Đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp? Nêu các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về giải quyết “công ăn việc làm” cho người nông dân bị mất đất sản xuất - Pdf 35

MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................................................ 1
MỞ ĐẦU................................................................................................................................. 1
B. NỘI DUNG.......................................................................................................................... 2
1. Khái niệm pháp luật bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp...............2
2. Quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.....3
2.1.Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.....................................................3
2.2. Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp............................................................5
2.2.1 Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất:......................................................................6
2.2.2 Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi
đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp......................7
2.2.3Giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về giải quyết người dân bị thu
hồi đất nông nghiệp........................................................................................................10
C. KẾT LUẬN........................................................................................................................ 11
Danh mục tài liệu tham khảo:................................................................................................11

MỞ ĐẦU
Nước ta là một nước đang phát triển, đang trong tiến trình công nghiệp hóa.
Chính vì thế, trong những năm gần đây, ở hầu hết các địa phương, nhà nước đều
thực hiện thu hồi một phần diện tích đất đã giao cho các tổ chức, cá nhân sử
dụng đất. Việc thu hồi đất đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sinh hoạt cũng
như sản xuất của người sử dụng đất. Để bồi đắp những tổn thất đó, nhà nước đã
có những quy định cụ thể về bồi thường hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trong
những văn bản trước đây và hiện nay là bộ luật Đất đại năm 2013 và các văn bản
1


hướng dẫn. Một trong những vấn đề đáng quan tâm trong thời gian gần đây là
việc bồi thường hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Để làm rõ hơn các
vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của vấn đề này, em xin được nghiên cứu đề
tài: “ Đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi

khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để có thể đi sâu, đanh giá những quy định
trên.
2. Quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp.
Những quy định về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nói chung
được quy định tại Mục 2, Mục 3 Chương 6 Luật đất đai năm 2013 từ Điều 74
đến Điều 94. Những quy định này đã được cụ thể hóa trong các văn bản dưới
luật cụ thể là:Nghị định của Chính phủ số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vàThông tư của Bộ tài nguyên môi trường số
37/2014/TT-BTNMT ngày 30/06/2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Những văn bản này là cơ sở pháp lý trong
việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nói chung và thu hồi đất nông
nghiệp nói riêng. Tuy nhiên, trên thực tế áp dụng, các quy phạm pháp luật trên
còn bộc lộ những điểm còn hạn chế.
2.1.Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.
Theo khoản 12 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 thì: “ Bồi thường về đất là việc
nhà nước trả giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người
sử dụng đất.”
Trong công tác bồi thường đối với đất nông nghiệp bị thu hồi, có hai nhóm tài
sản chính yếu là đất nông nghiệp và tài sản gắn liền với đất bao gồm: cây trồng,
vật nuôi trên đất khi nhà nước thu hồi đất cụ thể như sau:

3


Thứ nhất, đối với thiệt hại về đất, nguyên tắc ưu tiên “bồi thường bằng việc giao
đất mới có cùng mục đích sử dụng” (khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013).
Song trên thực tế, nguyên tắc này chỉ được áp dụng đối với những tổ chức được
Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc thu tiền sử dụng đất bằng
ngân sách nhà nước mà ít khi được áp dụng đối với việc thu hồi đất nông nghiệp

thấy, cũng đã có những quy định kịp thời để đảm bảo giá trị bồi thường sát với
giá trị thị trường thực tế trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, hướng dẫn này
vẫn còn gặp rất nhiều trở ngại trên thực tế vì nhiều lý do. Thứ nhất, không có
căn cứ để xác định giá đất trên thị trường, vì trong các hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cũng như các giao dịch khác, người dân thường có xu hướng
khai giá đất thấp hơn so với giá thực tế để chỉ phải đóng thuế thấp. Ngoài ta,
công tác bồi thường có thể diễn ra trong một thời gian dài ở các địa phương,
trong nhiều năm liền, vì thế đã có sự thay đổi khá lớn về giá đất cũng như việc
xác định giá đất trên thực tế, gây ra nhiều bất cập dẫn đến việc bồi thường không
thỏa đáng, đây cũng là nguyên nhân chính gây ra những khái nại về đất đai.
Thứ ba, nguyên tắc bồi thường đối với thiệt hại hữu hình và thiệt hại vô hình.
Thiệt hại trong quá trình Nhà nước thu hồi đất có thể bằng hoặc lớn hơn giá trị
hữu hình của đất và tài sản gắn liền với đất trong phạm vi diện tích bị thu hồi.
Sở dĩ như vậy là vì việc thu hồi toàn bộ đất nông nghiệp có thể dẫn đến người
lao động trong các nông hộ thất nghiệp. Do đó, nên xem xét đến vấn đề bồi
thường những tổn thất vô hình khi Nhà nước thu hồi đất.
2.2. Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.
Khoản 14 Điều 3 luật này cũng quy định: “ Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là
việc nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất
và phát triển.”
Qua khái niệm trên, có thể hiểu hỗ trợ đối với hộ gia đình, cá nhân khi nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp là việc nhà nước giúp đỡ các hộ gia đình, cá nhân
bị thu hồi đất nông nghiệp thông qua việc đào tạo nghề, bố trí công việc mới.
5


Việc quy định các chính sách hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nói chung và đất
nông nghiệp nói riêng thể hiện sự nhân đạo của nhà nước – nhà nước của dân,
do dân và vì dân. Tuy nhiên khái niệm “hỗ trợ” của pháp luật hiện hành còn
chưa đầy đủ và phù hợp khi chưa bao quát được hết các trường hợp hỗ trợ khi

