TÓM LƯỢC
Xã hội ngày càng phát triển, đi kèm theo nó chính là nhu cầu đòi hỏi ngày càng
tăng lên của loài người. Tồn tại trong xã hội đó chính là những mối quan hệ giữa
người với người qua nhu cầu trao đổi, tìm hiểu cũng như đánh giá lẫn nhau. Một trong
những quan hệ xã hội cơ bản đó là quan hệ lao động. Pháp luật Việt Nam hiện nay đã
có những sự tiến bộ cũng như sửa đổi bổ sung nhanh chóng về quan hệ lao động nhằm
định hướng cũng như có sự quy định rõ ràng về trách nhiệm cũng như lợi ích của các
bên chủ thể khi tham gia quan hệ này. Tuy nhiên, do mặt trái của nền kinh tế thị
trường kết hợp với nhiều nguyên nhân khác mà tình trạng vi phạm pháp luật lao động
ngày càng trở nên phổ biến, trong đó việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ là một vấn đề
nóng hổi thu hút nhiều sự quan tâm.
Trong phạm vi bài khóa luận, em tập trung làm rõ một số vấn đề pháp lý về vấn
đề đơn phương chấm dứt HĐLĐ, và thực tế áp dụng tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Bảo hiểm Nhân thọ VietinAviva. Bài khóa luận của em gồm có ba phần chính:
Phần một sẽ làm rõ khái niệm và đặc điểm của đơn phương chấm dứt HĐLĐ,
phân loại đơn phương chấm dứt HĐLĐ, cơ sở ban hành và pháp luật điều chỉnh về
đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Từ việc nêu ra những lý luận cơ bản sẽ là nền tảng để
em thực hiện các phần tiếp theo của bài khóa luận.
Phần hai sẽ làm rõ thực trạng pháp luật điều chỉnh về đơn phương chấm dứt
HĐLĐ và thực tiễn thực hiện tại công ty Trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm nhân thọ
VietinAviva.
Từ việc đánh giá, em tìm ra được những vấn đề còn tồn tại gây ra sự bất cập,
không phù hợp của pháp luật khi áp dụng vào thực tế. Từ đó nêu ra một số kiến nghị
để hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật hiện hành được làm rõ tại phần ba của
khóa luận.
LỜI CẢM ƠN
Để hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu, em đã có cơ hội thực tập tại: Công ty
TNHH Bảo hiểm nhân thọ VietinAviva. Em xin gửi lời cám ơn tới các cán bộ, nhân
1
TNHH
Ý Nghĩa
Trách nhiệm hữu hạn
NLĐ
Người lao động
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
HĐLĐ
Hợp đồng lao động
BLLĐ
Bộ luật lao động
DN
Doanh nghiệp
QHLĐ
Quan hệ lao động
thống pháp luật Việt Nam về đơn phương chấm dứt HĐLĐ vẫn còn nhiều điểm chưa
tương đồng. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào các tổ
chức kinh tế mang tính toàn cầu hóa, đòi hỏi cần phải có sự cải cách nhanh chóng, phù
hợp, hiệu quả của pháp luật, đặc biệt là pháp luật về HĐLĐ và đơn phương chấm dứt
HĐLĐ theo hướng tiếp thu có chọn lọc những điểm tiến bộ trong pháp luật lao động
của các nước phát triển trên thế giới.
5
Từ những lý do trên, em quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về đơn phương
chấm dứt HĐLĐ - Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ
VietinAviva” làm đề tài nghiên cứu với mục đích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong các doanh nghiệp hiện nay.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.
Vấn đề chấm dứt HĐLĐ nói chung và đơn phương chấm dứt HĐLĐ nói riêng
đã được nghiên cứu, tìm hiểu và trình bày trong khá nhiều các tiểu luận, luận văn, luận
a của các nhà thạc sĩ, tiến sĩcủa các trường Đại học trong nước. Vấn để này được tiếp
cận ở rất nhiều phương diện và khía cạnh khác nhau.
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: “Chấm dứt HĐLĐ”, Nguyễn Hữu
Chí, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tháng 9/2002 nghiên cứu và đánh giá về vấn đề
chấm dứt hợp đồng nói chung; “Vấn đề đơn phương chấm dứt HĐLĐ - lý luận và thực
tiễn áp dụng pháp luật”, Phạm Công Bảy, Tạp chí Tòa án nhân dân số 03/2007 hay
“Pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”,
Nguyễn Thị Hoa Tâm - Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí
Minh nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề đơn phương chấm dứt HĐLĐ.
