thương mại quốc tế.3
Như vậy, trong quan hệ thương mại, giữa các chủ thể khi giao kết hợp đồng có
thể thỏa thuận về các chế tài xử lý vi phạm trong bản hợp đồng ký kết giữa các bên.
Khi một trong các bên vi phạm có thể sẽ phải chịu các hình thức chế tài nêu trên trừ
trường hợp được miễn trách nhiệm theo quy định. Nếu các bên không tự nguyện thực
hiện có thể yêu cầu Tòa án hoặc trong trường hợp có thỏa thuận trọng tài thì sẽ đề nghị
cơ quan Trọng tài giải quyết.
1.1.2.2. Chế tài phạt vi phạm
Phạt vi phạm là một trong các chế tài xử lý vi phạm trong thương mại. Chế tài
phạt vi phạm được xem là chế tài tiền tệ, được các bên giao kết hợp đồng áp dụng một
cách phổ biến đối với tất cả các hành vi vi phạm các điều khoản của hợp đồng. Chức
năng chủ yếu mà các bên hướng đến khi áp dụng chế tài phạt vi phạm là nhằm trừng
phạt, tác động vào ý thức của các chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng để từ đó giáo
3 Điều 292 Luật thương mại 2005
16
dục, ngăn ngừa hành vi vi phạm hợp đồng, đề cao ý thức tôn trọng pháp luật nói chung
và pháp luât hợp đồng thương mại nói riêng.
Khái niệm “Phạt vi phạm” được Bộ luật dân sự 2005 và Luật thương mại 2005
quy định như sau: Khoản 1, Điều 422 Bộ luật dân sự 2005 quy định, “Phạt vi phạm là
sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp
một khoản tiền cho bên bị vi phạm”. Điều 300 Luật thương mại 2005 nêu định nghĩa:
“Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do
vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận”. Từ hai khái niệm này, có thể
nhận thấy điểm không thống nhất của hai nguồn văn bản pháp luật khi quy định về
khái niệm phạt vi phạm. Rõ ràng, theo Bộ luật dân sự 2005, phạt vi phạm được đề cập
đến khi các bên có “sự thỏa thuận”. Trong khi Luật thương mại 2005 lại nêu rõ, phạt
để buộc bên vi phạm phải chịu các hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm của mình gây
ra. Qua đó, chế tài phạt vi phạm cũng thể hiện được vai trò củng cố ý thức trong việc
thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng. Chế tài phạt vi phạm cho các bên phải thấy
trước được khoản giá trị vi phạm mà mình phải trả cho bên bị vi phạm, từ đó có một
hướng nhìn trước về tương lai của việc thực hiện hợp đồng, việc thực hiện các cam kết
đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện theo đúng những gì các bên đã thỏa thuận, nâng
cao ý thức, tính trách nhiệm trong quá trình giao kết hợp đồng. Chế tài phạt vi phạm
bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm thông qua việc bên bị vi phạm có thể tự mình
hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng chế tài phạt vi phạm đối với
hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, chế tài phạt vi phạm cũng bảo vệ quyền lợi của bên vi
phạm, việc quy định rõ về căn cứ, thủ tục áp dụng, mức phạt vi phạm,… sẽ đảm bảo
bên vi phạm chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi mà hành vi của mình gây ra và
những thỏa thuận trong hợp đồng về phạt vi phạm.
Thứ hai, phạt vi phạm trong thương mại được xem là một hình thức trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng.
Bản chất của việc trả tiền phạt vi phạm trong thương mại chính là sự đền bù về
vật chất cho bên bị vi phạm. Xét trên khía cạnh của việc thực hiện hợp đồng, chế tài
phạt vi phạm giống như một hình thức trách nhiệm có chức năng đền bù hơn là trừng
phạt. Cách nhìn nhận này được Tiễn sỹ Dương Anh Sơn và Lê Thị Bích Thọ nêu ra
trong bài viết “Một số ý kiến về phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật
Việt Nam’, Tạp chí Khoa học pháp lý số 01/2005. Tác giả cũng bình luận thêm, pháp
luật của nhiều nước trên thế giới cũng không coi tính trừng phạt là chức năng của phạt
vi phạm. Cách nhìn nhận này trong pháp luật của các nước rõ ràng phù hợp với thực
tiễn lưu thông dân sự và thương mại. Trong thực tiễn có những trường hợp mặc dù có
hành vi vi phạm hợp đồng nhưng thiệt hại không xảy ra, nếu bên bị vi phạm trong
trường hợp đó yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt đã thoả thuận trước thì rõ ràng họ đã
vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng và tất
nhiên toà án sẽ không ra phán quyết thoả mãn yêu cầu của họ. Bởi vì trong mọi trường
hợp toà án có nghĩa vụ phải ra phán quyết không những đúng pháp luật mà còn phải
công bằng.
