báo cáo tốt nghiệp NHÀ máy xử lý KHÍ DINH cố - Pdf 47

BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH XÃ HỘI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ DẦU KHÍ
KHOA DẦU KHÍ
BÁO CÁO THỰC TẬP

NHÀ MÁY XỬ LÝ KHÍ DINH CỐ

Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện: Phạm Minh Tú
Chuyên ngành : Vận hành thiết bị dầu khí.
Lớp
:Vận hành I
Khóa
: 2009 – 2012
Bà Rịa-Vũng Tàu, tháng 06 năm 2012

1


LỜI MỞ ĐẦU
Với những hành trang kiến thức thu thập trong quá trình học tập và rèn luyện tại
trường sẽ không đủ nếu không có quá trình thực tập thực tế tại các nhà máy xí nghiệp.
Trong quá trình thực tập, sinh viên sẽ vận dụng những kiến thức đã học vào những gì
đang diễn ra tại nhà máy, và qua quá trình tìm hiểu tại nhà máy sẽ giúp sinh viên tiếp thu
những kiến thức khác mà ở nhà trường không có điều kiện giảng dạy.
Đới với những sinh viên năm cuối như em, thực tập sẽ giúp ít một phần vào quá
trình tìm kiếm việc làm trong tương lai, cũng như định hướng lại chính ngành nghề mà
mình đã chọn. Kết quả của quá trình thực tập tại các nhà máy xí nghiệp sẽ đánh giá chính
năng lực tiếp thu của người sinh viên trong suốt thời gian học tập ở trường.
Trong quá trình thực tập tại Nhà máy xử lý khí Dinh Cố, luôn lắng nghe các anh các
chị kỹ sư vận hành tại Nhà máy để tích góp kinh nghiệm trong quá trình lao động, và

cô trong Khoa Dầu Khí đã giúp em có được chuyến đi thực tập tại Nhà máy xử lý khí
Dinh Cố. Các thầy các cô đã bỏ chút thời gian để liên hệ và tạo môi trường thực tập tốt
cho em. Em xin trân trọng cảm ơn:
 Thầy – giáo viên hướng dẫn thực tập.
Một lần nữa, em xin gởi lời cảm ơn tới tất cả mọi người đã giúp đỡ em trong quá
trình thực tập và hoàn thành thật tốt chuyến đi thực tập tại Nhà máy xử lý khí Dinh Cố.
Xin chân thành cảm ơn!

SINH VIÊN THỰC TẬP TẠI GPP

3


NHẬN XÉT
(của giảng viên hướng dẫn)

.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................

MÁY.......................................................................................................................................................
I.CHÍNH SÁCH VỀ SỨC KHỎE, AN TOÀN VÀ MÔI TRƯỜNG:...........................................
II. NỘI QUY AN TOÀN ÁP DỤNG TẠI NHÀ MÁY:.................................................................
CHƯƠNG VI: KẾT LUẬN................................................................................................................

5


Báo cáo thực tập

Nhà máy xử lý khí Dinh Cố

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG
I. TÀI NGUYÊN KHÍ THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM:
Nền tảng cơ bản để phát triển ngành công nghiệp khí Việt Nam phải kế đến tiềm
năng nguồn khí. Việt Nam có nguồn tài nguyên dầu khí vào loại trung bình so với các
nước trên thế giới và đứng hàng thứ 3 trong khu vực (sau Indonesia và Malaysia).
Theo Petro Việt Nam Gas, tổng tiềm năng khí thiên nhiên có thể thu hồi vào khoảng
2.694 tỷ m3 và trữ lượng đã phát hiện vào khoảng 672 tỷ m 3, tập trung chủ yếu ở các bể
Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu, Cửu Long và Sông Hồng.
Bảng 1.1. Trữ lượng khí ở Việt Nam

Tên Bể

Trữ lượng thực tế ( tỷ m3 )

Sông Hồng

5,6 – 11,2


Bảng 1.2. Thành phần khí trong các mỏ

Bạch Hổ

Rồng

Đại Hùng

C1

71,59

76,54

77,25

C2

12,52

6,98

9,49

C3

8,61

8,25



1,84

1,49

2,33

CO2, N2

0,72

5,02

4,5

Thành phần khí ( % vol )
Các Cấu tử

Tiền Hải

Rồng ( mỏ khí )