Một số các công trình nghiên cứu nổi bật khác về phương diện bổ sung, sửa đổi
các mặt hạn chế hay còn thiếu sót trong Luật lao động về vấn đề đơn phương chấm dứt
HĐLĐ như: “Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về đơn phương
chấm dứt HĐLĐ”, Nguyễn Thị Hoa Tâm – Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2012,
tr 47-51 hay “Những vấn đề cần sửa đổi về HĐLĐ trong BLLĐ”, Tạp chí luật học, số
- Phản ánh thực trạng tình hình pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ hiện nay ở
nước ta. Tìm ra những ưu điểm đồng thời nhìn nhận lại những điểm còn hạn chế trong
hệ thống pháp luật hiện hành
- Thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động đơn phương chấm dứt HĐLĐ tại Công
ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ VietinAviva. Những thuận lợi và khó khăn của NLĐ và
NSDLĐ trong quá trình đơn phương chấm dứt HĐLĐ, từ đó đề xuất những giải pháp
để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động.
4.3. Phạm vi nghiên cứu:
Bài khóa luận tập trung nghiên cứu những lí luận cơ bản và các quy định hiện hành
về đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong các văn bản pháp luật Việt Nam như: Luật Lao
động 2012, Luật Dân sự 2005…
Khoá luận sẽ nghiên cứu Pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ tại công ty từ
khi Luật Lao động 2012 sửa đổi có hiệu lực đến nay và thực tiễn áp dụng tại Công ty
TNHH Bảo hiểm nhân thọ VietinAviva.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu thông tin: xem xét sự giống và khác nhau của
các quy định về pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ ở Việt Nam với các văn
bản pháp luật cũ chưa sửa đổi bổ sung theo từng thời kì.
- Phương pháp phân tích tình huống và lựa chọn giải pháp: phân tích, đánh giá
những tình huống phát sinh trong thực tiễn và đưa ra một số kiến nghị, đề xuất liên
quan tới quy định pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ nhằm hoàn thiện pháp
luật về vấn đề nêu trên.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Chủ yếu là nghiên cứu các văn bản Quy
phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động như: BLLĐ 2012,Bộ Luật Dân sự 2005,
các nghị định, thông tư liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các HĐLĐ của công ty
TNHH Bảo hiểm nhân thọ VietinAviva
7
- Phương pháp thu thập số liệu, phân tích tổng hợp, thống kê, đối chiếu: làm
dưới hình thức quyết định hành chính hay tuyển vào biên chế như trong nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung.
HĐLĐ chính là hình thức pháp lý được xã hội thừa nhận phù hợp với việc tuyển dụng
trong nền kinh tế thị trường theo quan điểm coi sức lao động của con người là một loại hàng
hóa đặc biệt và thể hiện được sự khác biệt với hợp đồng dân sự qua việc phản ánh được chủ thể
và nội dung của HĐLĐ.
1.1.1.2. Đặc điểm hợp đồng lao động
Là một loại hợp đồng, HĐLĐ mang đặc điểm của hợp đồng nói chung tuy nhiên cũng
mang những đặc điểm riêng để phân biệt với các loại hợp đồng khác.
Thứ nhất, trong HĐLĐ có sự phụ thuộc pháp lý của người lao động đối với người sử
dụng lao động. Đặc điểm này chính là đặc điểm cơ bản của HĐLĐ, và duy nhất chỉ có ở
HĐLĐ. Pháp luật lao động có quy định về quyền riêng của người sử dụng lao động như quyền
quản lí, điều hành doanh nghiệp, sở hữu tài sản .. do vậy khi tham gia quan hệ lao động, người
lao động phải chịu sự quản lý, giám sát cũng như điều hành hợp pháp của người sử dụng lao
động về việc làm, thời gian cũng như định mức lao động. Trong quá trình thực hiện
HĐLĐ,yếu tố bình đẳng không được biểu hiện ra bên ngoài mà thay vào đó là sự
không bình đẳng.Lí do là một bên trong quan hệ này có quyền ra các mệnh lệnh, chỉ
thị còn bên kia có nghĩa vụ thực hiện.
Thứ hai, đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công.
