Download miễn phí Chuyên đề Tác động gia nhập WTO đối với xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam và một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản
MỤC LỤC
Giới thiệu chung 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 4
1. Khái niệm “Xuất khẩu” và các yếu tố ảnh hưởng đến Xuất khẩu thuỷ sản 4
1.1. Khái niệm “Xuất khẩu” 4
1.2. Hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Ngành thuỷ sản Việt Nam 5
1.2.1. Nghiên cứu tiếp cận thị trường. 5
1.2.2. Xây dựng kế hoạch và lập phương án giao dịch. 6
1.2.3. Giao dịch đàm phán trước ký kết. 7
1.2.4. Ký kết hợp đồng. 8
1.2.5. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu. 8
1.2.6. Đánh giá hiệu quả thực hiện. 9
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu thuỷ sản 10
1.2.1. Điều kiện tự nhiên 10
1.2.2. Tiềm năng nguồn lợi thuỷ sản 11
1.2.3. Ảnh hưởng của công cụ và các chính sách kinh tế vĩ mô 16
1.2.4. Yếu tố chính trị và luật pháp 17
1.2.5. Ảnh hưởng của yếu tố khoa học công nghệ 17
2. Vị trí vai trò của xuất khẩu thuỷ sản trong nền kinh tế quốc dân 18
2.1. Xuất khẩu thuỷ sản có vai trò trong dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, hoá hiện đại hoá. 18
2.2. Xuất khẩu thuỷ sản góp phần mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại Việt Nam 19
2.3. Xuất khẩu thuỷ sản mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. 19
3. Giới thiệu tổng quan về tổ chức WTO 20
3.1. Thông tin chung 20
3.2. Mục tiêu, chức năng, nguyên tắc cơ bản 20
3.2.1. Mục tiêu 20
3.2.2. Chức năng 21
3.2.3. Nguyên tắc cơ bản 21
a. Thương mại không phân biệt đối xử 21
b. Thương mại ngày càng tự do hơn (từng bước và bằng con đường đàm phán) 22
c. Dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh bạch 23
d. Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn 24
e. Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế bằng cách dành ưu đãi hơn cho các nước kém phát triển 25
4. Những hiệp định và cam kết gia nhập WTO có ảnh hưởng đến xuất khẩu thuỷ sản 25
4.1. Hiệp đinh về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật SPS 25
4.2. Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại 26
4.3. Hiệp định về chống bán phá giá 30
4.4. Cam kết về thuế xuất nhập khẩu 33
4.5. Cam kết của Việt Nam về trợ cấp 35
4.6. Cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ 36
CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN 37
1. Thực trạng tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam 37
1.1. Thực trạng sản xuất, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản 37
1.2. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam 39
1.2.1. Giai đoạn trước khi gia nhập WTO 39
a. Tình hình chung 39
b. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản phân theo thị trường 42
1.2.2. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản 2 năm gia nhập WTO 53
a. Năm 2007 53
b. Năm 2008 58
2. Tác động gia nhập WTO đối với xuất khẩu thuỷ sản 68
2.1. Tác động tích cực và những cơ hội 68
2.1.1. Tác động đến cải cách kinh tế, môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư 68
2.1.2. Tác dộng đến kim ngạch xuất khẩu 71
2.1.3. Tác động đến năng lực sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh trạnh của doanh nghiệp thuỷ sản 72
2.1.4. Tác động đến chất lượng hàng thuỷ sản Việt Nam 76
2.1.5. Tác động đến mở rộng thị trường 76
2.2. Tác động tiêu cực và những khó khăn 78
Thứ nhất, tính cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu thuỷ sản ngày càng tăng lên 78
Thứ hai, những khó khăn thách thức nảy sinh từ phía thị trường xuất khẩu thuỷ sản chính của Việt Nam 80
Thứ ba, Việt Nam là thành viên thứ 150 trên tổng số 151 thành viên của WTO nên phải chịu nhiều bất lợi thế của nước đi sau 82
Thứ năm, vấn đề thương hiệu của hàng thuỷ sản Việt Nam còn nhiều bất cập 83
Thứ sáu, mất cân đối giữa khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực chế biến xuất khẩu 84
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM 86
1. Mục tiêu tổng quát 86
2. Chiến lược phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2020 86
3. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam 88
3.1. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng thuỷ sản xuất khẩu 88
3.1.1. Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm 88
3.1.2. Giải pháp tiết kiệm năng lượng: 94
3.1.3. Xây dựng chiến lược đa dạng hóa thị trường và đa dạng hoá sản phẩm. 95
3.1.4. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất 97
3.2. Giải pháp đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm 97
3.3. Xây dựng thương hiệu, đẩy mạnh xúc tiến thương mại và phát triển thị trường. 99
3.4. Các biện pháp đảm bảo phát triển thuỷ sản bền vững 102
3.5. Hoàn thiện cơ chế quản lý ngành 105
Kết luận 107
Danh mục tài liệu tham khảo 109
http://s1.liketly.com/flash/edoc/jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-swf-2014-08-01-chuyen_de_tac_dong_gia_nhap_wto_doi_voi_xuat_khau.YNNZgJGigO.swf /tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-71229/Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
Nhật và Mỹ. Đồng thời việc xuất khẩu sản phẩm sang thị trường EU sẽ góp phần nâng cao uy tín của hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị trường thế giới. Trong thời gian tới, để đứng vững và đảm bảo tăng trưởng bền vững trên thị trường EU, đòi hỏi các doanh nghiệp chế biến Việt Nam và các khâu hoạt động có liên quan phải không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý.