C1

87,64

84,77

C2


1,49

II. GIỚI THIỆU TỔNG CÔNG TY KHÍ VIỆT NAM – PV GAS:
Tổng Công ty Khí Việt Nam - PV GAS là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên được thành lập trên cơ sở tổ chức lại Công ty TNHH một thành viên Chế biến và
Kinh doanh sản phẩm khí và các đơn vị thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc Gia Việt Nam hoạt
động trên các lĩnh vực thu gom, vận chuyển, chế biến, tàng trữ, phân phối và kinh
doanh các sản phẩm khí trên phạm vi toàn quốc.
2.1. Hoạt động chính:
- Thu gom, vận chuyển, tàng trữ, chế biến khí và sản phẩm khí;
- Phân phối, kinh doanh các sản phẩm khí khô, khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG), khí
thiên nhiên nén ( CNG), khí dầu mỏ hoá lỏng ( LPG), khí ngưng tụ (Condensate); kinh
doanh vật tư, thiết bị, hóa chất trong lĩnh vực chế biến khí và sử dụng các sản phẩm khí,
kinh doanh dịch vụ cảng, kho bãi;
- Đầu tư cơ sở hạ tầng, hệ thống phân phối sản phẩm khí khô, khí lỏng;
- Phân phối LPG từ các nhà máy lọc hoá dầu và các nguồn khác của Tập đoàn;

Phạm Minh Tú/ VH I-2009

Trang 7


Báo cáo thực tập

Nhà máy xử lý khí Dinh Cố

- Tư vấn thiết kế, lập dự án đầu tư, thực hiện đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành,
bảo dưỡng, sửa chữa các công trình, dự án khí và liên quan đến khí;
- Nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khí, thiết kế, cải tạo công trình khí;
- Nghiên cứu trong lĩnh vực khí, cải tạo, bảo dưỡng, sửa chữa động cơ, lắp đặt thiết

cho nhà máy xử lý khí Dinh Cố và các nhà máy điện Bà Rịa, Phú Mỹ và một số công
trình hạng mục khác.
Thiết bị tách khí cao áp trên giàn công nghệ trung tâm số 2 tại mỏ Bạch Hổ.
Giàn ống đứng và các công trình phụ trợ tại mỏ Bạch Hổ.
Đường kính đường ống 16 inch dài 124km từ Bạch Hổ vào đến Bà Rịa.
Trạm xử lý khí Dinh Cố.
Trạm phân phối khí tại Bà Rịa.
Trạm điều hành trung tâm ở Vũng Tàu.
Các công trình tiêu thụ khí bao gồm các nhà máy điện Bà Rịa, Phú Mỹ cũng được
triển khai xây dựng.

2.3.2. Dự án khí Nam Côn Sơn:
Dự án khí Nam Côn Sơn là dự án khí lớn nhất hiện nay tại Việt Nam bao gồm: giàn
khai thác, hệ thống đường ống dẫn khí từ ngoài khơi vào bờ dài 400km, Nhà máy xử lý
khí Dinh Cố, Trung tâm phân phối khí tại Phú Mỹ và hệ thống đường ống dẫn khí Phú
Mỹ- Tp Hồ Chí Minh.Dự án được đưa vào vận hành từ cuối năm 2002 hiện nay công
suất của nhà máy xử lý khí Nam Côn Sơn tại Dinh Cố đã đạt đến 20 triệu m 3 khí/ngày.

