Lời mở đầu
Nền kinh tế Việt Nam sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đồi mới do
Đảng khới sướng và lãnh đạo, đất nước đã đạt được những thành tựu quan
trọng trong các lĩnh vực kinh tế,xã hội…đáng chú ý hơn ca đó là nền kinh tế
đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
có sự điều tiết của Nhà nước. Nó đã phá vỡ đi thế bị động của doanh nghiệp
trong quá trình sản xuất, để doanh nghiệp có thể chủ động trong quá trình sản
xuất cũng như tiêu dung trong sự quản lý và điều tiết của Nhà nước.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập ngày cáng sâu rộng vào nền kinh tế
trong khu vưc cũng như trên thế giới. Nền kinh tế Việt Nam nói chung và các
doanh nghiệp nói riêng đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới.
Việc làm sao có thể đánh giá đúng các cơ hội và thách thức đó cũng như có
những hướng giải quyết đúng đắn có ý nghĩa hêt sức quan trọng đối với sự
tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Để có thể đáp ứng được các vấn đề
đặt ra thì công ty phải có một chiến lược linh hoạt và có định hướng chiến
lược luôn thay đổi để phù hợp với môi trường luôn biến động từng giờ.
Là một công ty hoạt động độc lập, công ty Cổ phần Thương mại và sản
xuất Hợp Phát cũng đã xây dựng cho mình một chiến lược phù hợp đồng thời
cũng có định hướng chiến lược sao cho hoạt động kinh doanh luon đi đúng
đường ray của quá trình hội nhập.
Với nhận thực trên, trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Thương
mại và sản xuất Hợp Phát. Được sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn
GS.TS Nguyễn Văn Vận và từ phía công ty thực tập. Em đã manh dạn chọn
chuyên đề: Định hướng chiến lược kinh doanh tại công ty Cổ phần Thương
mại và sản xuất Hợp Phát. Chuyên đề này được bố cục như sau:
Phần I: Cơ sở lý luận định hướng chiến lược của công ty
Phần II: Phân tích môi trường kinh doanh của công ty
Phần III: Tim hiểu chiến lược của công ty Cổ phần Thương mại và sản
xuất Hợp Phát và những vấn đề tồn tại
Phần IV: Định hướng xác định chiến lược đến năm 2015và giai pháp
thực hiện định hướng chiến lược
+ Những lợi thế mà doanh nghiệp mông muốn có để chiến thắng đối
thủ cạnh tranh trong việc bài trí, sử dụng những khả năng đặc thù của nó như:
kỹ năng nguồn lực
+ Kết quả thu được từ cách thức mà doanh nghiệp sử dụng khai thác
những khar năng đặc thù của nó. Chiếc chìa khoá cho sự thành công của
doanh nghiệp nằm ở giai đoạn này, quá trình lựa chọn một số yếu tố quan hệ
nào đó để dựa vào đó doanh nghiệp phân biệt mình với các doanh nghiệp
khác.
a.Phân loại chiến lược kinh doanh
Từ những đặc điểm của chiến lược kinh doanh, chúng ta có thể nhận
thấy được tính tổng thể của nó trong hoạt động của một tố chức. Nó liên quan
đến những vấn đề lớn nhất then chốt nhấtvà quyết định nhất đến sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên không phải chỉ tồn tại một loại chiến
lược bao trùm tổng thể mọi lĩnh vực, khía cạnh. Để có một cái nhìn sâu sắc
hơn về chiến lược kinh doanh, chúng ta cần tiến hành phân loại để tìm ra
những cấp độ khác nhau trong việc hoạch định chiến lược.
Theo cách phân loại thông thường căn cứ vào nội dung của chiến lược,
chúng ta có thể chia chiến lược kinh doanh theo những lĩnh vực hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có thể chia thành 8 lĩnh vực:
Sản xuất, Maketing, Tài chính, Nhân sự, Tổ chức, Thông tin, Hành pháp chế
và nghiên cứu phát triển.