HĐLĐ thực chất là một loại quan hệ mua bán, đối tượng là sức lao động – một
loại hàng hóa đặc biệt. Khi người sử dụng lao động mua hàng hóa sức lao động,họ
9
được “sở hữu” một quá trình lao động biểu thị thông qua thời gian làm việc, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, thái độ, ý thức, … của người lao động và để thực hiện đươc
yêu cầu nói trên, người lao động phải cung ứng sức lao động của mình biểu thị thông
qua những khoảng thời gian đã được xác định (ngày làm việc, tuần làm việc,…). Như
vậy, sức lao động được mua bán trên thị trường là một loại hàng hóa rất trừu tượng, do
đó các bên phải mua bán thông qua một việc làm.
10
HĐLĐ phải được thực hiện liên tục trong khoảng thời gian nhất định hay trong
khoảng thời gian vô hạn định. Thời hạn của hợp đồng có thể được xác định rõ từ ngày
có hiệu lực đến một thời điểm nào đó, song cũng có thể không xác định trước thời hạn
kết thúc.
Ở đây, các bên – đặc biệt là người lao động không có quyền lựa chọn hay làm
việc theo ý chí chủ quan của mình mà công việc phải được thi hành tuần tự theo thời
gian đã được người sử dụng lao động xác định (ngày làm việc, tuần làm việc).
1.1.2.Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
1.1.2.1.Khái niệm đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Trong quá trình quản lý, sử dụng lao động, quan hệ lao động hay bị chấm dứt bởi
hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ từ phía người sử dụng lao động hoặc từ phía
người lao động.
Hiện nay chưa có điều luật cụ thể nào định nghĩa đơn phương chấm dứt HĐLĐ
là gì, tuy nhiên có thể tìm hiểu trong từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì “chấm dứt
HĐLĐ là việc NLĐ và NSDLĐ hoặc một trong hai bên không tiếp tục HĐLĐ, chấm
dứt quyền và 22 nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận”. Còn Sổ tay thuật ngữ pháp luật
phổ thông xác định: “chấm dứt HĐLĐ là việc NSDLĐ và NLĐ không tiếp tục tham
gia QHLĐ”
Từ đó, ta có thể thấy, khái niệm đơn phương chấm dứt HĐLD được hiểu là sự
kiện làm chấm dứt tất cả các quyền và nghĩa vụ trong QHLĐ mà các bên đã thỏa
thuận trước đó. Sự chấm dứt HĐLĐ có thể do ý chí của một trong hai bên; ý chí của
cả hai bên; ý chí của bên thứ ba hoặc cũng có thể không do ý chí trực tiếp của bất kỳ
chủ thể nào.
1.1.2.2.Đặc điểm của đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Thứ nhất, đơn phương chấm dứt HĐLĐ là một quyền của chủ thể trong quan hệ
lao động.
Chủ thể này có thể là người lao động, cũng có thể là người sử dụng lao động.
dứt HĐLĐ từ phía NSDLĐ. Đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật sẽ có hệ quả
pháp lý khác với trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Ngay cả
trong trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật cũng có sự khác nhau
về hệ quả pháp lý. Ví dụ như, việc NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ do NLĐ
không hoàn thành nhiệm vụ sẽ có hậu quả pháp lý khác với trường hợp NSDLĐ đơn
phương chấm dứt HĐLĐ do sa thải NLĐ.
Thứ tư, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật sẽ giải phóng các chủ
thể khỏi các nghĩa vụ ràng buộc trong HĐLĐ. Đơn phương chấm dứt HĐLĐ sẽ giúp
chủ thể có ý chí đơn phương chấm dứt HĐLĐ được giải phóng khỏi quyền và nghĩa vụ
đã bị ràng buộc trong HĐLĐ trước đó.
Thứ năm, tính chất tương hỗ của QHLĐ cá nhân và QHLĐ tập thể khi các chủ
thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Từ khi đàm phán, ký kết cho đến khi chấm dứt
HĐLĐ nói chung cũng như đơn phương chấm dứt HĐLĐ nói riêng, ngoài việc tuân
theo pháp luật, thiện chí và hợp tác thì các bên còn áp dụng nội dung của Thỏa ước lao
động tập thể. Trong quá trình thực hiện HĐLĐ luôn có sự tác động của các QHLĐ
theo hướng đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.