Hiện nay lượng khí dẫn vào bờ để cung cấp cho nhà máy chế biến khí Dinh
Cố và các nhà máy nhiệt điện phía Nam là 4,7 triệu tấn m 3 khí ngày đêm, lượng
này được dẫn từ mỏ Bạch Hổ và mỏ Rạng Đông. Trong thời gian tới lưu lượng khí
được dẫn vào bờ cung cấp cho các nhà máy này là 5,7 triệu m3 khí ngày đêm.
Vào năm 2003 khí từ các mỏ Nam Côn Sơn cung cấp cho nhà máy chế biến khí
Phạm Minh Tú/ VH I-2009

Trang 9


Báo cáo thực tập


Samsung Engineering Company Ltd (Hàn Quốc) cùng công ty NKK (Nhật Bản) theo
phương thức trọn gói (EPCC) bao gồm thiết kế, mua sắm, thi công, lắp đặt và chạy thử,
nghiệm thu theo đúng tiêu chuẩn quốc tế và các quy định của Nhà nước Việt Nam về xây
dựng, an toàn, môi sinh, môi trường, phòng cháy chữa cháy… Toàn bộ nhà máy LPG và
hệ thống thu truyền dữ liệu được điều khiển tự động, tổng số vốn đầu tư là 79 triệu USD,
100% vốn đầu tư của Tổng công ty dầu khí Việt Nam (PetroVietNam), được xây dựng tại
Dinh Cố thuộc xã An Ngãi, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu với diện tích
89.600 km2.
Nhà máy được thiết kế với công suất đầu vào 1,5 tỷ m 3 khí/năm và có 3 giai đoạn
vận hành theo chế độ nhằm đáp ứng tiến độ cung cấp sản phẩm.
Giai đoạn thiết bị cực tối thiểu (AMF) chỉ sản xuất condensate ổn định với công
suất 342 tấn/ngày và 3,8 triệu m3 khí/ngày, hoạt động vào tháng 10/1998.
Giai đoạn thiết kế tối thiểu (MF) sản xuất condensate ổn định với công suất 380
tấn/ngày, hỗn hợp butan- propan với công suất 629 tấn/ngày và 3,5 triệu m 3/ngày khí khô,
hoạt động vào tháng 12/1998.
Giai đoạn nhà máy hoàn chỉnh (GPP) sản xuất condensate ổn định, butan và
propan được tách độc lập và khí khô. Giai đoạn hoàn chỉnh với công suất khí đầu vào là
1,5 tỷ m3 khí/năm thu hồi propan: 537 tấn/ngày; 417 tấn/ngày; condensate: 402 tấn/ngày


Phạm Minh Tú/ VH I-2009

khí

Trang 11


Báo cáo thực tập

Nhà máy xử lý khí Dinh Cố

quyết định hiệu suất làm việc của các thiết bị bên trong nhà máy. Năm 2001 cùng với
việc đưa khí Rạng Đông vào xử lý, lưu lượng khí qua nhà máy đạt mức tối đa khoảng 5,7
triệu m3/ngày, áp suất đầu vào GPP giảm xuống còn khoảng 70-75 barG, cụm máy nén K1011 đã được lắp đặt nhằm nâng áp suất khí đầu vào tới áp suất thiết kế 109 barG. Từ đó
sơ đồ công nghệ chính của nhà máy có một số thay đổi chính gồm:
- Khí đầu vào GPP được nâng áp từ 70-75 barG tới 109 barG và nhiệt độ khí sau
trạm nén K-1011 tăng lên khoảng 45°C cao hơn so thiết kế.
- Áp suất bình tách V-03 giảm từ 75 barG xuống 45 barG để đạt 2 mục đích: (a)
lượng khí ẩm vượt quá công suất vận hành của GPP được bypass qua V-101 để cấp thẳng
cho các hộ tiêu thụ. Lỏng tách được ở V-101 sẽ được đưa về V-03 để xử lý. (b) lỏng tách
được tại Scrubber trước K-1011 cũng được đưa về V-03 để đảm bảo an toàn.
Trong các chế độ vận hành nói trên, hai chế độ AMF, MF là các chế độ được thiết kế
để vận hành trong giai đoạn lắp đặt để chạy thử. Sau khi hoàn thành việc lắp đặt, các chế
độ này rất ít khi được vận hành vì nó làm giảm khả năng thu hồi sản phẩm lỏng. Trong
Phạm Minh Tú/ VH I-2009

