ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THÙY DƢƠNG
PH¸P LUËT VÒ Xö Lý VI PH¹M
TRONG LÜNH VùC KÕ TO¸N ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THÙY DƢƠNG
PH¸P LUËT VÒ Xö Lý VI PH¹M
TRONG LÜNH VùC KÕ TO¸N ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ LAN HƢƠNG
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Những vấn đề lý luận pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh
vực kế toán ........................................................................................ 20
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh
vực kế toán. ........................................................................................ 20
1.2.2. Chủ thể xử lý vi phạm và chủ thể bị xử lý vi phạm trong lĩnh vực
kế toán ................................................................................................ 24
1.2.3. Các biện pháp xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán ......................... 26
1.2.4. Thủ tục xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán .................................... 30
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG
LĨNH VỰC KẾ TOÁN Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN XỬ LÝ
VI PHẠM KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP.......................................... 32
2.1.
Thực trạng quy định về xử lý vi phạm hóa đơn và thực tiễn
xử lý vi phạm về hóa đơn của doanh nghiệp ................................. 32
2.1.1. Thực trạng quy định về xử lý vi phạm hóa đơn ................................. 32
2.1.2. Thực tiễn xử lý vi phạm về hóa đơn của doanh nghiệp ..................... 44
2.2.
Thực trạng quy định về xử lý vi phạm báo cáo tài chính và thực
tiễn xử lý vi phạm về báo cáo tài chính của doanh nghiệp ............... 51
2.2.1. Thực trạng quy định về xử lý vi phạm báo cáo tài chính................... 51
2.2.2. Thực tiễn xử lý vi phạm về báo cáo tài chính của doanh nghiệp ............ 60
2.3.
Thực trạng quy định về xử lý vi phạm quản lý sổ kế toán và
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC:
Báo cáo tài chính
BKS:
Ban kiểm soát
CTCP:
Công ty cổ phần
DN:
Doanh nghiệp
ĐHĐCĐ:
Đại hội đồng cổ đông
GTGT:
Giá trị gia tăng
HĐXX:
Hội đồng xét xử
Vale Added Tax (Thuế giá trị gia tăng)
VPHC:
Vi phạm hành chính
VPPL:
Vi phạm pháp luật
XLVPPL:
Xử lý vi phạm pháp luật
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Bảng 2.1. Báo cáo kết quả chương trình đánh giá chất lượng công bố
thông tin và minh bạch cho các DN niêm yết trên HNX
2015-2016
Trang
67
MỞ ĐẦU
nhiều lỗ hổng kế toán, tạo môi trường cho những cá nhân, tổ chức lạm quyền
thực hiện hành vi bất hợp pháp gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức có liên quan
nói riêng và cho Nhà nước nói chung.
Trong thời gian qua, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
kế toán ở Việt Nam đang từng bước hoàn thiện và góp phần không nhỏ nâng
cao chất lượng quản lý trong lĩnh vực kế toán. Pháp luật về xử lý vi phạm
trong lĩnh vực kế toán không chỉ giúp người quản lý doanh nghiệp điều hòa
được tình hình tài chính thông qua việc giám sát thực hiện các nghiệp vụ kế
toán phát sinh mà còn có vai trò quan trọng đối với Nhà nước trong việc theo
dõi sự phát triển của các ngành sản xuất kinh doanh, tổng hợp được sự phát
triển của nền kinh tế; là cơ sở để giải quyết tranh chấp về quyền lợi giữa các
doanh nghiệp, cung cấp thông tin để tìm ra cách tính thuế tốt nhất, hạn chế
thất thu thuế, hạn chế sai lầm trong chính sách thuế…
Thực tiễn cho thấy, việc đảm bảo thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm
trong lĩnh vực kế toán bên cạnh những ưu điểm đã bộc lộ nhiều bất cập như
có nhiều qui định pháp luật còn chồng chéo, không thống nhất, chưa phù hợp
với thực tế và thiếu tính khả thi. Cụ thể như việc xử lý loại tội phạm liên quan
đến hóa đơn trong thời gian qua cho thấy một số hạn chế được nhìn nhận cả
từ phía cơ quan thuế và các cơ quan tiến hành tố tụng. Với cơ quan thuế, đó là