12
1.1.2.3.Phân loại đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Nhìn chung, ta có thể chia ra rất nhiều loại đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo
quy định của BLLĐ 2012. Tuy nhiên có thể tóm gọn lại các trường hợp đơn phương
chấm dứt HĐLĐ theo các căn cứ sau:
- Căn cứ vào tính hợp pháp của hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ bao gồm
đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật và trái pháp luật.
+ Đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật
Đơn phương chấm dứt HĐLĐ hợp pháp là những trường hợp một trong các bên
chủ thể trong QHLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ có căn cứ rõ ràng, phù hợp, tuân
thủ đúng các quy định và thời hạn báo trước của pháp luật về đơn phương chấm dứt
HĐLĐ.
các bên đều phải được ghi nhận và đảm bảo thực hiện. Hạn chế đến mức thấp nhất các
quy định có tính hành chính để phục vụ công tác quản lý nhà nước về lao động, cản trở
quyền tự do chấm dứt HĐLĐ của các chủ thể. Như vậy, để nhà nước đảm bảo được lợi
ích của mình đồng thời thực hiện được chức năng là trung tâm điều hòa các lợi ích
khác nhau giữa các bên trong QHLĐ, cần thiết phải có một cơ chế pháp lý điều chỉnh
phù hợp. Trong điều kiện kinh tế thị trường, cơ chế này không thể can thiệp một cách
trực tiếp và thô bạo vào lợi ích của các bên trong quan hệ nhưng sự vận hành của nó
phải tạo ra một hành lang pháp lý thích hợp để lợi ích của các chủ thể trong QHLĐ
cũng như lợi ích của xã hội được bảo vệ.
- Về phương diện kinh tế, pháp luật điều chỉnh phù hợp về đơn phương chấm
dứt HĐLĐ thì sẽ bảo đảm dung hòa lợi ích các bên, có tác động tích cực tới sự phát
triển của DN nói riêng, tác động tốt đến nền kinh tế đất nước. Bên cạnh đó, thị trường
lao động phát triển hài hòa sẽ phát huy những tác động tích cực của việc đơn phương
chấm dứt HĐLĐ đối với các bên chủ thể, NLĐ sử dụng quyền đơn phương chấm dứt
HĐLĐ như một biện pháp bảo hộ hữu hiệu để có thể tự thoát khỏi sự ràng buộc từ phía
NSDLĐ... Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ cũng tạo ra khả năng không nhất thiết
phải bó hẹp, hạn chế NLĐ chỉ được làm việc cho một ông chủ, một công ty suốt cả
cuộc đời của họ khi mà NLĐ cảm thấy công việc đó không còn phù hợp với sức khỏe
và nhu cầu, khả năng lao động của bản thân nữa hay những biến cố bất ngờ, sự cố
ngoài mong muốn, gia đình gặp khó khăn đặc biệt... NSDLĐ được đơn phương chấm
dứt HĐLĐ tạo ra khả năng họ không nhất thiết phải chịu áp lực do phải cộng tác với
NLĐ trong thời gian dài khi nhu cầu sản xuất của mình thay đổi hoặc khi NLĐ đó
không đáp ứng được đòi hỏi của công việc đã giao... Và đặc biệt, những QHLĐ không
phù hợp với sự phát triển trong DN sẽ chấm dứt.
- Về phương diện xã hội, điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động đơn
phương chấm dứt HĐLĐ còn bảo đảm quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ
và NSDLĐ không đi ngược lại lợi ích chung của xã hội và không trái với xu thế phát
triển của các QHLĐ. Sự can thiệp của nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật sẽ
góp phần bảo vệ quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ và NSDLĐ. Pháp luật
về đơn phương chấm dứt HĐLĐ đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ toàn
khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh hoặc chuyển chỗ ở mà NLĐ đã
tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể tiếp tục thực hiện HĐLĐ thì NLĐ có
quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Ngoài ra, còn có các lý do cá nhân khác như
NLĐ bị cưỡng bức lao động hay bị quấy rối tình dục, bị đánh đập, nhục mạ hoặc bị ép
làm những công việc không phù hợp với giới tính, ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân
phẩm, danh dự của NLĐ thì họ có chấm dứt công việc này.