Trung Quốc và Hồng Kông: là những thị trường nhập khẩu thuỷ sản trung bình trên thế giới, nhưng là láng giềng gần gũi có nhiều nét tương đồng về tiêu dùng và văn hoá với Việt Nam. Trung Quốc và Hồng Kông là thị trường có nhiều triển vọng cho xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Nhập khẩu của Trung Quốc và Hồng Kông chủ yếu được dùng để tái chế biến phục vụ xuất khẩu. Giá trị nhập khẩu thuỷ sản của Trung Quốc và Hồng Kông tăng rất nhanh trong những năm gần đây do sự phát triển ồ ạt công nghiệp chế biến và tái chế các mặt hàng thuỷ sản cao cấp như cá philê, cá hộp và các mặt hàng chín ăn liền phục vụ xuất khẩu. Bên cạnh đó, do nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định nhiều năm nên nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản trên thị trường này đang tăng nhanh và chủng loại đa dạng, từ các sản phẩm có giá trị rất cao như các loại cá sống đến các loại sản phẩm giá trị thấp, không đòi hỏi cao về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm như hàng cá khô và mực nút nguyên con. Tuy nhiên, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường này chủ yếu vẫn là mua bán qua biên giới, quy mô của các đơn vị nhập khẩu rất nhỏ nên chỉ phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ trước đến nay thị trường Trung Quốc và Hồng Kông vẫn là thị trường dễ tính về chất lượng, an toàn vệ sinh, nhưng sau khi trở thành thành viên WTO, Trung Quốc đã bắt đầu áp dụng các rào cản kỹ thuật, an toàn vệ sinh đối với hàng hoá nhập khẩu. Từ ngày 30/6/2003 các lô hàng thuỷ sản xuất khẩu vào Trung Quốc phải được kiểm tra và cấp chứng nhận chất lượng an toàn vệ sinh theo các chỉ tiêu do Trung Quốc quy định, đồng thời phải đăng ký danh sách doanh nghiệp xuất khẩu vào Trung Quốc kèm theo mã số. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến xuất khẩu thuỷ của Việt Nam vào thị trường này giảm mạnh từ năm 2003 đến nay.
Trong giai đoạn thập kỷ 1980 – 1990, Trung Quốc chiếm 2% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam từ năm 2000 đã vươn lên đứng thứ 3 chiếm 15%. Tuy nhiên, đến năm 2003 do sự thay đổi về cơ chế nhập khẩu và ảnh hưởng của dịch SARS mà kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào Trung Quốc đã sụt giảm mạnh. Mặc dù vẫn đứng thứ 3, nhưng xuất khẩu vào thị trường này vẫn giảm nhiều so với năm 2002, khối lượng giảm 46,8% về giá trị giảm 51,28% chỉ còn chiếm tỷ trọng 6,69% trong tổng giá trị kim ngạch của Việt Nam. Xu hướng giảm này vẫn duy trì đến năm 2005, giá trị xuất khẩu sang thị trường này chỉ còn 134,7 triệu USD so với 316,7 triệu USD năm 2001. Có nhiều nguyên nhân khách quan dẫn đến tình trạng trên, song những kết quả ấy cũng buộc chúng ta phải đặt ra câu hỏi, liệu công tác xúc tiến thương mại, duy trì thị trường truyền thống còn có chỗ nào lệch hướng, bất cập. Đây là thị trường lớn, có tiềm năng song cạnh tranh ngày càng phức tạp, giá sản phẩm có xu hướng giảm và khả năng tăng hiệu quả là khó khăn. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ là thị trường tiêu thụ thuỷ sản hàng đầu của khu vực châu Á, với đặc điểm tiêu thụ của thị trường này là vừa tiêu thụ cho dân cư bản địa, vừa là thị trường tái chế và tái xuất. Tôm hùm, tôm sú, cá ngừ, mực… đang có xu hướng tiêu thụ ngày càng tăng trên thị trường này, do thu nhập của dân cư ở các đô thị của Trung Quốc không ngừng được nâng lên. Các rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm của thị trường Trung Quốc và Hồng Kông chắc chắn sẽ ngày càng chặt chẽ hơn. Ngược lại, hàng thuỷ sản nguyên liệu nhập từ các nguồn này vào Việt Nam ngày càng tăng nhưng Việt Nam lại chưa có biện pháp cụ thể để kiểm soát.