Trong từng lĩnh vực đòi hỏi phải có chiến lược bộ phận với những đặc
thù riêng các chiến lược bộ phận đó nằm trong sự thống nhất với chiến lược
cấp cao hơn, tạo nên sự thống nhất giữa các bộ phận lĩnh vực hoạt động của
doanh nghiệp.
Với cách tiếp cận mới chúng ta có thể phân loại chiến lược kinh doanh
theo cấp độ khác nhau.
Chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp được xây dựng trên các
căn cứ khác nhau, những mục đích khác nhau, với phương pháp không giống
nhau, nhưng đều bao gồm 2 phần: Chiến lược tổng quát và chiến lược bộ
- An toàn trong kinh doanh
Kinh doanh luôn luôn gắn liền với sự may rủi. Chiến lược kinh doanh
càng mạo hiểm thì khả năng thu lợi càng lớn, nhưng rủi ro càng nhiều. Rủi ro
là sự bất trắc trong kinh doanh, vì vậy khi hoạch định chiến lược kinh doanh,
doanh nghiệp không nên chỉ nghĩ đến việc dám chấp nhận nó mà phải tìm
cách ngăn ngừa, tránh né, hạn chế sự hiện diện của nó hoặc nếu rủi ro có xảy
ra thì thiệt hại cũng chỉ ở mức thấp nhất.
Các phương pháp thường được sử dụng để phòng ngừa rủi ro là: phòng
ngừa rủi ro bằng cách đa dạng hoá đầu tư, đa dạng hoá sản phẩm, bảo hiểm và
phân tích hoạt động kinh tế. Các mục tiêu chủ yếu trong chiến lược kinh
doanh sẽ qui định nội dung của các chiến lược bộ phận chỉ là sự cụ thể hoá
thêm một bước nội dung của chiến lược tổng quát.
(2) Nội dung của các chiến lược bộ phận.
Trên cơ sở nội dung chiến lược tổng quát, các doanh nghiệp xây dựng
các chiến lược bộ phận bao gồm:
- Chiến lược sản phẩm
- Chiến lược giá cả
- Chiến lược phân phối
- Chiến lược xúc tiến bán hàng.
Các chiến lược này là những biện pháp cơ bản nhất để thực hiện các mục
tiêu mà doanh nghiệp theo đuổi, là phương thức doanh nghiệp khai thác các
nguồn lực và khai thông các quan hệ sản xuất cụ thể. Các chiến lược then chốt
này là phần quan trọng trong chiến lược sản xuất kinh doanh xác định cho
doanh nghiệp cách thức cạnh tranh và giành thế lực trên thị trường.
1. Chiến lược sản phẩm:
Chiến lược sản phẩm là phương thức kinh doanh trên cơ sở bảo đảm thoả
mãn nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng trong từng thời kỳ
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói chiến lược sản phẩm là
xương sống của chiến lược kinh doanh. Thị trường cạnh tranh càng gay gắt,
vai trò của chiến lược sản phẩm càng trở nên quan trọng.
2. Chiến lược giá cả
Mặc dù trên thị trường hiện nay, cạnh tranh bằng giá cả ngày càng
nhường chỗ cho cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm, nhưng giá cả vẫn luôn
giữ vai trò quan trọng. Trong một nền kinh tế, giá cả thường là tiêu chuẩn xác
định lợi ích kinh tế giữa người mua và người bán. Như vậy, nếu chiến lược
sản phẩm định hướng cho việc sản xuất thì chiến lược giá cả định hướng cho
việc tiêu thụ.
Thực tế, hiện nay tại các doanh nghiệp thường phân loại chiến lược giá cả
thành 3 loại chính.
- Chiến lược ổn định giá: Chiến lược này nhằm duy trì cho mức giá hiện
đang bán. Chiến lược này được áp dụng trong điều kiện giá bán đã đáp ứng
được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận hoặc các mục tiêu khác của chiến lược
kinh doanh.