1.2.2.2. Quy định của pháp luật về thời hạn báo trước và hậu quả pháp lý của
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Để thực hiện đúng pháp luật khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì NSDLĐ và
NLĐ còn phải tuân thủ đúng thời hạn báo trước. NSDLĐ cũng như NLĐ cần có
khoảng thời gian báo trước phù hợp để bên chủ thể còn lại sắp xếp được vị trí cũng
như công việc còn dang dở, đảm bảo được quyền lợi và lợi ích của họ.
15
Khi QHLĐ càng lành mạnh thì hệ quả tất yếu là việc sử dụng lao động đạt hiệu
quả cao, DN giảm thiểu các tranh chấp lao động gây cản trở cho hoạt động sản xuất
kinh doanh làm ảnh hưởng môi trường lao động trong đơn vị. Từ đó, DN xây dựng
được QHLĐ lành mạnh, hài hòa, ổn định và NLĐ yên tâm làm việc, NSDLĐ nhận
được sự hợp tác, tôn trọng nhất định của NLĐ, và họ sẽ cống hiến bằng cả trí lực, sức
lực và tâm lực cho DN.
Đối với nhà nước và xã hội, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng luật là một
trong những cơ sở cho yêu cầu thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, nhà
nước và xã hội còn có được sự ổn định, trật tự trong lĩnh vực rất phức tạp là quản lý
lao động. Các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này sẽ được giảm bớt gánh
nặng, sức ép quản lý.
Như vậy, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng luật luôn mang lại những hệ
quả có lợi cho các bên chủ thể trong QHLĐ tại DN nói riêng và trong QHLĐ trên
phạm vi cả nước, toàn xã hội.
Bên cạnh đó, hậu quả kéo theo của việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật sẽ
Điều chỉnh bằng pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ đảm bảo sự thống nhất
trong toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật lao động.
Đảm bảo thống nhất trong toàn bộ hệ thống văn bản là yêu cầu chung của việc
hoàn thiện pháp luật trong bất cứ lĩnh vực nào. Nhận thức sâu sắc về vai trò của pháp
luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng
vững chắc để Việt Nam hội nhập với thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định:
“Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai,
minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân”.
Để đáp ứng được các đòi hỏi của xã hội, pháp luật lao động nói chung và pháp
luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ nói riêng phải bảo đảm tính khoa học, phải thỏa
mãn tiêu chí về tính thống nhất trong toàn bộ hệ thống.
17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ ĐƠN PHƯƠNG
CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG
TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN BẢO HIỂM NHÂN THỌ VIETINAVIVA
2.1. Tổng quan về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm nhân thọ
VietinAviva và các nhân tố ảnh hưởng đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động tại Công ty
2.1.1. Tổng quan về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm nhân thọ
VietinAviva
Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ VietinAviva là Công ty TNHH 2 thành viên
trở lên, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng theo
các quy định của pháp luật Việt Nam đồng thời có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ
tài chính và thuế đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành
có hiệu lực tại từng thời điểm.
cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, kinh doanh bất động sản, góp vốn vào các doanh
nghiệp khác, cho vay theo quy định của luật các tổ chức tín dụng, gửi tiền tại các tổ
chức tín dụng.
+ Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình hoạt động, công ty luôn đảm bảo được quyền lợi và nghĩa vụ của
người lao động trong công ty theo pháp luật lao động hiện hành; thực hiện chế độ bảo
hiểm y tế, bảo hiểm lao động và một số loại bảo hiểm khác theo quy định của pháp
luật bảo hiểm dành cho người lao động. Hơn hết là vấn đề đơn phương chấm dứt hợp
đồng của công ty. Do mới đc thành lập và là một công ty có mức độ chuyên môn hóa
cao nên cũng có ít trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng xảy ra. Đa phần là do
người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng với công ty bởi nhu cầu của bản thân
họ. Theo thống kê của phòng nhân sự thì số trường hợp người lao động đơn phương
chấm dứt HĐLĐ với công ty năm 2011 là 15/18 trường hợp đơn phương chấm dứt
HĐLĐ tại công ty, năm 2013 là 20/34 trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ tại
công ty.