Trang 13


Báo cáo thực tập

Nhà máy xử lý khí Dinh Cố

trường hợp một số thiết bị trong chế độ GPP bị hỏng thì nhà máy mới chuyển sang chế độ
AMF hoặc MF để duy trì hoạt động của nhà máy.
Thực chất, nhà máy hoạt động với 3 chế độ chính là AMF, MF, GPP còn chế độ
MGPP là để đáp ứng những yêu cầu thực tế hiện tại trong quá trình cung cấp khí. Do nhu
cầu của thị trường không cần tách butane và propane riêng, mà chỉ cần hỗn hợp LPG sử
dụng cho nhu cầu đốt dân dụng nên tháp C3/C4 Splitter không được sử dụng. Mặc khác
kể từ năm 2002, nhà máy tiếp nhận thêm dòng khí từ mỏ Rạng Đông nâng lưu lượng
dòng về bờ là 5.7 triệu m3/ngày, tuy nhiên lưu lượng khí về bờ tăng nhưng áp lực đầu vào

V-08

C: Tháp tách phân đoạn
V: Thiết bị tách

SC

Khí đồng hành

SC: Slugcatcher
E: Thiết bị trao đổi nhiệt
E-07

P: Bơm

V-03

ME: Thiết bị đo đếm

cC-01
Nước
Condensate

ME-24

E-09

E-04

V-15

Dòng lỏng đi ra từ Slug Catcher (SC) được giảm áp và đưa vào bình tách V-03
hoạt động ở 75 bar và được duy trì ở nhiệt độ 20°C. V-03 có nhiệm vụ: Tách
hydrocacbon nhẹ hấp thụ trong lỏng nhờ giảm áp. Cùng với việc giảm áp suất từ 109 bar
xuống 75 bar, nhiệt độ cũng giảm thấp hơn nhiệt độ hình thành hydrate nên để tránh hiện
tượng này, V-03 được gia nhiệt đến 20oC bằng dầu nóng nhờ thiết bị gia nhiệt E-07. Sau
khi ra khỏi V-03 dòng lỏng này được trao đổi nhiệt tại thiết bị E-04A/B nhằm tận dụng
nhiệt và làm mát cho dòng condensate thương phẩm.
Dòng khí thoát ra từ Slug Catcher được dẫn vào bình tách lọc V-08 để tách triệt để
các hạt lỏng nhỏ bị cuốn theo dòng khí do SC không tách hết và lọc các hạt bụi trong khí
(nếu có) tránh làm hư hỏng các thiết bị sau.
Khí từ đầu ra của V-08 được đưa vào thiết bị hoà dòng EJ-01 A/B/C để giảm áp
suất từ 109 bar xuống 47 bar. Việc giảm áp này có tác dụng hút khí từ đỉnh tháp C-01.
Dòng ra là dòng hai pha có áp suất 47 bar và nhiệt độ 20°C cùng với dòng khí từ V-03
(đã giảm áp) được đưa vào tháp C-05. Nhiệm vụ của EJ-10A/B/C:Giữ áp suất làm việc
của tháp C-01 ổn định. Tháp C-05 hoạt động ở áp suất 47 bar, nhiệt độ 20°C. Ở chế độ
AMF phần đỉnh của tháp hoạt động như bình tách khí lỏng thông thường. Tháp C-05 có
nhiệm vụ tách phần lỏng ngưng tụ do sự sụt áp của khí từ 109 bar xuống 47 bar khi qua
EJ-01 A/B/C. Dòng khí ra từ đỉnh tháp C-05 được đưa ra đường khí thương phẩm để
Phạm Minh Tú/ VH I-2009

Trang 16


Báo cáo thực tập

Nhà máy xử lý khí Dinh Cố

cung cấp cho các nhà máy điện. Lỏng tại đáy C-05 được đưa vào đĩa thứ 1 của tháp C-01.
Chế độ AMF tháp C-01 có 2 dòng nhập liệu :
- Dòng từ V-03 vào đĩa thứ 14 của tháp C-01.

