Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH Dịch vụ và sản xuất Anh Hiếu - Pdf 70

z
SV: Đoàn Thị Hà Giang_0754020010 GVHD: Đồng Xuân Ninh
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CHU VĂN AN
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG
TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH
DỊCH VỤ VÀ SẢN XUẤT ANH HIẾU”
Giảng viên hướng dẫn : Đồng Xuân Ninh
Sinh viên thực hiện : Đoàn Thị Hà Giang
Lớp : 07K3C
Mã số sinh viên : 0754020010
Hưng Yên, tháng 04 năm 2011
Khoa KT&QTKD Trường ĐH Chu Văn An 1
SV: Đoàn Thị Hà Giang_0754020010 GVHD: Đồng Xuân Ninh
LỜI NÓI ĐẦU
Trước đây, Nhà nước ta quản lý theo cơ chế tập trung bao cấp cho nên doanh
nghiệp không phải lo về thị trường tiêu thụ. Sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra được
Nhà nước phân phối đến các đơn vị có nhu cầu. Tuy nhiên, từ sau đại hội VI năm
1986, với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước mọi doanh nghiệp sản xuất
ngoài việc thực hiện tốt sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất còn phải tìm cho mình
một thị trường phù hợp để tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra. Trong khi đó, thị trường thì
có hạn về tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa là sản phẩm được sản xuất ra để bán
nhằm thực hiện những mục tiêu đã định trong chương trình hoạt động của người sản
xuất của mỗi doanh nghiệp. Do đó, tiêu thụ sản phẩm là một khâu quan trọng của tái
sản xuất xã hội.
Quá trình tiêu thụ sản phẩm chỉ kết thúc khi quá trình thanh toán giữa người
mua và người bán đã diễn ra và quyền sở hữu hàng hóa đã thay đổi. Thông qua công
tác tiêu thụ người ta có thể đánh giá được hiệu quả của các quá trình trước đó như
nghiên cứu thị trường, quản lý sản phẩm, quản lý chất lượng, quảng cáo, xúc tiến,

+ Số liệu nghiên cứu đề tài lấy trong ba năm 2008, 2009 và 2010.
Đề tài được xây dựng trên cơ sở lý luận về vấn đề hiệu quả công tác tiêu thụ
sản phẩm cùng với việc sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, nghiên cứu thống kê,
phân tích số liệu, nắm bắt thông tin từ hoạt động thực tế nhằm phát hiện ra nguyên
nhân thành công hay những hạn chế trong công tác tiêu thụ sản phẩm. Từ đó đưa ra
một số ý kiến đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác tiêu thụ sản phẩm của công
ty.
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của chuyên
đề gồm ba phần:
Phần I: Lý luận chung về tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường.
Phần II: Thực trạng tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH dịch vụ và sản
xuất Anh Hiếu.
Phần III: Phương hướng, giải pháp và một số kiến nghị nhằm thúc đẩy
hoạt động tiêu thụ của Công ty TNHH dịch vụ và sản xuất Anh Hiếu.
Khoa KT&QTKD Trường ĐH Chu Văn An 3
SV: Đoàn Thị Hà Giang_0754020010 GVHD: Đồng Xuân Ninh
PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở CÁC
DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Khái niệm, vai trò và nhiệm vụ của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1.1.1. Những khái niệm cơ bản về tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là khâu lưu thông hàng hóa, là cầu nối trung gian giữa hai
bên sản xuất và phân phối bán hàng. Là việc đưa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ từ
người sản xuất đến người tiêu dùng, thực hiện việc thay đổi quyền sở hữu tài sản.
Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm là một quá trình từ việc tìm hiểu nhu cầu
khách hàng trên thị trường, tổ chức mạng lưới bán hàng, xúc tiến bán hàng, các hoạt
động hỗ trợ bán hàng tới việc thực hiện dịch vụ sau bán hàng.
Trong cơ chế thị trường, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều tùy thuộc vào
khả năng tiêu thụ, nhịp độ tiêu thụ quy mô quy định nhịp độ sản xuất, thị hiếu của