vì thế, ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội đã thông qua Bộ luật dân sự mới 2005 và
cho thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp
luật dân sự Việt Nam, phát huy thành tựu của Bộ luật dân sự năm 1995 và kinh nghiệm
gần 20 năm đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế. Sau hơn 10 năm thi hành, Bộ luật dân sự cơ bản đã có tác động tích
cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như đối với việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự
do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm của chủ thể trong các lĩnh vực dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động … 6. Luật thương mại 2005
6 Tờ trình Về dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi) của Chính phủ Số 390/TTr – CP ngày 12/10/2014
19
cũng được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2006.
Đây là nguồn luật chính điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh
thương mại. Bên trong đó cũng chứa các quy định của pháp luật về chế tài trong
thương mại nói chung và chế tài phạt vi phạm nói riêng.
Nhìn chung, các quy định về các hình thức chế tài trong thương mại luôn được
các nước trên thế giới hướng tới ban hành trong các văn bản quy phạm pháp luật quan
trọng của quốc gia nhằm điều tiết, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm hợp đồng. Về
cơ bản, Luật thương mại Việt Nam 2005 đã và đang đáp ứng được yêu cầu khi các
quan hệ thương mại luôn vận động và biến đổi không ngừng, đặc biệt trong bối cảnh
hội nhập kinh tế và Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO.
Pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại nói chung và pháp luật về chế
tài phạt vi phạm nói riêng đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng cũng như đảm bảo sự vận hành và
phát triển có định hướng của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn còn
nhiều bất cập nên cần được nghiên cứu toàn diện và sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh về chế tài phạt vi phạm trong thương mại
quy định khác đi so với Bộ luật dân sự 2005. Do đó, tìm hiểu về các quy phạm pháp
luật điều chỉnh về chế tài phạt vi phạm trong thương mại, bài khóa luận chỉ đi sâu
phân tích các quy định trong Luật thương mại 2005, đồng thời so sánh đối chiếu với
các quy định tại Bộ luật dân sự 2005 để thấy sự khác biệt trong việc quy định các vấn
đề liên quan trong hai nguồn luật nhằm làm rõ vấn đề cần nghiên cứu.
1.2.2.2.
Căn cứ áp dụng chế tài phạt vi phạm trong thương mại
Chế tài phạt vi phạm là một chế định quan trọng để bảo vệ các bên trong quan hệ
thương mại, là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi
phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận. Mặc dù pháp luật thương mại chưa
có quy định cụ thể nào chỉ ra các căn cứ để áp dụng chế tài phạt vi phạm trong thương
mại, tuy nhiên từ quy định tại Điều 300 Luật thương mại 2005, có thể hiểu hành vi vi
phạm hợp đồng thương mại và sự thỏa thuận của các bên chủ thể trong hợp đồng chính
là hai căn cứ để áp dụng chế tài này. Việc làm rõ các căn cứ để áp dụng các loại chế tài
trong thương mại nói chung và chế tài phạt vi phạm nói riêng là vấn đề pháp lý quan
trọng trong việc xác định điều kiện để các bên trong quan hệ hợp đồng cũng như cơ
quan giải quyết tranh chấp có thể áp dụng các chế tài xử lý hành vi vi phạm.
Pháp luật thương mại được ban hành với mục đích tạo dựng hành lang pháp lý an
toàn, lành mạnh cho các bên tham gia quan hệ thương mại mà điển hình là quan hệ
hợp đồng. Các quy định về chế tài trong đó có chế tài phạt vi phạm cũng được ban
hành nhằm mục đích chung đó. Theo đó, các căn cứ để áp dụng chế tài sẽ cung cấp cơ
sở pháp lý quan trọng trong việc xác định điều kiện áp dụng chế tài để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên để chế tài phạt vi phạm
trong thương mại có thể phát huy được hết vai trò trong việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên thì trong hợp đồng, khi tiến hành thỏa thuận soạn thảo các điều
khoản, các bên cần có quy định về các trường hợp phạt vi phạm cũng như điều kiện
10 Khoản 3, Điều 4, Luật thương mại 2005
21
quan xét xử áp dụng mức phạt vi phạm vừa đúng pháp luật vừa đảm bảo tính công
bằng bình đẳng cho các bên. Trong thực tiễn xét xử Tòa án thường áp dụng mức phạt
vi phạm tối đa là 8% nếu trong hợp đồng các bên thỏa thuận mức phạt vi phạm vượt
quá 8%.