Có thể thấy rằng, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi càng nhiều thì đời sống
sản xuất của hộ gia đình, cá nhân càng bị ảnh hưởng. Do đó, việc chia ra 2 mức
hộ trợ đối với hộ gia đình cá nhân bị thu hồi từ 30%-70% và trên 70% diện tích
đất nông nghiệp đang được sử dụng đã khắc phục sự bất bình đẳng trong việc
hưởng mức hỗ trợ. Bên cạnh đó, đối với người đang sử dụng đất nông nghiệp từ
30% diện tích đất trở lên, thời gian hưởng hỗ trợ ổn định đời sống theo quy định
này cũng tăng lên gấp đôi. Ngoài ra, pháp luật còn có quy định về mức chi trả cụ
thể đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất. Mặc dù vậy, pháp luật hiện hành
chưa có quy định cụ thể về phương thức khoản hỗ trợ này.Chính vì thế dẫn đến
việc áp dụng tùy tiện và không đồng nhất giữa các địa phương.Có địa phương áp
dụng việc chi trả một lần, như vậy sẽ không mang lại hiệu quả trong công tác hỗ
trợ và làm mất đi mục đích ban đầu của việc hỗ trợ là ổn định đời sống và sản
xuất.
2.2.2 Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp
thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông
nghiệp
Trước tình trạng, nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp trở lên thất
nghiệp đang ngày càng phổ biến. Do đó, nhà nước ngày càng quan tâm đến
chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm mới cho hộ gia đình,
cá nhân bị thu hồi đất. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, mở rộng hơn quy định về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc
làm cho hộ gia đình cá nhân bị thu hồi đất.
7


Khoản 1 Điều 20 Nghị định 47/20014/NĐ- CP có quy định về mức độ hộ trợ đối
với người bị thu hồi đất nông nghiệp như sau:
“a, Hỗ trợ bằng tiền không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong
bảng giá đất của địa phương đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi;
diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa

không ít chính quyền địa phương và chủ dự án sử dụng đất thoái thác trách
nhiệm đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất.
Trong quy định của pháp luật hiện hành, có quy định rõ thẩm quyền trong việc
chỉ đạo và tổ chức thực hiện phương án đào tạo nghề, chuyển đổi nghề và tìm
kiếm việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất. Ngoài ra, trong quy định còn
xác định rõ: “Phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được
lập và phê duyệt đồng thời với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.” Đây
là quy định hoàn toàn hợp lý để đảm bảo cho việc hỗ trợ được đồng bộ và có
hiệu quả thực sự trên thực tế, khi người dân bị thu hồi đất không chỉ ổn định về
nơi ở mà còn ổn định cả về mặt sản xuất lao động khi chuyển đến nơi ở mới.
Tuy nhiên, việc thực thi quy định trên trên thực tế còn không nhiều. Ngoài ra,
một trong những điểm đáng chú ý của quy định của pháp luật về vấn đề trên đó
là: phương án đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm phải lấy ý
kiến của người thu hồi đất. Điều này giúp cho phương án đào tạo, chuyển đổi
nghề nghiệp có tính khả thi cao hơn, tránh trường hợp có phương án nhưng
người được hưởng lại không biết hoặc không cảm thấy phù hợp. Việc lấy ý kiến
của người bị thu hồi đất nông nghiệp được thực hiện đồng thời với việc lập
phương án hỗ trợ.

9


2.2.3Giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về giải quyết người dân
bị thu hồi đất nông nghiệp
Để triển khai thực hiện có hiệu quả những quy định về hỗ trợ đào tạo và
chuyển đổi nghề đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp. có thể
đưa ra một số giải pháp sau:
Thứ nhất, cần trú trọng tăng tỷ lệ đầu tư cho vấn đề đào tạo nghề, cần có hỗ trợ
ưu tiên riêng biệt đối với nhóm lao động dưới 35 tuổi. Bên cạnh đó, thực hiện xã
hội hoá đào tạo nghề, mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức

linh hoạt sáng tạo của các địa phương cũng như ý thức chấp hành pháp luật của
người dân.
C. KẾT LUẬN
Có thể nói, bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là vấn đề rất
phức tạp trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh những quy định rõ ràng cụ thể, thể
hiện các chính sách nhân đạo của nhà nước thì việc áp dụng và thực hiện các
quy phạm này trên thực tế còn nhiều hạn chế. Vì vậy trong thời gian tới cần có
những giải pháp phù hợp và hiệu quả hơn để nâng cao công tác bồi thường hỗ
trợ cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng và bị thu hồi đất nói
chung. Qua đó đảm bảo quyền công dân và công bằng xã hội.

Danh mục tài liệu tham khảo:
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật đất đai, Nxb. Công an nhân
dân, Hà Nội, 2010.
2. Luật đất đai năm 2013.
11


3. Nghị định của Chính phủ số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về
giá đất.
4. Nghị định của Chính phủ số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư.
5. Thông tư của Bộ tài nguyên môi trường số 37/2014/TT-BTNMT ngày
30/06/2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất.
6. Phan Trung Hiền, hoàn thiện pháp luật về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư trong giai đoạn hiện nay, Nghiên cứu lập pháp, số 23/2012. Tr 26
– 36.
7. Luận văn, Pháp luật về hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp qua
thực tiễn thi hành tại thành phố Phủ Lý - tỉnh Hà Nam : luận văn thạc sĩ

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status