- Chiến lược tăng giá: Là chiến lược đưa giá lên cao hơn mức giá đang
bán của doanh nghiệp. Chiến lược này áp dụng trong trường hợp hàng hoá
của doanh nghiệp được ưa chuộng, khách hàng quá ngưỡng mộ về chất lượng
và các dịch vụ bán hàng của doanh nghiệp hoặc do yếu tố khách quan, chủ
quan nào đó dẫn tới tổng cầu về loại hàng hoá mà doanh nghiệp đang bán trên
thị trường tăng nhanh. Chiến lược tăng giá còn được áp dụng trong trường
hợp không mong muốn như lạm phát, vì lạm phát làm tăng giá của các yếu tố
đầu vào, nếu doanh nghiệp không áp dụng chiến lược tăng giá thì càng sản
xuất càng bán được nhiều hàng hoá thì càng lỗ.
Trong tất cả các trường hợp khi áp dụng chiến lược tăng giá, doanh
nghiệp phải chú ý đến phản ứng của khách hàng cũng như của các đối thủ
cạnh tranh nếu không sẽ không tránh khỏi thất bại.
Nội dung của chiến lược giá cả là phải đưa ra được mục tiêu và căn cứ
định giá. Mục tiêu trong chiến lược giá cả phải thể hiện được mục tiêu của
chiến lược tổng quát và nhằm đạt được mục tiêu tổng quát. Căn cứ định giá là
trong chiến lược giá cả phải xác định một khung để hướng dẫn quá trình xác
lập các mức giá cụ thể sau này cho từng loại sản phẩm. Khung giá xác định
pháp phân phối này có ưu điểm là người sản xuất hiểu rõ được yêu cầu của thị
trường, tạo cơ hội cho nhà sản xuất nâng cao được uy tín và đối phó kịp thời
với những thay đổi trên thị trường. Nhưng chiến lược này lại có một nhược
điểm là tốc độ tiêu thụ hàng hoá chậm và nếu rủi ro xảy ra thì thường doanh
nghiệp phải gánh chịu phần thiệt hại.
- Phân phối gián tiếp: Chiến lược phân phối gián tiếp được tiến hành
thông qua khâu trung gian, nên có nhược điểm là nhà sản xuất không có quan
hệ trực tiếp với người tiêu dùng và thị trường. Do đó, nhà sản xuất nắm thông
tin về thị trường chậm, không trực tiếp gây ấn tượng với khách hàng về loại
sản phẩm của mình, không kiểm soát được giá bán. Nhưng đồng thời, chiến
lược phân phối này có ưu điểm lớn là doanh nghiệp tiêu thụ được khối lượng
hàng hoá lớn, thanh toán đơn giản và ít bị rủi ro.
Nội dung của chiến lược phân phối bao gồm 3 vấn đề
- Mục tiêu của chiến lược phân phối: là phân phối nhanh, tiêu thụ được
nhiều sản phẩm, đảm bảo chất lượng với chi phí thấp.
- Xây dựng chiến lược phân phối: dựa vào đặc điểm của hàng hoá và đặc
điểm của khách hàng.
- Lựa chọn kênh phân phối phải phù hợp với đặc điểm sản phẩm và đặc
điểm của khách hàng. Các loại kênh phân phối được khái quát qua sơ đồ sau:
Qua sơ đồ trên, doanh nghiệp có thể lựa chộn các kênh phân phối thông qua 4
khả năng trên:
Khả năng 1: người sản xuất bán trực tiếp sản phẩm của mình cho người
tiêu dùng cuối cùng.
Khả năng 2: người sản xuất cung ứng cho người tiêu dùng thông qua
khâu trung gian là người bán lẻ.
Khả năng 3: người sản xuất bán cho người bán buôn để họ bán cho
người bán lẻ và người bán lẻ bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Khả năng 4: người sản xuất bán cho người bán buôn độc quyền tất cả số
lượng sản phẩm để rồi họ lại bán cho một số người bán buôn khác. Sau đó,
người bán buôn này lại bán cho người. bán lẻ và người bán lẻ cung ứng cho
- Xác định mục tiêu của chiến lược: Đẩy mạnh bán hàng thông qua việc
tạo thói quen mua hàng hoá của doanh nghiệp, kích thích và lôi kéo đối tượng
khách hàng còn thờ ơ với hàng hoá của doanh nghiệp và tạo sức mua ban đầu.