tình trạng thất thu thuế khi DN bán hàng không xuất hóa đơn VAT cho người
tiêu dùng, hoặc DN hợp thức hóa các khoản chi phí bằng việc mua bán trái
phép hóa đơn, chứng từ. Tuy nhiên, để xử lý cơ quan thuế địa phương gặp
không ít khó khăn vì thủ tục kiểm tra phức tạp và mức xử phạt thấp (muốn
kiểm tra, cơ quan thuế phải thông báo cho DN biết trước 3 ngày, khi phát hiện
DN bán hàng không xuất hoá đơn kịp thời, nếu phạt cũng chỉ 10 triệu đồng,
còn nếu không xuất hoá đơn thì có thể bị phạt về hành vi trốn thuế, nhưng
mức phạt chỉ bằng 3 lần số tiền thuế trên số hàng bán không xuất hoá đơn)…
2
Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014), Nghiên cứu về sai sót trong báo cáo
tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Đại
học Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh, 2014. Luận văn
nghiên cứu tổng hợp các thủ thuật được sử dụng để làm đẹp báo cáo tài chính
của công ty niêm yết và chỉ ra kỹ thuật phát hiện sai sót trọng yếu do gian lận,
từ đó giúp cho kiểm toán viên, nhà đầu tư và ban quản lý định hướng đúng
đắn để ứng phó với gian lận báo cáo tài chính theo hướng hiệu quả, chính xác
và nhanh chóng hơn.
Chu Thị Ngọc (2014), Xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp ở Việt Nam, Khoa Luật, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật Kinh tế, 2014.
Luận văn đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện xử
lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp, qua đó chỉ ra những điểm
còn hạn chế, khó khăn, vướng mắc và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật
về xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.
Hoàng Thị Thanh Hải (2014), Pháp luật về hóa đơn giá trị gia tăng ở
Việt Nam, Khoa Luật, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật Kinh tế, 2014. Luận văn
khái quát những vấn đề cơ bản về hóa đơn, hóa đơn GTGT, pháp luật về hóa
đơn GTGT và đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng hóa đơn GTGT ở Việt
Nam; qua đó đưa ra hướng hoàn thiện và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
pháp luật về hóa đơn GTGT.
Trần Quốc Hùng (2011), Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở
Việt Nam, Khoa Luật, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật Kinh tế, 2011. Luận văn
nghiên cứu khái quát chung về khấu trừ, hoàn thuế GTGT và pháp luật về
hoàn thuế GTGT, tác giả đánh giá thực trạng pháp luật về hoàn thuế GTGT
ở Việt Nam, qua đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế
GTGT ở Việt Nam.
4
lĩnh vực kế toán, quan đó nghiên cứu thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm kế
toán của doanh nghiệp và thực tiễn xử lý vi phạm hành chính và vi phạm hình
sự đối với các vi phạm về hóa đơn, báo cáo tài chính và quản lý sổ kế toán.
- Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp
chính như phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phân tích và tổng hợp.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như
phương pháp so sánh...
5. Những đóng góp mới của luận văn
Điểm mới nhất của luận văn là nghiên cứu có hệ thống pháp luật về
xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán và thực trạng xử lý vi phạm trong lĩnh
vực kế toán từ thực tiễn xử lý vi phạm về hóa đơn, về báo cáo tài chính, về
quản lý sổ kế toán của doanh nghiệp. Ngoài ra làm sáng tỏ môi trường pháp
lý ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
kế toán. Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp mang tính toàn diện có ý nghĩa
to lớn đảm bảo thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán
từ thực tiễn xử lý vi phạm kế toán của doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện
cơ chế thực hiện và bảo vệ pháp luật, giáo dục pháp luật theo chủ trương,
đường lối của Đảng và Nhà nước.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa về mặt lý luận: Luận văn góp phần xây dựng hệ thống các
khái niệm, đặc điểm của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán và
môi trường pháp lý ảnh hưởng đến việc đảm bảo thực hiện pháp luật về xử lý
vi phạm trong lĩnh vực kế toán.
- Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần hoàn thiện cơ chế kiểm
soát vi phạm trong lĩnh vực kế toán. Luận văn có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo để nghiên cứu thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh
vực kế toán.
6
động kế toán được thực thi một cách công bằng, hợp lý. Mặt khác, một khi
xác định được biện pháp xử lý vi phạm đúng người đúng tội sẽ phát huy được
hiệu quả của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán, quan trọng
hơn là góp phần lập lại trật tự quản lý nhà nước bị xâm hại, tăng cường giáo
dục người vi phạm; cảnh báo, phòng ngừa vi phạm có thể xảy ra và hạn chế
tối đa những bất cập trong việc xử phạt.
Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật:
Vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại
đến các lợi ích được bảo vệ bằng ngành luật tương ứng hoặc trái với
các quy định được quy định trong ngành ấy, do người có năng lực
trách nhiệm pháp lý và đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý thực hiện
một cách có lỗi [20, tr.537].
8
Còn theo giáo trình Luật Thuế Việt Nam:
Vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi làm trái các quy định
của pháp luật, do tổ chức hoặc cá nhân thực hiện với một lỗi xác
định (cố ý hoặc vô ý), gây thiệt hại đến lơi ích chung và do đó phải
chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi đó của mình [26, tr.331].
Có thể nói, vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi làm trái các quy
định của pháp luật, do một chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện
với lỗi cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
và do đó phải chịu các biện pháp xử lý của pháp luật.
Xuất phát từ khái niệm vi phạm pháp luật nêu trên thì vi phạm trong
lĩnh vực kế toán được hiểu là hành vi làm trái các quy định của pháp luật về
kế toán, do chủ thể pháp luật là tổ chức, cá nhân thực hiện với lỗi cố ý hoặc
vô ý, gây phương hại đến quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức được
pháp luật kế toán bảo vệ và do đó phải gánh chịu các chế tài tương ứng theo
quy định của pháp luật.
quy định mặc dù cần phải và có thể thực hiện nghĩa vụ đó ví dụ hành vi trốn
thuế. Các hành vi này dù thể hiện dưới dạng nào đều xâm hại đến trật tự pháp
luật kế toán, gây thiệt hại cho các chủ thể quản lý kinh tế hay cho các đối tượng
sử dụng thông tin kế toán và thiệt hại này là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp
luật gây ra. Thiệt hại có thể là vật chất hoặc tinh thần cho từng chủ thể trong xã
hội và việc xác định được dấu hiệu của vi phạm là rất cần thiết trong việc áp
dụng các biện pháp xử lý đối với từng loại vi phạm cụ thể.
Về phương diện khách thể, vi phạm trong lĩnh vực kế toán xâm hại đến
những quan hệ xã hội được pháp luật kế toán điều chỉnh và bảo vệ hay nói
cách khác đó chính là xâm hại đến lợi ích cụ thể như lợi ích riêng của tổ chức,
cá nhân hoặc lợi ích chung của toàn xã hội. Tùy thuộc vào mức độ xâm hại
của hành vi vi phạm đến lợi ích mà người ta xác định được mức độ cũng như
biện pháp xử lý áp dụng đối với hành vi đó. Ví dụ, đối với hành vi trốn thuế,
10
tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi (thường được xác định dựa
vào mức tiền trốn thuế) mà hành vi này có thể bị xử lý hành chính theo luật
xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
Về phương diện chủ quan, vi phạm trong lĩnh vực kế toán được đặc
trưng bởi yếu tố lỗi, có liên quan đến động cơ, mục đích của chủ thể thực hiện
vi phạm. Lỗi này thể hiện dưới hai hình thức là lỗi cố ý và lỗi vô ý, chúng có
thể được xác định thông qua việc đánh giá mối quan hệ giữa khả năng nhận
thức và điều khiển hành vi của chủ thể thực hiện hành vi đối với hậu quả xảy
ra cho nền kinh tế, cho xã hội bởi hành vi đó.
Về phương diện chủ thể, vi phạm trong lĩnh vực kế toán là hành vi được
thực hiện bởi chủ thể là tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kế toán.