Báo cáo thực tập

Nhà máy xử lý khí Dinh Cố

Đối với quá trình xử lý khí từ Slug Catcher trong chế độ hoạt động AMF, các tháp
hấp phụ loại nước V-06A/B (Dehyration Adsorber) sẽ không vận hành. Khí từ SC sẽ
được đưa tới hệ thống Ejector EJ-01A/B/C (Jet Compressor). Qua thiết bị này áp suất
giảm từ áp suất vận hành của SC xuống 45 BarA, mục đích của hệ thống Ejector là nén
khí đi ra từ đỉnh tháp tách ethane C-01 từ 20 BarA đến 45 BarA, vì vậy áp suất của tháp
tách C-01 được giữ ở 20 BarA.
Hệ thống Ejector bao gồm 03 Ejector, công suất của mỗi Ejector lần lượt là 50%,
30% và 20% lưu lượng dòng đi qua Ejector.
Van điều áp (PV-0805) trên đường Ejector bypass có công suất khoảng 30% tổng
thể tích dòng ra, điều chỉnh áp suất của tháp tách ethane C-01 ở 20 BarA bằng cách cho
bypass 1 phần dòng khí qua Ejector khi công suất của hệ thống Ejector đủ để duy trì áp
suất C-01. Khi công suất của hệ thống Ejector nhỏ hơn cần thiết, lượng khí dư từ tháp
tách ethane sẽ được xả ra đuốc đốt qua van điều áp (PV-1303B) vì vậy hệ thống tách
ethane được bảo vệ không có hiện tượng quá áp.
1.4 Tháp tách C-05 Rectifier trong chế độ họat động AMF.
Dòng khí từ hệ thống Ejector và dòng khí từ bính tách V-03 được chuyển đến đĩa
thứ nhất của tháp C-05 (Rectifer) để tách lỏng ra khỏi khí ở nhiệt độ 20.7oC và áp suất 45
BarA được điều chỉnh bởi thiết bị điều chỉnh áp suất (PIC-1114) lắp đặt trên đường ống
dẫn khí thương phẩm. Phần trên của tháp C-05 lúc này có tác dụng như một bình tách
lỏng hơi (Gas-Liquid Seperator).
Trong chế độ họat động AMF, Turbo-Expander (CC-01) và thiết bị trao đổi nhiệt
khí lạnh/khí (E-14) không được đưa vào hoạt động, do vậy dòng khí từ đỉnh tháp tách C05 được chuyển đến đường ống dẫn khí thương phẩm thông qua van PV-1114A được lắp
đặt trên đường ống để điều chỉnh áp suất đầu ra của nhà máy khoảng 45 BarA.
Dòng lỏng từ đáy tháp C-05 được điều khiển thông qua thiết bị điều chỉnh dòng
(FIC-1201) cùng với thiết bị điều chỉnh mức chất lỏng (LIC-1201A) đưa vào đĩa đầu tiên
của tháp tách Ethane (C-01).

Thông thường khí đầu vào nhà máy có áp suất 109 BarA được đưa vào hệ thống
Ejector, áp suất đầu ra khỏi hệ thống Ejector vào khỏang 45BarA, bằng áp suất đầu ra của
nhà máy. Khi áp suất khí đầu vào nhà máy thấp hơn 109 BarA, hoặc khí cung cấp từ dàn
khoan ít hơn so với công suất của nhà máy thì hệ thống Ejector có thể không hoạt động
hết công suất, vì vậy áp suất của tháp tách ethane có thể trở nên cao hơn 20 BarA. Trong
trường hợp này, một trong ba ejector của hệ thống Ejector có công suất phù hợp nhất sẽ
được lựa chọn, sau đó áp suất đầu vào nhà máy từ từ tăng lên và đạt đến gần 109 BarA và
đồng thời áp suất của tháp tách ethane cũng được điều chỉnh ở 20 BarA.

Phạm Minh Tú/ VH I-2009

Trang 19


Báo cáo thực tập

Nhà máy xử lý khí Dinh Cố

Nếu trong sự lựa chọn trên, hệ thống Ejector vẫn không thể hoạt động hết công
suất, thì một lượng khí dư có thể tự động được đem đốt qua van điều áp (PV-1303B)
được lắp đặt trên đường ống dẫn khí đi ra từ tháp tách ethane.
Sau quá trình xử lý trên, khí thương phẩm và condensate là 2 sản phẩm của nhà
máy.