Các thị trường khác
Các thị trường khác thuộc châu Á đã được Việt Nam quan tâm ngày một nhiều hơn, nhất là khi thuế nhập khẩu vào các thị trường khu vực giảm xuống 0 – 5% và khi thị trường lớn có biến động. Tỷ trọng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào các thị trường này tăng lên đáng kể, từ 23,1% năm 1998 lên khoảng 26% năm 2003, năm 2005 tăng 21,45% so với năm 2004. Trong đó phải kể đến hai thị trường quan trọng là Hàn Quốc và Đài Loan. Năm 2004 thị phần xuất khẩu vào Hàn quốc đạt 5,8% tăng 31,2% và xuất vào Đài Loan đạt 4,4% tăng 49%. Các thị trường này chủ yếu nhập khẩu cá biển, mực, bạch tuộc. Do Hàn Quốc có công nghiệp chế biến phát triển ở trình độ cao nên đây cũng là một trong những thị trường ở châu Á có yêu cầu khá cao về vệ sinh an toàn thực phẩm. Năm 2002 Hàn Quốc bắt đầu áp dụng quy định nước xuất khẩu phải đăng ký danh sách doanh nghiệp xuất khẩu vào Hàn Quốc (điều kiện sản xuất an toàn vệ sinh phải đạt tiêu chuẩn Hàn Quốc và nước sở tại) đồng thời buộc các lô hàng xuất khẩu phải kèm theo chứng thư theo mẫu Hàn Quốc quy định (trong đó phải ghi rõ mã số của doanh nghiệp sản xuất hàng đã được phía Hàn Quốc chấp nhận). Việt Nam đã đáp ứng được các yêu cầu trên nên xuất khẩu sang Hàn Quốc vẫn tăng trưởng liên tục. Đây là thị trường xuất khẩu thuỷ sản lớn thứ 4 của Việt Nam, năm 2005 Việt Nam đã xuất khẩu thuỷ sản sang Hàn Quốc với tổng trị giá lên tới 162,1 triệu USD, chiếm 5,94% tổng giá trị.
Ôxtrâylia, ngoài việc bắt buộc chứng nhận tôm nhập khẩu không mang mầm bệnh (đốm trắng, đầu vàng), thị trường này đã có những phản ánh về tình hình chất lượng và an toàn vệ sinh thuỷ sản (bạch tuộc vòng xanh, bảo quản thuỷ sản khô bằng cacbon điôxit...) nhưng chưa mang tính hệ thống. Mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa có hiểu biết đầy đủ về thị trường này, nhưng những năm qua xuất khẩu sang thị trường Ôxtrâylia vẫn có sự tăng trưởng tuy nhịp độ không đều. Năm 2005, giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Ôxtrâylia đạt 98,8 triệu USD, chiếm 3,62% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản, gấp 4 lần so với năm 2001.
Bên cạnh thị trường EU, các nước Đông Âu cũng là một thị trường xuất khẩu thuỷ sản tiềm năng của Việt Nam tại châu Âu. Đặc biệt một số nước Đông Âu mới gia nhập EU đã trở thành những nhà nhập khẩu đáng kể như Ba Lan, Litva… Mặc dù kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường Đông Âu còn chưa cao, nhưng đây cũng là hướng phát triển mới đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản khi gặp khó khăn trên thị trường Mỹ. Điều này đã được chứng minh cụ thể đối với sản phẩm cá tra, basa xuất khẩu.
Nga đã có những bước tiến rất dài trong nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Trong 11 tháng năm 2006, Nga đã nhập khẩu từ Việt Nam 51,92 ngàn tấn sản phẩm thuỷ sản, giá trị 111,35 triệu USD, chiếm gần 3,5% tổng thị phần.
Tóm lại, trong thời gian qua, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã có sự tăng trưởng ổn định. Các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản từ những bước đầu ch