Mục tiêu chủ yếu của hoạt động tiêu thụ sản phẩm là bán hết các sản phẩm với
doanh thu tối đa và chi phí cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm là tối thiểu. Với mục tiêu
đó, tiêu thụ sản phẩm không phải là hoạt động thụ động, chờ bộ phận sản xuất tạo ra
sản phẩm mới tìm cách tiêu thụ chúng mà tiêu thụ phải có nhiệm vụ chủ động từ việc
nghiên cứu thị trường, xác định đúng đắn cầu của thị trường về sản phẩm và khả
năng doanh nghiệp đang hoặc sẽ có khả năng sản xuất để quyết định đầu tư tối ưu.
Bên cạnh đó, phải chủ động tiến hành các hoạt động quảng cáo cần thiết nhằm giới
thiệu và thu hút khách hàng. Tổ chức công tác bán hàng cũng như các hoạt động yểm
trợ nhằm bán được nhiều hàng hóa với chi phí kinh doanh cho hoạt động bán hàng là
thấp nhất cũng như đáp ứng tốt nhất các dịch vụ sau bán hàng. Từ đó tạo ra cho
doanh nghiệp một lượng khách hàng truyền thống, trung thành với doanh nghiệp.
1.2. Những nội dung của hoạt động tiêu thụ trong các doanh nghiệp
Tùy theo quy mô sản xuất kinh doanh và tầm quan trọng của hoạt động tiêu
thụ mà các doanh nghiệp tổ chức các hoạt động tiêu thụ sản phẩm khác nhau. Đối với
doanh nghiệp công nghiệp, hoạt động tiêu thụ thường bao gồm những nội dung sau:
- Nghiên cứu thị trường
- Kế hoạch hóa tiêu thụ
- Chính sách marketing – mix
- Tổ chức hoạt động tiêu thụ
1.2.1.Nghiên cứu thị trường
1.2.1.1. Khái quát thị trường
Khoa KT&QTKD Trường ĐH Chu Văn An 5
SV: Đoàn Thị Hà Giang_0754020010 GVHD: Đồng Xuân Ninh
a. Thị trường
Có nhiều quan niệm khác nhau về thị trường. Trong đề tài này xin nêu ra một
số quan niệm phổ biến sau:
Thị trường là tổng hợp các quan hệ kinh tế hình thành trong hoạt động mua và
bán.
Thị trường là nơi gặp nhau giữa cung và cầu, bao gồm cả hai phạm vi:
- Đối tượng lưu thông hàng hóa và dịch vụ

- Tìm hiểu kỹ thuật của việc nghiên cứu dự báo thị trường của các đối thủ cạnh
tranh, nhất là các đối thủ trực tiếp nhiều đe dọa (đối thủ tiềm tàng).
Với năm mục tiêu của việc nghiên cứu thị trường nêu trên không phải doanh
nghiệp nào cũng có thể thực hiện.
1.2.1.2.Các nội dung chủ yếu của nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường có thể được thực hiện ở từng doanh nghiệp hoặc trong
phạm vi toàn bộ ngành kinh tế - kỹ thuật nào đó. Theo Schafer nghiên cứu thị trường
quan tâm đến ba lĩnh vực lớn là cầu về sản phẩm, cạnh tranh về sản phẩm và mạng
lưới tiêu thụ.
a. Nghiên cứu cầu
Cầu về sản phẩm là một phạm trù phản ánh một bộ phận nhu cầu có khả năng
thanh toán của thị trường về một loại snar phẩm nào đó. Nghiên cứu cầu nhằm xác
định được các dữ liệu vê cầu trong hiện tại và khoảng thời gian trong tương lai xác
định nào đó. Nghiên cứu cầu thông qua các đối tượng có cầu như doanh nghiệp, gia
đình và các tổ chức xã hội khác.
Nghiên cứu cầu có thể phân thành hai loại là sản phẩm và dịch vụ, trên cơ sở đó
lại tiếp tục phân thành vật phẩm tiêu dùng hay tư liệu sản xuất, dịch vụ thành nhiều
loại dịch vụ khác nhau. Trong xác định cầu về sản phẩm tiêu dùng cần chú ý đến đối
tượng sẽ trở thành người có cầu, những người có cầu phải được phân thành các nhóm
theo tiêu thức khác nhau như độ tuổi, giới tính,… Đối với nhiều loại sản phẩm tiêu
dùng mức thu nhập là nhân tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất. Ngoài ra, nghiên cứu
cầu còn dựa trên cơ sở phân chia cầu theo khu vực tiêu thụ, mật độ dân cư.
Với cầu là các doanh nghiệp thì phải nghiên cứu số lượng và quy mô của các
doanh nghiệp có cầu, tính chất sử dụng sản phầm hiện tại và khả năng thay đổi trong
tương lai.
Nghiên cứu thị trường nhằm xác định những thay đổi của cầu do tác động của
các nhân tố như mốt sự ưa thích, sản phẩm thay thế, thu nhập và mức sống của người
tiêu dùng. Đồng thời, nghiên cứu cầu cũng phải giải thích phản ứng cụ thể của người
tiêu dùng trước các chiến lược quảng cáo, các phản ứng của đối thủ cạnh tranh trước
những chính sách bán hàng mới của doanh nghiệp. Ngoài ra, nghiên cứu cầu còn

