(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam - Pdf 61

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM HƯƠNG

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM HƯƠNG

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 8 38 01 07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

đất tại huyện Quế Sơn - tỉnh Quảng Nam ....................................................... 42
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THI HÀNH TẠI HUYỆN QUẾ SƠN - TỈNH QUẢNG NAM
......................................................................................................................... 56
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất và nâng cao hiệu quả thi hành tại huyện Quế Sơn - tỉnh Quảng Nam 56
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất ở và nâng cao hiệu quả thi hành tại huyện Quế Sơn - tỉnh Quảng Nam
......................................................................................................................... 62
KẾT LUẬN .................................................................................................... 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển và thực hiện công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, nhu cầu xây dựng các công trình
phục vụ mục đích an ninh - quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
ngày càng gia tăng. Điều này đồng nghĩa với việc Nhà nước phải thu hồi đất
trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu; Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử
dụng ổn định lâu dài. Vấn đề bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
được đặt ra nhằm bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Luật Đất đai năm 2013 ra đời thay thế Luật Đất đai năm 2003 có những sửa
đổi, bổ sung bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, thực
tiễn thi hành các quy định này cho thấy còn nhiều trở ngại, vướng mắc như
cơ chế xác định giá đất bồi thường chưa hợp lý; sự tham vấn của người bị thu
hồi đất đối với phương án bồi thường còn mang tính hình thức; vấn đề giải
quyết về sinh kế và đời sống của người bị thu hồi đất không bền vững v.v gây

nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Quế Sơn vẫn khó tránh khỏi những yếu
kém, tồn tại như số lượng các dự án được bàn giao đất chậm tiến độ chiếm tỷ
lệ đáng kể; có không ít người bị thu hồi đất không đồng thuận với phương án
bồi thường phát sinh tranh chấp, khiếu kiện đất đai kéo dài tiềm ẩn nguy cơ
trở thành thành điểm nóng gây mất ổn định chính trị ở địa phương v.v. Điều
này có nguyên nhân từ sự phức tạp của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất; nguồn gốc sử dụng đất phức tạp, xáo trộn qua các thời kỳ, sự yếu kém
của quản lý nhà nước về đất đai; tính đặc thù của pháp luật bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất cũng như những hạn chế của việc thực thi pháp luật v.v.
Để khắc phục những yếu kém này thì không thể không nghiên cứu, đánh giá
một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất về lý luận và thực tiễn. Dẫu cho đã có rất nhiều công trình nghiên

2


cứu về lĩnh vực này đã được công bố song đề tài vẫn còn dư địa để tiếp tục
tìm hiểu khi nó được tiếp cận nghiên cứu dựa trên sự tham chiếu từ thực tiễn
thi hành tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Với ý nghĩa đó, học viên lựa
chọn đề tài “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất theo
pháp luật Việt Nam từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” làm luận
văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất thu hút được sự quan tâm
nghiên cứu của giới luật học nước ta trên các phương diện khác nhau. Có thể
đề cập đến một số công trình, bài báo tiêu biểu như sau: i) Doãn Hồng Nhung
(chủ biên) (2013), Pháp luật về định giá trong bồi thường giải phóng mặt
bằng ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội; ii) Nguyễn Thị Nga (2013), Pháp
luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất - Thực trạng
và hướng hoàn thiện, Đề tài NCKH cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà

pháp lý về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; có công trình, bài báo nghiên
cứu vấn đề này ở phạm vi rộng hơn nhằm đánh giá khái quát pháp luật và
thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất... Tuy nhiên,
dường như còn thiếu một công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ
thống, toàn diện trên phương diện lý luận và thực tiễn pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tham chiếu từ thực tiễn thi hành tại
huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của
các công trình liên quan đến đề tài, luận văn đi sâu tìm hiểu pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh
Quảng Nam
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp
luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và nâng cao hiệu quả thi hành tại