- Xác định đối tượng, nội dung, loại hình, phương tiện và tiến hành
quảng cáo tiếp thị lúc nào, chi phí bao nhiêu.
Nói tóm lại, dù có nhiều chiến lược khác nhau song nội dung của chiến
lược quảng cáo và tiếp thị không ngoài mục đích đẩy mạnh việc bán hàng, tạo
thói quen cho khách hàng luốn nhớ đến sản phẩm, dịch vụ của mình khi có
nhu cầu...
3 Vai trò và nhiệm vụ của chiến lược kinh đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh trong doanh nghiệp
a. Vai trò của chiến lược kinh doanh.
Trước hết chúng ta cấn khẳng định rằng mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
phải hướng vào một mục tiêu xác định. Mục tiêu đó sẽ là động lực chính thúc
đẩy doanh nghiệp nỗ lực hành động để đạt được nó. Thường thì các doanh
nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều có những mục tiêu giống nhau là
xâm nhập thị trường, tăng lợi nhuận, mở rộng thị phần…Nếu như các mục
tiêu này không đươc xác lập rõ ràng thì chẳng khác nào doanh nghiệp bước
trên cái cầu bập bênh, có nguy cơ sụp xuống trước những biến động không
ngừng của thị trường. Do vậy, yếu tố cần thiết nhất khi tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh là phải có mục tiêu phải rõ ràng. Nhưng nếu thực tế đặt
ra rằng để xác định được mục tiêu thì cần phải tiến hành các hoạt động nghiên
cứu, đánh giá phân tích các yếu tố thị trường, nhu cầu của thị trường môi
trường kinh doanh, công nghệ…để hình thành nên mục tiêu. Đồng thời phải
có căn cứ về nguồn nhân lực là cơ sở xây dựng mục tiêu. Như vậy, vai trò thứ
nhất của chiến lược sản xuất kinh doanh là xác lập căn cứ, có cơ sở những
doanh mục cho doanh nghiệp.
Vai trò thứ hai của chiến lược sản xuất kinh doanh là cách thưc phối hợp mọi
nguồn lực tập trung vào giải quyết một mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp. Tại
sao chiến lược doanh nghiệp lại làm được điều đó? Trước tiên ta phải xem xét
nhỏ khác để có cơ sở thực hiện mục tiêu chính.Mỗi một mục tiêu nhỏ có
những nhiệm vụ riêng,cần được phân chia thực hiện theo chức năng của từng
bộ phận trong doanh nghiệp.Mối liên kết chặt chè giữa các mục tiêu nhỏ và
mục tiêu lớn là căn cứ đảm bảo chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là có
tính khả thi.
Về chương trình hành động là cách thức triển khai thực hiện mục tiêu
đặt ra. Những cơ sở để xây dựng chương trình dựa trên các nguồn lực của
doanh nghiệp.Cách thức triển khai chính là sử dụng các nguồn lực này để giải
quyết từng nhiệm vụ được chi tiết rõ trong từng mục tiêu con.Tuy nhiên
chương trình phải có sự sắp xếp thứ tự hợp lý không gây xáo trộn khi triển
khai.
5. Quy trình lập chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp
Quá trình xây dựng một chiến lược kinh doanh phải trải qua 3 bước:
- Bước 1: Tìm kiếm các cơ hội kinh doanh và nghiên cứu dự báo nhu cầu
của thị trường.
- Bước 2: Xây dựng các chiến lược kinh doanh.
- Bước 3: Lựa chọn và quyết định các chiến lược kinh doanh.
a. Tìm kiếm các cơ hội kinh doanh và nghiên cứu dự báo nhu cầu của thị
trường.