Để nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp cần tiến hành theo một quy trình nhất
định của người quản lý. Hoạt động nghiên cứu thị trường của các doanh nghiệp công
nghiệp được tiến hành theo phương pháp gián tiếp hay trực tiếp phụ thuộc vào việc
doanh nghiệp sản xuất mặt hàng gì? Mục đích nghiên cứu như thế nào?
Khoa KT&QTKD Trường ĐH Chu Văn An 8
SV: Đoàn Thị Hà Giang_0754020010 GVHD: Đồng Xuân Ninh
1.2.2. Kế hoạch hóa tiêu thụ
Kế hoạch hóa là việc dự kiến trước các phương án sử dụng nguồn nhân lực để
thực hiện những hoạt động cụ thể nào đó trong khoảng thời gian nhất định nào đó
nhằm đạt được những mục tiêu đã đặt ra trước đó.
Vai trò của kế hoạch hóa:
- Kế hoạch hóa là cơ sở để thực hiện các chức năng quản lý khác.
- Kế hoạch hóa đi liền với phân tích và dự báo nhu cầu thị trường và những biến
động của môi trường kinh tế, do đó lập kế hoạch sẽ cho phép doanh nghiệp
phản ứng linh hoạt trươc những thay đổi của môi trường kinh doanh.
Trong một thời gian dìa nước ta đã duy trì một cơ chế kế hoạch hóa tập trung
quan liêu bao cấp từ trên xuống dưới dẫn đến cuộc khủng hoảng toàn diện, sâu sắc
vào những năm đầu của thập kỷ 80 và hậu quả của nó kéo dài nhiều năm sau đó. Do
đó, trong hiện tại khi nhắc đến kế hoạch hóa thường làm cho con người e ngại và
nghi ngờ hiệu quả của nó. Tuy nhiên, kế hoạch hóa ở đây không phải là kế hoạch hóa
tập trung qứng nhắc như trước đây mà là linh hoạt, mềm dẻo, giữa chúng có sự khác
nhau cơ bản về nội dung và phương pháp lập kế hoạch. Về phương pháp lập kế
hoạch, kế hoạch hóa tập trung lập theo phương pháp từ trên xuống, còn kế hoạch hóa
linh hoạt lập kế hoạch theo phương pháp từ dưới lên hoặc theo phương pháp hỗn
hợp, tức là phương pháp kết hợp lập kế hoạch từ dưới lên và từ trên xuống sao cho
kế hoạch là tối ưu và mang tính khả thi cao.
Nội dung của kế hoạch hóa tiêu thụ:
1.2.2.1. Kế hoạch hóa bán hàng
Kế hoạch hóa bán hàng là việc xây dựng một cách hợp lý số lượng, cơ cấu,
chủng loại các mặt hàng mà doanh nghiệp sẽ bán trong một thời kỳ nhất định.