II. CHẾ ĐỘ MF – MINIMUM FACILITY:
Một vài thiết bị được thêm vào gồm: Dehydration Adsorber (V-06A/B), Cold
Gas/Gas Exchanger (E-14), Gas/Cold Liquid Exchanger (E-20), Deethanizer OVHD
Compressor (K-01) và Stabilizer (C-02).
Ở chế độ MF, khí gas sau khi được khử nước sẽ được làm lạnh qua 2 thiết bị trao
đổi nhiệt, cả 2 dòng này đều đóng vai trò nhập liệu cho tháp Rectifier nhằm tách lượng


Khí thương phẩm

K-04

V-07

K-01

V-12

V-03

E-01A/B

V-15

FV-1701

E-03

FV-1301

ME-24
TK-21

Bupro
Bupro

E-04

SP codensate

E-02

Trang 21


Báo cáo thực tập

Nhà máy xử lý khí Dinh Cố

2.1. Mô tả sơ đồ dòng:
2.1.1. Dòng khí gas thương phẩm:
Dòng khí từ Slug Catcher được đưa đến thiết bị tách lọc Dedydration Inlet
Filter/Separator (V-08), thiết bị này có chức năng: tách nước, hydrocacbon lỏng và các
hạt rắn nhằm bảo vệ lớp chất hấp phụ trong V-06AB khỏi bị hỏng, giảm hoạt tính. Sau
khi được loại nước tại Dehydration Adsorber (V-06A/B), dòng khí được đưa đồng thời
đến 2 thiết bị Cold Gas/Gas Exchanger (E-14) và Gas/Cold Liquid Exchanger (E-20), sau
đó vào tháp Rectifier (C-05) để tách pha lỏng và pha khí riêng biệt. Khí ra từ đỉnh tháp
Rectifier (C-05) được sử dụng như tác nhân làm lạnh bậc 1 cho dòng nguyên liệu tại Cold
Gas/Gas Exchanger (E-14), nhiệt độ dòng nguyên liệu giảm từ 26.5 oC xuống -17oC sau
đó được làm lạnh bậc 2 tại van FV-1001 bằng quá trình giảm áp. Dòng khí ra từ đỉnh
Rectifier (C-05) sau khi trao đổi nhiệt tại Cold Gas/Gas Exchanger (E-14), nhiệt độ dòng
tăng lên đủ điều kiện cung cấp cho các nhà máy điện.
Hai tháp hấp phụ Dehydration Adsorber (V-06A/B) được sử dụng luân phiên, khi
tháp này làm việc thì tháp kia tái sinh. Quá trình tái sinh được thực hiện nhờ sự cung cấp
nhiệt của thiết bị E-18 sử dụng dầu nóng gia nhiệt cho dòng khí thương phẩm nâng nhiệt
độ lên 220oC. Dòng khí sau quá trình tái sinh sau khi ra khỏi thiết bị Dehydration
Adsorber (V-06A/B) được làm mát tại hệ thống làm mát bằng không khí Dehydrator
Regeneration Gas Cooler (E-15) và được tách lỏng ở Dehydration Separator (V-07) trước

Trong chế độ MF, tháp Stabilizer (C-02) được đưa vào vận hành nhằm thu hồi hỗn hợp
bupro có trong dòng condensate. Tại đây, các hydrocarbon từ C5 trở lên được tách ra và
đi ra ở đáy tháp, sau đó được dẫn qua thiết bị trao đổi nhiệt E-04A/B để gia nhiệt cho
dòng nguyên liệu vào tháp Deethanizer (C-01). Sau khi ra khỏi E-04A/B dòng lỏng này
được đưa đến làm lạnh tại thiết bị quạt làm mát bằng không khí E-09 trước khi đưa ra
đường ống hoặc bồn chứa condensate thương phẩm TK-21. Dòng hơi ra khỏi đỉnh tháp
Stabilizer (C-02) là hỗn hợp bupro, được ngưng tụ tại bình V-02, một phần được cho hồi
lưu trở lại tháp, phần còn lại theo đường ống dẫn sản phẩm LPG.
2.2.1. Các thiết bị bổ sung thêm vào so với chế độ MF
Trong chế độ hoạt động này, một số thiết bị được bổ sung vào so với chế độ AMF,
các thiết bị chủ yếu là tháp hấp thụ loại nước V-06A/B (Dehydration Adsorber), thiết bị
trao đổi nhiệt khí lạnh/khí E-14 (Cold Gas/Gas Exchanger), thiết bị trao đổi nhiệt
khí/lỏng E-20 (Gas/Cold Liquid Exchanger), máy nén khí ở đỉnh tháp tách enthane K-01
(Deethanizer OVHD Compressor) và tháp ổn định C-02 (Stabilizer).
2.2.2Quá trình làm khô và tái sinh chấp hấp phụ:
Trong chế độ hoạt động này, đầu tiên dòng khí từ Slug Catcher được chuyển đến
tháp loại nước V-08 (Dehydration Intel Filter/Seperator), và sau đó được đưa vào một
trong hai tháp hấp phụ loại nước hoạt động song song V-06A/B để tách nước có trong khí
và cuối cùng khí đã được loại nước đi qua hệ thống lọc F-01A/B.
Phạm Minh Tú/ VH I-2009