Hiếm có doanh nghiệp nào độc chiếm cả một thị trường rộng lớn mà
không vấp phải sự cạnh tranh của nhiều đối thủ cùng ngành. Tự do kinh
doanh trong cơ chế thị trường làm cho thị trường bị xé lẻ ra cho nhiều doanh
nghiệp. Vì vậy, việc tìm kiếm cơ hội kinh doanh là cần thiết, rất quan trọng
đối với một doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Cơ cấu thị trường luôn thay
đổi, việc tìm tòi và phát hiện cơ hội kinh doanh cần phải được nghiên cứu và
phân tích kỹ lưỡng, đặc biệt là nghiên cứu dự báo nhu cầu thị trường.
Nhu cầu của thị trường về các nhóm hàng, dịch vụ nào đó luôn đa dạng
và ngày càng mở rộng, nâng cao, nên kẽ hở thị trường không phải là hiếm.
Công việc của các nhà marketing của một doanh nghiệp là phải phát hiện
những kẽ hở này để tạo ra các hướng gợi mở, cơ hội kinh doanh mới. Các
- Phải đảm bảo sự an toàn kinh doanh cho doanh nghiệp, nghĩa là chiến
lược kinh doanh phải có vùng an toàn, trong đó nếu rủi ro xảy ra thì doanh
nghiệp vẫn sản xuất kinh doanh ở mức bình thường.
- Phải xác định phạm vi kinh doanh, mục tiêu và những điều kiện cơ bản
để thực hiện mục tiêu. Xác định phạm vi kinh doanh đòi hỏi chiến lược kinh
doanh phải đảm bảo không có tình trạng dàn trải nguồn lực hoặc không sử
dụng hết nguồn lực. Xác định mục tiêu phải phù hợp với các điều kiện cụ thể
và phải chỉ ra những mục tiêu cơ bản nhất, then chốt nhất. Đi kèm với mục
tiêu, cần có những hệ thống các chính sách biện pháp, điều kiện vật chất, kỹ
thuật lao động làm tiền đề cho việc thực hiện các mục tiêu ấy.
- Phải dự đoán được môi trường kinh doanh trong tương lai. Dự đoán
càng chính xác, chiến lược kinh doanh càng phù hợp. Muốn vậy cần phải có
được một khối lượng thông tin và tri thức nhất định, đồng thời phải có
phương pháp tư duy đúng đắn để có được cái nhìn thực tế và sáng suốt về tất
cả những gì mà doanh nghiệp có thể phải đương đầu trong tương lai.
- Phải có chiến lược dự phòng vì chiến lược kinh doanh là để thực thi
trong tương lai mà tương lai luôn luôn là những gì chưa chắc chắn. Vì vậy,
khi hoạch định chiến lược kinh doanh phải tính đến khả năng xấu nhất mà
doanh nghiệp có thể gặp phải.
- Phải kết hợp giữa độ chín muồi với thời cơ. Chiến lược kinh doanh
không chín muồi thì doanh nghiệp sẽ thất bại nhưng chiến lược kinh doanh
quá chín muồi doanh nghiệp sẽ thất bại vì mất thời cơ.
(2)Cơ sở xây dựng chiến lược kinh doanh.
Để xây dựng chiến lược kinh doanh phải xuất phát từ nhiều cơ sở khác
nhau. Trong đó có 3 cơ sở chủ yêú thường được gọi là tam giác chiến lược :
- Khách hàng
- Khả năng của doanh nghiệp
- Đối thủ cạnh tranh
Căn cứ vào khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát
năng và nguồn lực của mình, từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh có tính
khả thi cao.
Căn cứ vào khả năng của doanh nghiệp
Trong những năm gần đây, sự phát triển của doanh nghiệp tăng nhanh
hơn so với nhu cầu của thị trường, và sự cạnh tranh ngày càng trở nên khốc
liệt hơn. Vì vậy, các doanh nghiệp phải biết phát huy tối đa các thế mạnh của
mình trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh. Khả năng khai thác thế
mạnh của một doanh nghiệp trong thực tế rất đa dạng bởi vì bất cứ một doanh
nghiệp nào so với các doanh nghiệp khác cũng có mặt mạnh hơn, mặt kém
hơn. Khi hoạch định chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp cần khai thác triệt
để mặt mạnh và dần khắc phục những mặt còn yếu kém. Mặt khác, doanh
nghiệp cần phải biết nhân tố nguồn lực một cách hiệu quả. Ba nguồn lực cơ
bản của doanh nghiệp là: con người, tiền vốn, vật lực phải được sử dụng sao
cho cân đối và có hiệu quả thì sẽ phát huy cao độ thế mạnh của doanh nghiệp.