chi phí không cần thiết làm mất tác dụng của quảng cáo. Thông thường hiệu quả của
quảng cáo được đánh giá qua doanh thu của sản phẩm với chi phí của hoạt động
quảng cáo. Ngoài ra còn xem xét việc hoàn thành các mục tiêu đặt ra cho quảng cáo.
Việc xác định chi phí cho hoạt động quảng cáo cũng là một vấn đề quan trọng trong
kế hoạch hóa quảng cáo. Chi phí quảng cáo thường được xác định theo một tỉ lệ cố
định phụ thuộc vào tình trạng kinh doanh của doanh nghiệp hoặc theo các mục tiêu
của quảng cáo.
1.2.2.4. Kế hoạch hóa chi phí kinh doanh tiêu thụ
Chi phí kinh doanh tiêu thụ sản phẩm là mọi loại chi phí kinh doanh xuất hiện
gắn liền với hoạt động tiêu thụ. Đó là các chi phí kinh doanh về lao động và hao phí
vật chất liên quan đến bộ phận tiêu thụ bao gồm cả hoạt động kế toán, báo cáo, thanh
toán cũng như các hoạt động bán hàng, quảng cáo, nghiên cứu thị trường, vận
Khoa KT&QTKD Trường ĐH Chu Văn An 10
SV: Đoàn Thị Hà Giang_0754020010 GVHD: Đồng Xuân Ninh
chuyển, bao gói, lưu kho, quản trị hoạt động tiêu thụ… Trong thực tế, chi phí kinh
doanh tiêu thụ chịu ảnh hưởng rất lớn của nhân tố cạnh tranh, của các chi phí kinh
doanh quảng cáo và bao gói cho từng loại sản phẩm cụ thể chứ không liên quan với
chi phí kinh doanh sản xuất ra loại sản phẩm đó nên không thể phân bổ chi phí kinh
doanh tiêu thụ theo tiêu chí chi phí kinh doanh sản xuất. Để xác định chi phí kinh
doanh tiêu thụ cho từng loại sản phẩm một cách chính xác sẽ phải tìm cách tập hợp
chi phí kinh doanh tiêu thụ và phân bổ chi phí.
Sự phân loại và phân chia chi phí kinh doanh tiêu thụ càng khoa học, sát thực
tế bao nhiêu càng tạo điều kiện cho việc tính toán và xây dựng kế hoạch chi phí kinh
doanh cho hoạt động tiêu thụ bấy nhiêu. Mặt khác, việc tính toán chi phí kinh doanh
tiêu thụ cho việc thực hiện từng nhiệm vụ gắn với hoạt động tiêu thụ lại làm cơ sở để
so sánh và lựa chọn các phương tiện, chính sách tiêu thụ cần thiết với mục đích thúc
đẩy tiêu thụ với chi phí kinh doanh nhở nhất. Trên cơ sở kế hoạch hóa tiêu thụ và chi
phí kinh doanh tiêu thụ có thể thực hiện việc kiểm tra tính hiệu quả khi thực hiện
từng nhiệm vụ cụ thể.
1.2.3. Các chính sách Marketing – Mix trong doanh nghiệp

1.2.3.2. Chính sách giá cả
Chính sách giá cả được sử dụng như một công cụ chính sách tiêu thụ với giới
hạn chặt chẽ hơn. Người sản xuất không thể tự ý đặt giá cao vì người mua luôn có xu
hướng thỏa mãn tối đa nhu cầu của mình với chi phí thấp nhất, song cũng không thể
hạ giá thấp gây tâm lý lo ngại và tiêu cực về sản phẩm rẻ của khách hàng. Bên cạnh
đó, mức giá bán cũng không thể áp dụng cứng nhắc mà cần có sự điều chỉnh liên tục
cho phù hợp với thị trường. Tuy vậy, việc định giá cũng phải phù hợp với các mục
tiêu mà doanh nghiệp đặt ra như: tối đa hóa doanh thu, tối đa hóa lợi nhuận, thâm
nhập và chiếm lĩnh thị trường…
Chính sách giá cả phải được thiết lập trên hai yếu tố chủ yếu là chi phí sản
xuất sản phẩm và các điều kiện khách quan của thị trường. Vì vậy, một chính sách
giá cả hợp lý và có hiệu quả là khi nó được hình thành từ kết quả phân tích những tác
động tổng hợp từ hai phía đó.
Căn cứ hình thành chính sách giá cả:
- Tính toán và phân tích chi phí sản xuất.
- Phân tích và dự báo nhu cầu thị trường.
- Các mục tiêu thị trường cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Giá cả của các đối thủ cạnh tranh.
- Các chính sách vĩ mô của chính phủ.
- Các phân đoạn thị trường sản phẩm khác nhau.
Các chính sách giá cả có thể là:
- Chính sách đặt giá cao (lướt qua thị trường)
Khoa KT&QTKD Trường ĐH Chu Văn An 12
SV: Đoàn Thị Hà Giang_0754020010 GVHD: Đồng Xuân Ninh
- Chính sách đặt giá thấp (thâm nhập thị trường)
- Chính sách đặt giá theo giá cả bình quân trên thị trường
- Chính sách giá giới hạn (ngăn chặn sự gia nhập của các doanh nghiệp mới)
- Chính sách giá phân biệt
- Chính sách phá giá
- Chính sách tối đa hóa doanh thu