4


huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trên cơ sở giải quyết một số vấn đề lý luận
về pháp luật bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và đánh giá thực tiễn
thi hành tại địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn xác định các nhiệm vụ cụ
thể sau đây:
- Phân tích cơ sở, ý nghĩa của việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất.
- Giải mã khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của việc bồi thường, hỗ trợ
khi Nhà nước thu hồi đất.
- Phân tích khái niệm, đặc điểm của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất; yêu cầu và nội dung pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi

vấn đề lý luận pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất; đánh giá
thực trạng pháp luật hiện hành về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
qua thực tiễn thi hành tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
4.2.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu về không gian
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về không gian là thực tiễn thi
hành pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn
huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
4.2.3. Giới hạn về thời gian
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về thời gian từ năm 2003 (Năm
ban hành Luật Đất đai 2003) đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Phương pháp luận nghiên cứu của luận văn là phép biện chứng duy vật
và biện chứng lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo đó, luận văn nghiên
cứu pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đặt trong sự vận động

6


và có mối liên hệ với các chế định khác của pháp luật đất đai; xem xét quá
trình lịch sử hình thành, vận động và phát triển của các quy định về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận văn sử
dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử,
phương pháp hệ thống … được sử dụng trong Chương 1.
- Phương pháp bình luận, phương pháp phân tích, phương pháp đánh giá,
phương pháp đối chiếu v.v… được sử dụng trong Chương 2 khi nghiên cứu
thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và thực tiễn thi

nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1. Một số vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam.
- Chương 2. Thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất và thực tiễn thi hành tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất và nâng cao hiệu quả thi hành tại huyện Quế Sơn, tỉnh
Quảng Nam.

8


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ
TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM
1.1. Một số vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất
1.1.1. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1.1. Định nghĩa bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
* Khái niệm của pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
Mặc dù người sử dụng đất không phải là chủ sở hữu đất đai mà chỉ có
quyền sử dụng đất do tính đặc thù của chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam: Đất
đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất
quản lý; Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử
dụng ổn định lâu dài (gọi chung là người sử dụng đất). Tuy nhiên, quyền sử
dụng đất của người sử dụng được pháp luật bảo hộ (Điều 54 Hiến pháp năm
2013). Vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào các mục đích công cộng
hoặc vì lợi ích quốc gia … thì vấn đề bồi thường cho người sử dụng đất được
đặt ra. Nó được ghi nhận trong pháp luật đất đai và được giải mã như sau:

cộng … Nhà nước buộc phải thu hồi đất đã giao cho người sử dụng đất sử dụng
ổn định lâu dài. Do đó, Nhà nước phải bồi thường những thiệt hại do việc thu hồi
đất gây ra cho người sử dụng đất
Thuật ngữ "Bồi thường" được sử dụng và lưu hành từ rất lâu trong các
văn bản quy phạm pháp luật; đặc biệt là trong các văn bản quy phạm pháp
luật về đất đai. Đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai
năm 2001 được Quốc hội ban hành, thuật ngữ "Bồi thường" mới được sử
dụng trở lại và được kế thừa trong các đạo Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất
đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cho dù ở những thời kỳ
khác nhau, pháp luật đất đai sử dụng thuật ngữ “bồi thường” hay thuật ngữ “
đền bù thiệt hại” song giữa hai thuật ngữ này có sự tương đồng; nó được sử

10


dụng để chỉ việc Nhà nước bù đắp các thiệt hại là hậu quả của thu hồi đất cho
người sử dụng đất mà không do lỗi của họ gây ra.
* Khái niệm pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Pháp luật về hỗ trợ được hiểu là hệ thống các quy định pháp luật do
Nhà nước ban hành về lĩnh vực hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Cho đến nay,
pháp luật về hỗ trợ vẫn còn nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau, cách vận
dụng khác nhau. Có những quan niệm cho rằng đất đai là một thứ hàng hóa và
khi Nhà nước thu hồi đất thì trả cho người đang có quyền sử dụng đất một số
tiền tương ứng. Cũng có quan niệm cho rằng đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước thống nhất quản lý nên khi Nhà nước thu hồi đất chỉ trả một phần
kinh phí gọi là bồi thường. Mỗi quan điểm đều có mặt tích cực và hạn chế của
nó, bởi lẽ đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không phải là hàng hóa để trao
đổi, đất đai cũng là thành quả của cách mạng, của toàn thể nhân dân mà Nhà
nước là đại diện quản lý nên không thể thu hồi, sử dụng tùy tiện mà phải làm
sao để hài hòa các lợi ích.