Căn cứ vào đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là một trong những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
của Công ty. Nếu khách hàng là mục tiêu hàng đầu của Công ty đòi hỏi sự
thoả mãn khách hàng để thu lợi nhuận thì đối thủ cạnh tranh chính là một
trong những tác nhân chính yếu ảnh hưởng tới sự thành công của doanh
nghiệp.
Để xây dựng chiến lược kinh doanh tốt và hợp lý doanh nghiệp cần căn
cứ vào sự so sánh các khả năng của doanh nghiệp mình với đối thủ cạnh tranh
để thông qua đó doanh nghiệp tìm ra được lợi thế cho mình.
Khi một doanh nghiệp tham gia vào cạnh tranh với các đối thủ khác
trong một ngành kinh doanh nào đó thì có hai vấn đề cần phải xem xét:
- Những cản trở với doanh nghiệp khi xâm nhập vào một ngành kinh
doanh.
- Phản ứng của đối thủ cạnh tranh trong ngành đó. Dựa vào những câu
trả lời các vấn đề trên doanh nghiệp mới ra các quyết định phù hợp.
Trên đây, chúng ta đã phân tích những cơ sở chủ yếu để xây dựng chiến
Đây là ba nguyên tắc không thể thiếu được khi đánh giá, lựa chọn một
chiến lược kinh doanh.
(2). Tiêu chuẩn thẩm định và đánh giá chiến lược kinh doanh
- Tiêu chuẩn về mặt định lượng
Chiến lược kinh doanh thường gắn với các chỉ tiêu số lượng như khối
lượng bán, phần thị trường, tổng doanh thu và lợi nhuận... Do vậy, tiêu chuẩn
thẩm định và đánh giá chiến lược kinh doanh có thể dựa trên các chỉ tiêu này.
- Tiêu chuẩn về mặt định tính
Bên cạnh các tiêu chuẩn định lượng còn có các tiêu chuẩn định tính để
thẩm định và đánh giá chiến lược kinh doanh. Các tiêu chuẩn định tính được
nhiều doanh nghiệp coi trọng và lựa chọn là: thế lực của doanh nghiệp, độ an
toàn trong kinh doanh và sự thích ứng chiến lược với thị trường.
(3). Lựa chọn và quyết định chiến lược kinh doanh
Dựa trên những nguyên tắc và tiêu chuẩn đề ra, doanh nghiệp tiến hành
so sánh các chiến lược đã dự kiến với mục đích tìm ra được một chiến lược để
thực hiện. Chiến lược được quyết định dựa vào thực hiện phải là chiến lược
tối ưu hoặc ít nhất cũng phải vượt trội trong các chiến lược đã xây dựng.
Công việc lựa chọn và quyết định gồm các bước sau:
Bước 1: Lựa chọn các tiêu chuẩn chung để so sánh các chiến lược dự
kiến: lợi nhuận, an toàn trong kinh doanh, thế lực trong cạnh tranh...
Bước 2: Chọn thang điểm cho các tiêu chuẩn để có mức điểm thể hiện
mức độ đáp ứng tiêu chuẩn đề ra của các chiến lược.
Bước 3: Tiến hành cho điểm từng tiêu chuẩn thông qua sự phân tích.
Bước 4: Tiến hành so sánh và lựa chọn. Về nguyên tắc, chiến lược được
chọn là chiến lược có tổng số điểm cao nhất, hoặc chiến lược có mức trung
bình điểm cao nhất, thể hiện cao tính khả thi.
II. Định hướng chiến lược và sự cần thiết của nó trong nền kinh tế thị
trường hiện nay.
1. Khái niệm và mục tiêu của hoạch định chiến lươc kinh doanh
Hiện nay tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về công tác định hướng