trực tiếp cho người tiêu thụ cuối cùng, mà họ phải bán cho các đại lý, các công ty,
các cửa hàng thương mại của các thành phần kinh tế và san sẻ bớt lwoij ích cho
họ và tất yếu cũng là việc san sẻ bớt các rủi ro về số sản phẩm đac chuyển các tổ
chức.
a. Kênh phân phối trực tiếp
Loại kênh này thường sử dụng để phân phối các hàng hóa có tính chất dễ vỡ,
mau hỏng, mua về dùng ngay (lương thực thực phẩm, thức ăn đã chế biến, bánh
kẹo…). Ưu điểm của kênh này là đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, gắn bó người
sản xuất với người tiêu dùng, thông tin thị trường nhanh nhạy, chính xác, không phải
chia sẻ lợi nhuận với người trung gian. Tuy nhiên, lại có nhược điểm là không
chuyên môn hóa, lẻ tẻ, phức tạp, không áp dụng địa bàn hẹp.
b. Kênh phân phối gián tiếp
- Kênh gián tiếp ngắn:
Kênh này được sử dụng trong trường hợp quy mô sản xuất của doanh nghiệp
là tương đối lớn, nhà sản xuất đảm nhiệm chức năng tự bán buôn. Kênh này có ưu
điểm là phát huy được ưu thế của kênh phân phối trực tiếp, giải phóng được người
sản xuất ra khỏi chức năng lưu thông. Còn nhược điểm là chưa phát huy được tính ưu
việt của phân công lao động xã hội trình độ cao, phân bố dự trữ trong kênh không cân
đối và do phải qua khâu trung gian nên khâu thu thập thông tin thị trường chậm hơn,
độ chính xác giảm.
- Kênh gián tiếp trung gian:
Khoa KT&QTKD Trường ĐH Chu Văn An 14
Người sản
xuất
Người tiêu
dùng
Người sản xuất Người bán lẻ Người tiêu dùng
Người sản
xuất
Người bán

trường,… để từ đó doanh nghiệp lựa chọn kênh phân phối tối ưu.
1.2.3.4. Chính sách xúc tiến
Đây là một trong bốn nhóm công cụ chủ yếu của marketing – mix mà doanh
nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt mục tiêu kinh
doanh của doanh nghiệp. Bản chất của các hoạt động xúa tiến chính là tuyên truyền
Khoa KT&QTKD Trường ĐH Chu Văn An 15
Người sản
xuất
Người môi
giới
Người bán
buôn
Người bán
lẻ
Người tiêu
dùng
SV: Đoàn Thị Hà Giang_0754020010 GVHD: Đồng Xuân Ninh
thông tin về sản phẩm của doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết phục họ mua. Vì
vậy, có thể gọi đây là hoạt động truyền thông marketing.
Một số chính sách xúc tiến chủ yếu thường được các công ty sử dụng là:
- Quảng cáo: bao gồm mọi hình thức giới thiệu một cách gián tiếp và đề cao
những ý tưởng, hàng hóa hoặc dịch vụ được thực hiện theo yêu cầu của chủ thể
quảng cáo và chủ thể phải thanh toán các chi phí.
- Xúc tiến bán: là những biện pháp tác động tức thời ngắn hạn để khuyến khích
việc mua sản phẩm hoặc dịch vụ.
- Tuyên truyền: là việc kích thích một cách gián tiếp nhằm tăng nhu cầu về hàng
hóa, dịch vụ hay tăng uy tín của một đơn vị kinh doanh bằng cách đưa ra những
ý tin tức có ý nghĩa về thương mại về chúng trên các ấn phẩm, các phương tiện
thông tin đại chúng một cách thuận lợi và miễn phí.
- Bán hàng cá nhân: là sự giới thiệu bằng miệng về hàng hóa và dịch vụ của