1.2.2.4.
Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với chế tài phạt vi phạm trong thương mại
Trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại, nhằm ngăn chặn, xử lý các hành
vi vi phạm hợp đồng, hệ thống pháp luật các quốc gia và quốc tế đều có quy định các
22
hình thức chế tài trong thương mại, trong đó có chế tài phạt vi phạm, mỗi hình thức
chế tài mang lại những hậu quả bất lợi khác nhau đối với bên vi phạm hợp đồng. Cùng
với các chế tài, pháp luật cũng quy định một số trường hợp, theo đó bên vi phạm
không phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do bị áp dụng các hình thức chế tài
thương mại, đó là các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Quy định
này của pháp luật thương mại nhằm dự liệu trước những sự cố nằm ngoài dự đoán có
thể xảy ra khiến cho một hoặc cả hai bên trong quan hệ hợp đồng thương mại không
thể thực hiện được nghĩa vụ của mình dẫn đến việc vi phạm hợp đồng.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các trường hợp miễn trách nhiệm này được
quy định tại Điều 294 Luật thương mại 2005. Điều 300 Luật thương mại 2005 về phạt
vi phạm cũng đã loại trừ áp dụng chế tài phạt vi phạm đối với các trường hợp miễn
trách nhiệm quy định tại Điều 294. Theo đó, chế tài phạt vi phạm trong thương mại sẽ
được miễn trách nhiệm cho bên vi phạm nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
•
•
•
•
pháp của chính mình, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật thương mại. Tuy
nhiên, thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật về chế tài, đặc biệt là chế tài phạt vi
phạm ở nước ta cho thấy còn tồn tại nhiều bất cập, đòi hỏi các nhà làm luật cần tiếp
tục sửa đổi bổ sung để bắt kịp với thực tiễn xã hội và xu hướng phát triển kinh tế đất
nước, đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Chương 2 của bài khóa luận tốt
nghiệp với đề tài “Pháp luật về chế tài phạt vi phạm trong thương mại và thực tiễn
thực hiện tại Công ty TNHH thương mại và sản xuất Nam Phát” sẽ tập trung vào việc
phân tích nhằm chỉ ra những điểm bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành
về chế tài phạt vi phạm và thực trạng áp dụng chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng
thương mại nói chung cũng như thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH thương mại và
sản xuất Nam Phát.
2.1.
Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh về chế
tài phạt vi phạm trong thương mại
2.1.1. Tổng quan tình hình
Luật thương mại 2005 được Quốc hội Việt Nam thông qua vào ngày 14 tháng 6
năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2006. Với những nội dung
tiến bộ, trong đó có các quy định về chế tài trong thương mại nói chung và chế tài phạt
vi phạm nói riêng, Luật thương mại 2005 đã có những tác động tích cực đến đời sống
kinh tế - xã hội của Việt Nam, từng bước đưa hoạt động thương mại ngày càng phát
triển lên tầm cao mới, khuyến khích và phát triển hoạt động thương mại hợp pháp,
ngăn chặn, xử lý các hành vi bất hợp pháp gây ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh
doanh và tạo cơ sở pháp lý phù hợp để Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế.
Chế tài phạt vi phạm đã được quy định trong các văn bản pháp luật như Luật
thương mại 1997, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, Bộ luật Dân sự 2005… Và với sự
ra đời của chế tài phạt vi phạm được quy định trong Luật thương mại 2005 thì phạt vi
phạm thực sự trở thành một chế định quan trọng để bảo vệ các bên trong quan hệ
thương mại. Hiện nay, chế định này ngày càng được các bên sử dụng nhiều hơn như
một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của mình trong các quan hệ hợp đồng hợp
đó có chế tài phạt vi phạm được quy định trong Luật thương mại 2005 lại càng cho
thấy được vai trò của mình trong việc đảm bảo tính công bằng, bình đẳng cho các giao
dịch thương mại giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Chế tài phạt vi phạm ngày càng
được quan tâm và được các bên thỏa thuận áp dùng nhiều trong hợp đồng thương mại
để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng.
2.1.2.2.Nhận thức của các chủ thể, đặc biệt là thương nhân
Kinh tế - xã hội phát triển, các giao dịch thương mại không ngừng tăng và có
nhiều vấn đề phát sinh, các thương nhân cũng ngày càng “khôn khéo” hơn trong việc
ký kết các điều khoản trong hợp đồng thương mại. Bên cạnh vấn đề lợi nhuận khi
tham gia giao kết các hợp đồng thương mại, những rủi ro luôn là bài toán mà các chủ
25