Trang 23


Báo cáo thực tập

Nhà máy xử lý khí Dinh Cố

2.2.3 Xử lý Condensate trong chế độ hoạt động MF.
Việc xử lý Condensate trong chế độ hoạt động MF cũng tương tự như trong chế độ


Báo cáo thực tập

Nhà máy xử lý khí Dinh Cố

điều chỉnh nhiệt độ (TIC-1006, Temperature controller), thiết bị điều chỉnh nhiệt độ
(TICA-1009, Temperature controller) lắp đặt trên đầu ra của đường ống dẫn dòng lạnh để
tránh hiện tượng nhiệt độ thấp hơn giá trị cho phép (-10°C) bằng cách giới hạn dòng
bypass bởi thiết bị điều chỉnh TY-1006, Low Slector.
Áp suất của dòng khí nguyên liệu được giảm từ 109BarA xuống 47.5BarA thông
qua van điều áp (FV-1001,control valve), tại van này khí được giãn nở đoạn nhiệt, nhiệt
độ của khí giảm xuống đến -35°C.
Một nửa lượng khí còn lại được làm lạnh xuống 19°C trong thiết bị trao đổi nhiệt
khí/ lỏng lạnh (E-20, Gas/Cold Liquid Exchanger) bằng dòng Condensate lạnh -26.8°C đi
từ đáy tháp tách tinh (C-05, Rectifier), và áp suất của nó cũng được giảm từ 109BarA
xuống 47.5BarA thông qua van FV-0501C. Sau đó hai dòng này được hòa trộn với nhau
và được đưa vào đĩa thứ nhất của tháp tách tinh (C-05, Rectifier). Trong tháp tách tinh
(C-05, Rectifier) một lượng khí chứa chủ yếu methane, ethane được tách ra khỏi
Codensate ở nhiệt độ hoạt động là -18.5°C và áp suất là 47.5BarA, nhiệt độ và áp suất
làm việc được điều chỉnh bằng van (PIC-1114) được lắp đặt trên đường ống dẫn khí
thương phẩm. Phần trên của tháp tách tinh (C-05, Rectifier) có tác dụng như một bình
tách lỏng-khí.
Dòng khí từ tháp tách tinh (C-05, Rectifier) có nhiệt độ -18.5°C được dùng làm
lạnh dòng khí nguyên liệu đi vào trong thiết bị trao đổi nhiệt khí lạnh/khí (E-14, Cold
Gas/Gas Exchanger). Trong chế độ hoạt động MF, hệ thống tuabin giản/nén (CC01,turbo-Exchangerr/Compressor) không hoạt động, vì vậy nó được bỏ qua và khí được
chuyển đến đường ống dẫn khí thương phẩm sau khi được do dòng bằng thiết bị đo (FI1105A/B). Van điều áp (PV-1114A, Control valve) được lắp đặt trên đường ống điều
chỉnh áp suất đầu ra của nhà máy là khoảng 47BarA.
Chất lỏng từ đáy tháp tách tinh (C-05, Rectifier) thông qua thiết bị điều chỉnh
dòng FIC-1201 cùng với thiết bị điều chỉnh mức LIC-1201A được đưa vào thiết bị trao
dổi nhiệt khí/lỏng (E-20,, Gas/Cold Liquid Exchanger), có nhiệt độ khoảng -26.8°C


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status