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm nhân thọ VietinAviva
2.1.2.1.Nhân tố kinh tế:
Đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc đơn phương
chấm dứt HĐLĐ tại công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ VietinAviva. Các yếu tố kinh
tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp nói chung và ký kết được hợp đồng hay không. Các yếu tố kinh tế bao gồm
một phạm vi rất rộng từ các yếu tố tác động đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Các yếu tố cơ bản nhất ảnh hưởng đến doanh nghiệp kinh doanh là: tốc độ tăng trưởng
GDP, lãi suất tiền vay, tiền gửi ngân hàng, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, mức độ thất
nghiệp, các cân thanh toán, chính sách tài chính, tín dụng, kiểm soát về giá cả, tiền
lương tối thiểu… Các yếu tố này ảnh hưởng đến phương thức và cách thức kinh doanh
của doanh nghiệp thậm chí còn có thể làm thay đổi cả mục tiêu, phương hướng và
19
Tại công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ VietinAviva, do mới thành lập và tổ
chức nên chưa có việc chia tách hay sát nhập với một công ty nào khác. Việc đơn
phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ thường là do việc xem xét đến kinh nghiệm và khả
năng chuyên môn làm việc của NLĐ. Bên cạnh đó, xét đến các trường hợp NLĐ đơn
phương chấm dứt HĐLĐ trước thường là do NLĐ ảnh hưởng bởi tiềm lực tài chính,
các chính sách của công ty mà NLĐ thấy còn chưa phù hợp với bản thân. Theo Báo
cáo tài chính năm 2014, thì công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ VietinAviva đã lỗ tới
20
con số -2.835.827.197 VNĐ và điều này đã ảnh hưởng tới tâm lý một số không nhỏ bộ
phận nhân viên. Mặc dù trên mặt pháp lý không có những lý do như trên nhưng cũng
không thể phủ nhận được những nhân tố trên là một phần ảnh hưởng tới quyết định
đơn phương chấm dứt HĐLĐ tại công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ VietinAviva.
2.2. Thực trạng quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động.
2.2.1. Căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
2.2.1.1. Căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
Việc NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật được quy định cụ thể
tại khoản 1 Điều 37 BLLĐ 2012. Có thể nhận định rằng, quy định của BLLĐ 2012 đã
được kế thừa, sửa đổi cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội trong giai
đoạn hiện nay. Việc NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật được quy định
cụ thể tại Điều 37 BLLĐ theo đó, đối với HĐLĐ xác định thời hạn, NLĐ muốn đo ̛n
phương chấm dứt HĐLĐ phải tuân theo được một trong các lý do quy định tại khoản 1
Điều 37; đối với HĐLĐ không xác định thời hạn NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt
HĐLĐ mà không cần lý do theo khoản 3 Điều 37. Việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ
của NLĐ phải tuân thủ thời hạn báo trước theo luật định tại khoản 2, 3 Điều 37 BLLĐ.
Thứ nhất, đối với HĐLĐ xác định thời hạn.
Theo quy định, NLĐ làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến
•
được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn. Trường hợp đặc biệt không thể trả
lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động
phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền
gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương”. Nếu NSDLĐ
vi phạm các quy định của pháp luật hoặc điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong
HĐLĐ thì NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ, nhằm tạo điều kiện cho NLĐ
tìm công việc khác đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống. Cần lưu ý, vì đây là quyền
nên NLĐ có thể thực hiện hoặc không thực hiện tùy thuộc vào sự cân nhắc lợi ích của
chính họ. Thực tế, có những DN do gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh nên trả
lương chậm cho NLĐ trong một thời gian dài nhưng vẫn được phía NLĐ chấp nhận.
Sự chấp nhận này có thể do NLĐ thực sự gắn bó, thông cảm cho NSDLĐ vì khó khăn
trong kinh doanh, cũng có thể do họ không còn cách lựa chọn nào khác hoặc ngại thay
đổi một việc làm mới. Pháp luật lao động quy định quyền này cho NLĐ để họ có khả
năng tự bảo vệ trong trường hợp phía bên kia vi phạm hợp đồng, ảnh hưởng tới lợi ích
thiết thân của NLĐ.