các thành viên trong kênh với doanh nghiệp.
1.2.4.2. Tổ chức hoạt động bán hàng
Để tổ chức hoạt động bán hàng cần xác định số trang thiết bị bán hàng cần
thiết, số lượng nhân viên phục vụ cho công tác bán hàng, do đặc điểm của công tác
bán hàng là hoạt động giao tiếp thường xuyên với khách hàng nên việc lựa chọn nhân
viên bán hàng là hoạt động quan trọng nhất. Người bán hàng cần có đầy đủ những
điều kiện về phẩm chất, kỹ năng cần thiết, nghệ thuật ứng xử … đồng thời doanh
nghiệp cần có chính sách về tiền lương và tiền thưởng và các chính sách khuyến
khích thích hợp với nhân viên nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Công
việc bán hàng không chỉ đòi hỏi có trình độ kỹ thuật mà phải có nghệ thuật bán hàng
cao, phải bố trí sắp xếp, trình bày hàng hóa kết hợp với trang thiết bị sao cho khách
hàng dễ nhìn, dễ thấy phù hợp với từng nhóm khách hàng.
1.2.4.3. Tổ chức hoạt động dịch vụ sau bán hàng
Đây là hoạt động không thể thiếu nhằm duy trì, củng cố và mở rộng hoạt động
tiêu thụ sản phẩm, thị trường của doanh nghiệp, bao gồm các hoạt động như vận
chuyển, lắp đặt, hướng dẫn sử dụng, bảo hành, sửa chữa, tư vấn, thu mua hàng cũ,
thay thế, bảo dưỡng… cùng với việc duy trì mối quan hệ thông tin thường xuyên với
khách hàng để thu thập ý kiến phản hồi và sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng.
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ của các doanh nghiệp
1.3.1. Nhân tố bên trong doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường đều có một môi trường
kinh doanh nhất định. Môi trường kinh doanh có thể tạo ra những cơ hội thuận lợi
Khoa KT&QTKD Trường ĐH Chu Văn An 17
SV: Đoàn Thị Hà Giang_0754020010 GVHD: Đồng Xuân Ninh
cho kinh doanh nhưng đồng thời nó cũng tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, chính các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp có ảnh
hưởng lớn đến hoạt tiêu thụ của doanh nghiệp các nhân tố đó có thể kể đến như: cơ
sở vật chất kỹ thuật, giá cả hàng hóa, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, công
tác tổ chức tiêu thụ, nguồn nhân lực, tình hình tài chính của doanh nghiệp.
1.3.1.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật

doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu thị trường giúp cho doanh nghiệp đưa ra quyết
định đúng đắn về đầu tư sản phẩm, giá cả và nắm bắt những thay đổi của thị trường.
Còn thị trường đầu vào ảnh hưởng đến giá thành, khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường.
Như vậy, công tác nghiên cứu thị trường là quan trọng, cần thiết vì nếu công tác
nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp tốt sẽ tăng khả năng đáp ứng nhu cầu thị
trường, tăng uy tín cho doanh nghiệp.
1.3.1.5. Công tác tổ chức tiêu thụ
Công tác tổ chức tiêu thụ bao gồm hàng loạt các khâu công việc khác nhau từ
tổ chức mạng lưới tiêu thụ đến các hoạt động hỗ trợ. Cuối cùng là khâu tổ chức thu
hồi tiền hàng bán ra. Nếu như công tác nay tiến hành không ăn ý, phối hợp không
nhịp nhàng sẽ làm gián đoạn hay làm giảm khối lượng hàng hoá tiêu thụ của doanh
nghiệp. Việc tổ chức mạng lưới bán hàng tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp thuận lợi
trong việc tiêu thụ sản phẩm của mình. Tuy nhiên nếu tổ chức không hợp lý thì sẽ
làm tăng chi phí làm giảm hiệu quả tiêu thụ.
1.3.1.6. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm cả lao động quản lý và công
nhân. Do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trí thức, các doanh nghiệp ngày càng
chú trọng đến năng lực, trình độ chuyên môn, sức sáng tạo của người lao động, người
lãnh đạo đòi hỏi phải có trình độ tổ chức và quản lý, nắm vững nội dung và nghệ
thuật quản trị, có phương pháp quản trị hợp lý tạo ra sự hài hoà giữa các bộ phận
trong doanh nghiệp thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát
triển. người lao động đòi hỏi phải có tay nghề cao, vững chuyên môn đảm bảo tạo ra
những sản phẩm có chất lượng cao và chi phí thấp. từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh cho
sản phẩm và cho doanh nghiệp.
1.3.1.7. Tình hình tài chính của doanh nghiệp
Khoa KT&QTKD Trường ĐH Chu Văn An 19
SV: Đoàn Thị Hà Giang_0754020010 GVHD: Đồng Xuân Ninh
Tình hình tài chính của doanh nghiệp trong hiện tại là khả quan hay khó khăn
có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp. Nếu tình hình tài

SV: Đoàn Thị Hà Giang_0754020010 GVHD: Đồng Xuân Ninh
Đây là nhân tố có vai trò quan trọng và quyết định nhất tới hoạt động kinh
doanh của doanh nhiệp nó bao gồm nhiều nhân tố như trạng thái phát triển của nền
kinh tế, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất ngân hàng, các chính sách kinh tế của
nhà nước, xu hướng kinh tế của thế giới ... Các nhân tố này dù là ổn định hay biến
động đều ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp bởi nó thể hiện nhu cầu
và khả năng thanh toán của khách hàng, mặt bằng chung về cơ sở hạ tầng phục vụ
cho phát triển kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn cho các doanh nghiệp
hoạt động. Mặt khác, sự biến động của nền kinh tế thế giới và khu vực cũng ảnh
hưởng sâu sắc đối với nền kinh tế quốc gia nói chung và mỗi doanh nghiệp nói riêng.
1.3.2.3. Khách hàng
Khách hàng là những người mua sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ của doanh
nghiệp và họ có ảnh hưởng rất lớn thậm chí là lớn nhất tới kết quả hoạt động tiêu thụ
hàng hoá tại doanh nghiệp. Người tiêu dùng mua cái gì?, Mua ở đâu?, Mua như thế
nào? luôn luôn là câu hỏi đặt ra cho các nhà quản trị doanh nghiệp phải trả lời và chỉ
có tìm cách trả lời câu hỏi này mới giúp cho các doanh nghiệp đứng vững và phát
triển trong nền kinh tế thị trường. Và khi trả lời được câu hỏi này, điều đó có nghĩa là
doanh nghiệp đã xác định được khách hàng mua gì, bán gì, bán ở đâu và bán như thế
nào để đáp ứng khách hàng từ đó nâng cao hiệu quả tiêu thụ của doanh nghiệp.
1.3.2.4. Nhà cung cấps
Nhà cung cấp cụ thể là các tổ chức hay cá nhân cung cấp các yếu tố đầu vào
cho doanh nghiệp xản xuất kinh doanh như: nguyên vật liệu, tiền vốn, lao động và
các dịch vụ cần thiết khác. Nhà cung cấp có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng tới chất
lượng giá cả, phương thức và các dịch vụ trong việc tổ chức giao nhận các vật tư cần
thiết do đó ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ.
1.3.2.5. Các đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh bao gồm các doanh nghiệp đang có mặt trong nghành
và các đối thủ tiềm ẩn có khả năng tham gia vào ngành trong tương lai. Đối thủ cạnh
tranh luôn là mối quan tâm lo lắng hàng đầu của doanh nghiệp, nhất là đối thủ cạnh
tranh có quy mô lớn và sức mạnh thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp phải hiểu biết về