Các chủ thể này thường vi phạm trong khi thực hiện các quyền hay nghĩa vụ
pháp lý của mình theo quy định của pháp luật. Trên thực tế mức độ vi phạm
- Vi phạm của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị sự nghiệp sử dụng
ngân sách nhà nước; tổ chức, đơn vị sự nghiệp không sử dụng ngân sách nhà
nước; doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam;
chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam; hợp
tác xã, liên hợp tác xã; hộ kinh doanh; tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ
kế toán tại Việt Nam.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu các
vi phạm trong lĩnh vực kế toán từ thực tiễn xử lý vi phạm của doanh nghiệp.
* Phân loại theo tính chất của vi phạm
i. Vi phạm về hóa đơn
Đối với doanh nghiệp, hóa đơn là một bằng chứng chủ yếu cho nghiệp
vụ kinh doanh và có tính chất quyết định đến nghĩa vụ nộp thuế của doanh
nghiệp, vì vậy, việc quản lý phát hành và sử dụng hóa đơn có ý nghĩa to lớn
không chỉ đối với Nhà nước mà đối với cả bản thân doanh nghiệp. Việc quản
lý và xử phạt vi phạm hóa đơn nếu không được kiểm soát chặt chẽ có thể dẫn
12
đến tình trạng phản ánh sai lệch kết quả sản xuất kinh doanh, nghĩa vụ nộp
thuế đối với Nhà nước của doanh nghiệp. Các đối tượng có thể lợi dụng các
kẽ hở trong quy định về hóa đơn để gian lận, rút tiền của ngân sách nhà nước,
nếu xử phạt vi phạm không nghiêm sẽ tạo ra sự bất bình đẳng giữa các doanh
nghiệp, ảnh hướng xấu đến môi trường sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Trong doanh nghiệp, vi phạm về hóa đơn chủ yếu là hành vi thành lập
doanh nghiệp ma để mua bán hóa đơn và gian lận thuế; hành vi xuất hóa đơn
giá trị gia tăng khống; hành vi bán hàng lập hóa đơn chênh lệch giữa các liên;
hành vi lập hồ sơ xuất khẩu khống để được hoàn thuế; hành vi bán hàng
không xuất hóa đơn…
ii. Vi phạm về lập báo cáo tài chính
i. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán
Về mặt lý thuyết, vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán được hiểu
là những hành vi cố ý hoặc vô ý làm trái các quy định pháp luật hành chính
trong lĩnh vực kế toán, do tổ chức, cá nhân thực hiện nhằm xâm hại đến
những lợi ích đang được pháp luật bảo vệ nhưng chưa đến mức xử lý hình sự
và do đó phải chịu trách nhiệm hành chính. Về mặt lý luận, có thể phân biệt
loại vi phạm này với vi phạm hình sự hay các loại hình vi phạm khác về kế
toán thông qua những đặc trưng cơ bản sau đây:
Chủ thể vi phạm là cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài vi phạm
quy định của pháp luật về kế toán trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, nhưng
chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính.
Tính chất vi phạm, các hành vi vi phạm này đều có một điểm chung là
chúng tác động đến trật tự pháp luật hành chính trong lĩnh vực kế toán đã được
thiết lập và đảm bảo thực hiện bởi Nhà nước gồm các vi phạm sau: vi phạm về
hóa đơn, vi phạm về báo cáo tài chính, vi phạm về quản lý sổ kế toán…
Biện pháp xử lý áp dụng đối với vi phạm hành chính về kế toán là xử lý
hành chính gồm hình thức phạt cảnh cáo, phạt tiền. Ngoài ra, tùy thuộc vào tính
14
chất và mức độ vi phạm mà người vi phạm còn có thể bị áp dụng biện pháp xử
phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật… và các biện
pháp khắc phục hậu quả khi có thiệt hại thực tế do hành vi vi phạm gây ra.
ii. Vi phạm hình sự trong lĩnh vực kế toán
Trong lĩnh vực kế toán, các vi phạm có tính chất hình sự tuy không
nhiều như vi phạm hành chính song tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội của loại vi phạm này là rất lớn. Do vai trò quan trọng của việc bảo vệ nền
pháp chế nên pháp luật hình sự các nước đều tìm cách quy định những hành
vi nguy hiểm cho xã hội nào trong lĩnh vực kế toán là tội phạm. Nói cách
từ những quan hệ tài chính, kế toán hay lợi ích chung của xã hội. Ngoài phạm
vi tác động là các quy định của pháp luật hình sự, những hành vi vi phạm hình
sự trong lĩnh vực kế toán còn tác động đến các quy định của Luật kế toán, luật
Thuế, và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến kế toán.