Ba là, khi NLĐ bị ngược đãi, bị cưỡng bức lao động theo điều 37 khoản c
BLLĐ 2012
Trong QHLĐ, NLĐ luôn có sự phụ thuộc về mặt pháp lý vào NSDLĐ, nhưng
điều đó không có nghĩa là NLĐ lệ thuộc NSDLĐ về mặt thân thể, tinh thần. Ngoài ra,
đặc trưng cơ bản của HĐLĐ là tự do ý chí, tự do thỏa thuận. Được bảo vệ về thân thể,
được tự do lao động, tự do tìm việc và làm việc là quyền cơ bản của mọi công dân đã
được ghi nhận trong Hiến pháp nước ta và nhiều quốc gia khác. Điều 8 khoản 2 BLLĐ
đã quy định rất rõ về một trong các hành vi bị cấm trong quan hệ lao động đó là: “
Ngược đãi người lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc.”. Chính vì vậy, khi bị
22
ngược đãi, cưỡng bức lao động thì NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Ngay
cả trong trường hợp NLĐ không chịu làm công việc đã được thỏa thuận theo hợp đồng
thì NSDLĐ cũng chỉ có thể sử dụng quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định
người làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối
với người làm việc theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời
23
hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.
Đây cũng là một trong những căn cứ hợp pháp để NLĐ thực hiện quyền đơn
phương chấm dứt HĐLĐ, tạo điều kiện cho họ an tâm khám, chữa bệnh. Hơn nữa, khi
NLĐ bị ốm đau, tai nạn, đã điều trị thời gian dài, sức khỏe của họ cũng không được
bảo đảm. Nếu như NLĐ vẫn buộc phải thực hiện HĐLĐ, có thể ảnh hưởng nghiêm
trọng tới sức khỏe của bản thân và không hoàn thành định mức, chất lượng công việc
được giao. Như vậy, sẽ dẫn tới nhiều trách nhiệm khác của NLĐ.
Thứ hai, đối với HĐLĐ không xác định thời hạn.
Về lý do đơn phương chấm dứt HĐLĐ, pháp luật không buộc NLĐ phải nêu lý
•
do khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn. Quy định này nhằm
mục đích đảm bảo quyền tự do lao động của NLĐ, tránh sự ràng buộc, bó buộc NLĐ
gắn với một DN duy nhất trong suốt cuộc đời lao động của họ. NLĐ có thể tìm kiếm
công việc khác có thu nhập cao hơn, điều kiện làm việc tốt hơn mà vẫn được đảm bảo
quyền lợi sau khi chấm dứt HĐLĐ như hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều
42 BLLĐ hay đòi bồi thường thiệt hại do NSDLĐ gây ra (nếu có).
NLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn thì không cần
phải có lý do. Quy định này nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tự do việc làm cho NLĐ.
Bởi lẽ, NLĐ ký kết HĐLĐ không xác định thời hạn thường là những NLĐ đã làm việc
lâu năm tại DN. Do đó, để NLĐ có thể tìm công việc khác tốt hơn sau một thời gian
dài gắn bó với DN cũ, thì NLĐ có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần viện
dẫn lý do cụ thể. Tuy nhiên, NLĐ cần thực hiện nghĩa vụ báo trước theo quy định tại
khoản 3 Điều 37 Luật Lao động 2012.
Hành vi NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật, vi phạm quy định tại
khăn đối với. Đây là những sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền đơn phương chấm dứt
HĐLĐ của NLĐ và chỉ khi đó hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ mới
đảm bảo tính hợp pháp. Như vậy, theo quy định của pháp luật lao động hiện hành,
NLĐ làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà
không có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 37 BLLĐ sẽ bị coi là trái
luật (do vi phạm về căn cứ chấm dứt). Thực chất, đây là việc NLĐ thực hiện một
quyền mà mình không có, chối bỏ nghĩa vụ mà mình buộc phải thực hiện.
Hai là, NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật do vi phạm khoản 2
Điều 37 về nghĩa vụ báo trước của NLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ xác định
thời hạn.
Điều 112 BLLĐ quy định: NLĐ nữ có thai có quyền đơn phương chấm dứt
HĐLĐ mà không cần báo trước một thời gian nhất định, nếu có giấy chứng nhận của
thầy thuốc đúng luật định.
Theo quy định của pháp luật, việc báo trước phải được thực hiện bằng văn bản
và đảm bảo đúng thời hạn báo trước, từ khi Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH có hiệu
lực, thời hạn báo trước được tính theo ngày làm việc của các DN. Như vậy, nếu NLĐ
không báo trước; báo trước không đủ thời hạn; hoặc báo trước không bằng văn bản thì
đều bị coi là vi phạm nghĩa vụ báo trước. Tức là, hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ
của NLĐ, cho dù đúng căn cứ pháp lý theo khoản 1 Điều 37 BLLĐ, nhưng vẫn bị coi
là hành vi trái pháp luật.
25