cụ thể do Nhà nước xác định tại thời điểm thu hồi đất;
Bốn là, về chủ thể bồi thường. Nhà nước do xã hội thiết lập nên được
Nhân dân trao cho quyền lực nhà nước để quản lý xã hội. Khi thu hồi đất sử
dụng cho các mục đích chung của xã hội thì Nhà nước thay mặt công đồng xã
hội (người được thụ hưởng lợi ích được tạo ra do việc thu hồi đất) đứng ra
thực hiện bồi thường cho người sử dụng đất.
Năm là, về nguyên tắc bồi thường. Khác với nguyên tắc bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự là nguyên tắc tự nguyện thoả thuận
giữa người có trách nhiệm bồi thường và người được bồi thường; chỉ khi nào
các bên không tự thoả thuận được với nhau thì mới yêu cầu các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền can thiệp giải quyết. Trong thu hồi đất, việc bồi thường
chỉ được thực hiện khi người bị thu hồi đất thỏa mãn đầy đủ các điều kiện về

12


bồi thường do pháp luật đất đai quy định và giá bồi thường là giá đất cụ thể
do Nhà nước xác định tại thời điểm thu hồi đất.
* Đặc điểm pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ nhất, tính quy phạm phổ biến. Pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất là nói đến những quy phạm về hỗ trợ.
Thứ hai, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức. Tính xác định chặt
chẽ về mặt hình thức là sự thể hiện nội dung pháp luật hỗ trợ trong những
hình thức nhất định
Thứ ba, pháp luật về hỗ trợ do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực
hiện. Sự bảo đảm bằng Nhà nước là một thuộc tính của pháp luật về hỗ trợ.
Pháp luật về hỗ trợ do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Điều đó có
nghĩa là Nhà nước đã trao các quy phạm pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất, tính quyền lực bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức và mọi công
dận, tức là pháp luật về hỗ trợ mới trở thành quy tắc xử sự có tính bắt buộc

bản là bồi thường bằng việc giao một diện tích khác có diện tích bằng với
diện tích đất bị thu hồi và có cùng mục đích sử dụng.
1.1.2.2. Bồi thường bằng tiền
Bên cạnh hình thức bồi thường bằng đất, người bị Nhà nước thu hồi đất
được bồi thường bằng tiền. Đây là hình thức bồi thường trong điều kiện Nhà
nước không còn quỹ đất để có thể bồi thường bằng đất cho người bị thu hồi
đất. Hình thức bồi thường này ngày càng trở nên phổ biến trong bối cảnh quỹ
đất do Nhà nước trực tiếp quản lý ngày càng khan hiếm. Việc bồi thường
bằng tiền khi Nhà nước thu hồi đất dường như chỉ giải quyết được các lợi ích
trước mắt mà chưa mang tính bền vững. Điều này có nghĩa là Nhà nước mới
chỉ bồi thường những thiệt hại thực tế, trực tiếp mà có thể xác định “định
lượng” được do việc thu hồi đất gây ra. Do bị mất đất sản xuất, mất đất ở v.v
nên Nhà nước phải giải quyết các vấn đề xã hội của việc thu hồi đất như đầu
tư vốn để đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm mới cho người nông

14


dân mất đất nông nghiệp; trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ di chuyển chỗ ở v.v. Trên
thực tế việc giải quyết vấn đề sinh kế, an sinh xã hội có nguyên nhân từ việc
thu hồi đất thực hiện không hiệu quả, mang tính hình thức
1.1.3. Ý nghĩa của việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Một là, Nhà nước giải quyết hậu quả và các hệ quả liên quan do việc thu
hồi đất gây ra.
Do đó, chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện việc bồi thường không ai khác,
đó là Nhà nước. Trong thu hồi đất, người sử dụng đất là người bị ảnh hưởng trực
tiếp đầu tiên các hậu quả do việc thu hồi đất gây ra. Mặt khác, thu hồi đất nhằm
giải quyết nhu cầu đất đai cho các mục đích chung song nó cũng để lại các hậu
quả về kinh tế - xã hội như diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp “không có công
ăn, việc làm”; đình trệ hoạt động sản xuất - kinh doanh của một số doanh

không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển đất nước; không hy sinh
lợi ích của người nông dân cho sự phát triển của đất nước. Có như vậy mục
tiêu “dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng và văn minh” mới đạt
được và chất lượng tăng trưởng mới mang tính bền vững v.v.
1.2. Lý luận pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất
1.2.1. Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất
Quan hệ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được điều chỉnh bằng pháp
luật hay nói cách khác pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ra
đời dựa trên những lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà
nước là người đại diện chủ sở hữu.
Toàn dân là chủ sở hữu đối với đất đai và Nhà nước là người đại diện
chủ sở hữu trở thành một nguyên tắc cơ bản của Luật Đất đai năm 2013. Vì
vậy, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cần thiết phải được