Biện pháp xử lý các hành vi vi phạm hình sự trong lĩnh vực kế toán là áp
dụng các hình phạt đối với người phạm tội. Tuy nhiên, do đặc thù của các hành
vi vi phạm hình sự trong lĩnh vực kế toán là thường gây ra các thiệt hại về vật
chất cho Nhà nước và xã hội nên việc áp dụng các hình phạt đối với người phạm
tội trong lĩnh vực kế toán cũng thường có thiên hướng sử dụng các chế tài vật
chất, ví dụ hình phạt tiền. Khi chủ thể vi phạm có đủ yếu tố cấu thành tội phạm,
phụ thuộc vào mức độ gây thiệt hại có giá trị lớn thì người phạm tội sẽ bị phạt tù
và bồi thường thiệt hại cho các bên liên quan.
iii. Các loại vi phạm khác
Vi phạm dân sự trong lĩnh vực kế toán được hiểu là những hành vi trái
pháp luật dân sự, do tổ chức, cá nhân thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý nhằm
gây thiệt hại về vật chất, tài sản cho Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân khác trong
quá trình tham gia vào hoạt động kế toán và do đó phải chịu trách nhiệm dân sự
(trách nhiệm bồi thường thiệt hại) về hành vi của mình. Các hành vi vi phạm
gây thiệt hại cho quyền tài sản hay lợi ích kinh tế của một trong các chủ thể
16
tham gia vào hoạt động kế toán như Nhà nước, chủ sở hữu doanh nghiệp, nhà
đầu tư… không phân biệt sự thiệt hại đó xảy ra đối với lợi ích công hay tư, ví
dụ kế toán viên vi phạm quy định bảo mật gây thiệt hại cho doanh nghiệp thì kế
toán viên có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp theo các điều
khoản trong hợp đồng lao động phù hợp với quy định của pháp luật; doanh
nghiệp có hành vi gian lận trong báo cáo tài chính, công khai báo cáo tài chính
không trung thực gây thiệt hại cho nhà đầu tư thì phải bồi thường…
động của việc xử lý vi phạm pháp luật là hành vi phạm pháp hay chính bản
thân người phạm pháp; các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật có thể áp
dụng đối với người vi phạm là biện pháp cưỡng chế hành chính hay cưỡng
chế tư pháp... Việc áp dụng đúng đắn các biện pháp xử lý vi phạm không
những đảm bảo sự tuân thủ pháp luật kế toán mà còn tác động đến các luật
có liên quan khác như luật thuế, luật chứng khoán…
Xuất phát từ khái niệm xử phạt vi phạm hành chính là việc người có
thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả
đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định
của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Và luật cũng quy định ba nhóm
biện pháp có thể được áp dụng đối với vi phạm hành chính gồm các hình thức
xử phạt hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả, các biện pháp ngăn
chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính. Mặt
khác, về khái niệm xử lý vi phạm hình sự trong lĩnh vực kế toán mặc dù chưa
được định nghĩa cụ thể nhưng bộ luật hình sự cũng đã nêu ra các tội danh liên
quan đến lĩnh vực kế toán trong chương tội phạm kinh tế, ví dụ như tội trốn
thuế, theo đó, khi người nộp thuế có hành vi vi phạm nghiêm trọng tới mức
truy cứu trách nhiệm hình sự với tội trốn thuế thì sẽ bị xử phạt với hình thức
xử phạt chính là phạt tiền hoặc phạt tù.
Như vậy, có thể kết luận xử lý vi phạm trong lĩnh vực kế toán là việc
18