Công ty TNHH dịch vụ và sản xuất Anh Hiếu được thành lập từ năm chuyên
kinh doanh sen vòi và thiết bị phòng tắm. Trải qua 10 năm hoạt động và phát triển từ
cuối năm 2008 công ty đã mạnh dạn đầu tư vào sản xuất với dây truyền đúc sen vòi
hiện đại nhất của Hàn Quốc. Với đội ngũ kỹ sư và công nhân được công ty cử đi đào
tạo ở các nước tiên tiến nhất. Nguyên liệu đồng được công ty nhập khẩu 100% của
Hàn Quốc, vì vậy những sản phẩm công ty đưa ra thị trường là những sản phẩm tốt
nhất và độ bền cao nhất. Mọi sản phẩm đều được bảo hành 3 năm. Công ty nhận gia
công chế tạo mọi mẫu mã theo yêu cầu của khách hàng. Cuối năm 2010, công ty Anh
Hiếu đã nhận được huy chương vàng và chứng nhận danh hiệu hàng Việt Nam chất
lượng cao phù hợp tiêu chuẩn về bộ sen, vòi Lavabo 2 đường nước do Liên hiệp các
hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.
Địa chỉ: khu công nghiệp Ninh Hiệp – Gia Lâm – Hà Nội
Điện thoại: *(+844) 38789234
Fax: *(+844)38789234
Email:
Website: www.anhhieu.net
2.1.2. Hệ thống tổ chức quản lý kinh doanh của công ty
Công ty TNHH dịch vụ và sản xuất Anh Hiếu có bộ máy quản lý bao gồm
những cán bộ có năng lực có trình độ chuyên môn, có trình độ kỹ thuật thích ứng với
công việc quản lý công ty bằng phương pháp vận dụng sáng tạo những quy định kinh
tế, đường lối chủ trương, chính sách của đảng và Nhà nước trong việc lựa chọn và
xác nhận các biện pháp sản xuất kinh doanh.
Bộ máy quản lý của công ty, đứng đầu là Giám đốc chịu sự giám sát của hội
đồng công ty. Giám đốc là người đại diện cho Nhà nước và cán bộ công nhân viên
quản lý công ty theo chế độ một thủ trưởng có quyền quyết định việc điều hành công
ty theo kế hoạch chính sách pháp luật của Nhà nước và đại hội công nhân viên chức
Khoa KT&QTKD Trường ĐH Chu Văn An 23
SV: Đoàn Thị Hà Giang_0754020010 GVHD: Đồng Xuân Ninh
công ty.
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu công ty Anh Hiếu

- Phòng quản lý vật tư : Tham mưu cho giám đốc trong công tác xây dựng và
chỉ đạo thực hiện kế hoạch sản xuất, cân đối vật tư, bán thành phẩm, hạch toán vật tư
bán thành phẩm với các phân xưởng sản xuất hàng tháng, quí, năm.
- Phòng tiêu thụ sản phẩm : Giúp giám đốc trong công tác tìm hiểu thị
trường, xây dựng và thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, hoạch định chính sách
phân phối sản phẩm.
- Phòng tài vụ : Giúp giám đốc trong lĩnh vực hạch toán kế toán và sử dụng
vốn. Giám sát việc thực hiện các chính sách kinh tế, chế độ tài chính trong công ty,
hoạch định các chính sách về giá cả như : xác định giá bán, giá gia công theo đơn đặt
hàng của khách hàng.
- Phòng sản xuất: trực tiếp chỉ đạo công nhân sản xuất theo các đơn đặt hàng
mà công ty nhận được thông qua bộ phận bán hàng. Đồng thời, vẫn sản xuất theo kế
hoạch của phòng nghiên cứu và triển khai để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách
hàng.
2.1.3. Các sản phẩm của công ty
Hiện nay, công ty Anh Hiếu kinh doanh rất nhiều sản phẩm sen vòi, chậu
kính, bồn tắm, cabinet… phục vụ nhu cầu của mọi khách hàng. Sau đây là những sản
phẩm của công ty đang sản xuất và kinh doanh:
Khoa KT&QTKD Trường ĐH Chu Văn An 25

Trích đoạn Cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty Thị trường tiêu thụ Kết quả công tác tiêu thụ Đánh giá hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status