16


điều chỉnh bằng pháp luật nhằm quy định rõ quyền và nghĩa vụ đối với Nhà
nước và người sử dụng đất trong mối quan hệ quản lý và sử dụng đất đai. Xác
định điều kiện, đối tượng, nguyên tắc, trình tự, thủ tục và các trường hợp bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất v.v. Với vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân
về đất đai, Nhà nước có toàn quyền trong việc thu hồi đất, xác định giá đất bồi
thường; xây dựng phương án bồi thường và thực hiện việc bồi thường cho
người bị thu hồi đất v.v. Nếu không có các quy định của pháp luật để điều
chỉnh những hoạt động này của Nhà nước thì không ai có thể khẳng định
được việc không có sự lợi dụng vai trò này của cán bộ, công chức nhà nước
khi thực hiện chức trách, nhiệm vì lợi ích nhóm hay tham nhũng, tiêu cực …

khi nó được điều chỉnh bởi pháp luật đất đai.
Thứ tư, kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển
trên thế giới cho thấy sở dĩ các nước này giải quyết “bài toán đất đai” cho các
nhu cầu phát triển khi có hệ thống pháp luật bồi thường về đất thống nhất,
đồng bộ. Điều này khắc phục sự tùy tiện, tiêu cực trong việc thực hiện bồi
thường và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho người sử dụng đất. Việt Nam
đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định
hướng XHCN và hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu. Do đó, kinh
nghiệm của các nước phát triển về điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có giá trị tham khảo bổ ích đối với Việt
Nam nếu muốn thực hiện thành công mục tiêu nêu trên v.v.
1.2.2. Khái niệm pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất
Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là một chế định cơ bản
của pháp luật đất đai. Khái niệm pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật đất đai song lại
không được giải thích một cách chính thức; thậm chí tại Điều 3. Giải thích
thuật ngữ của Luật Đất đai năm 2013 cũng không đưa ra giải thích hiểu thế

18


nào về khái niệm này. Dựa trên quan niệm về pháp luật của lý luận nhà nước
và pháp luật cũng như tìm hiểu nội dung các quy định về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi
hành có thể hiểu khái niệm pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
như sau: Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm
tổng hợp các quy phạm quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm
bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong quá trình bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhằm giải

đất dẫn đến sự biến động rất lớn trong hoạt động sản xuất và đời sống của
người bị thu hồi. Họ bị mất đất với tư cách là tư liệu sản xuất (trong trường
hợp thu hồi đất nông nghiệp) dẫn đến việc không có “công ăn việc làm” hoặc
đình trệ sản xuất - kinh doanh hay bị mất chỗ ở, nơi cư trú v.v. Do đó khó
tránh khỏi những tác động đến tâm lý của người dân. Nếu không giải quyết ổn
thỏa lợi ích của người bị thu hồi đất thì chế định pháp luật này không đi vào
cuộc sống và không được Nhân dân tự giác chấp hành.
Ba là, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ thể hiện tính chất bồi thường đơn
phương dường như không dựa hoàn toàn vào sự tự do thỏa thuận ý chí của
các bên được ghi nhận trong các điều khoản của hợp đồng dân sự. Theo đó,
khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng - an ninh; phát
triển KT- XH vì lợi ích quốc gia, công cộng thì với tư cách là tổ chức được xã
hội bầu ra, thay mặt xã hội thực hiện việc bồi thường các thiệt hại cho người
sử dụng đất do bị lấy đất dùng cho các mục đích chung của xã hội, của cộng
đồng …
1.2.3. Yêu cầu đối với pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất
Thứ nhất, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất phải
đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Pháp chế XHCN là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của quản lý

20


nhà nước nói chung và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng.
Nguyên tắc pháp chế XHCN đòi hỏi các cơ quan nhà nước, cán bộ, công
chức nhà nước và mọi người dân phải tuân thủ pháp luật trong hoạt động,
hành xử của mình. Không ai có quyền vi phạm pháp luật hoặc làm trái quy
định của pháp luật để mang lại lợi ích cho mình mà làm phương hại đến
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Đảm bảo tính pháp chế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status