Khóa luận tốt nghiệp
M U
1. Lớ do chn ti
1.1. C s lớ lun
Nhà nghiờn cứu Xụ Vit Bakhtin khẳng ịnh, ngụn ng chẳng
nhng là phng tin miờu t, m cũn l i tng miờu t ca vn hc.
Gorki cng núi: Yu t u tiờn ca vn hc l ngụn ng, cụng c ch
yu ca nú v cựng vi cỏc s kin, cỏc hin tng ca cuc sng l cht
liu ca vn hc. Tht vy các ngh s, bng ti nng v phong cỏch riờng
ca mỡnh ó s dng cht liu, phng tin l ngụn t sỏng to ra cỏc tỏc
phm vn chng .
Song cn phi bit, cỏi lm nờn s kỡ diu ca ngụn ng ú chớnh l cỏc
phng tin, bin phỏp tu t. Nu khụng cú cỏc phng tin, bin phỏp tu t
thỡ tỏc phm vn hc ch l phộp cng n gin, l s sp xp theo trt t
thụng thng ca cỏc yu t ngụn ng. Chớnh vỡ vy, vic tỡm hiu cỏc tỏc
phm vn hc khụng th khụng gn vi vic tỡm hiu cỏc bin phỏp tu t.
Bin phỏp tu t l nhng cỏch kt hp ngụn ng c bit trong hon
cnh c th, nhm mụt mc ớch tu t nht nh. Nú i lp vi bin phỏp s
dng ngụn ng thụng thng trong mi hon cnh nhm mc ớch din t lớ
trớ. Tỏch cõu l mt bin phỏp tu t c trng ca cỳ phỏp biu cm. Bin
phỏp tỏch cõu c cỏc tỏc gi s dng trong ngụn ng th, ngụn ng vn
xuụi, ngụn ng kch... trong cỏc phong cỏch chc nng khỏc nhau ca ngụn
ng (phong cỏch ngụn ng ngh thut, phong cỏch chớnh lun , phong cỏch
sinh hot hng ngy). c bit, trong vn xuụi Vit Nam hin i, bin
phỏp tỏch cõu c s dng nh mt cụng c ph bin th hin cm xỳc,
thỏi , tỡnh cm v ý ca nh vn. So vi vn xuụi trc cỏch mng, vn
xuụi thi kỡ hin i cú s chuyn hng mnh m khụng ch v ti, ch
1
Đỗ Thị
đó, chúng tôi có điều kiện củng cố và nắm vững những kiến thức cơ bản về
tách câu và vận dụng những kiến thức đó để tạo lập hoặc lĩnh hội văn bản
nghệ thuật.
Phép tách câu trong văn xuôi hiện đại là một hiện tượng mới mẻ và độc
đáo. Đây là một đề tài gắn với hướng nghiên cứu biện pháp tổ chức câu trong
văn bản và tổ chức văn bản. Kết quả và phương pháp nghiên cứu sẽ giúp
chúng tôi củng cố hệ thống kiến thức về ngữ pháp học và phong cách học, bồi
dưỡng phương pháp để cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương
từ góc nhìn của phong cách học. Đặc biệt là một sinh viên Ngữ văn, trong
tương lai sẽ là giáo viên trực tiếp giảng dạy chương trình về ngữ pháp câu và
phong cách học cho học sinh Trung học phổ thông thì việc thực hiện khóa
luận là rất cần thiết.
Thông qua hoạt động khảo sát, thống kê trong quá trình thực hiện đề tài,
chúng tôi sẽ có điều kiện làm giàu hơn vốn ngữ liệu về các biến thể ngữ pháp
3
§ç ThÞ
K31C – Ng÷
được tạo ra từ phép tu từ tách câu. Đặc biệt, chúng tôi sẽ có được phương
pháp phân biệt những câu riêng được tách với một số kiểu câu có hình thức
giống chúng (câu đặc biệt, câu tỉnh lược…), thấy được tách câu là biện pháp
tu từ đặc sắc được sử dụng nhiều trong văn xuôi hiện đại. So với văn xuôi
truyền thống thì tách câu trong văn xuôi hiện đại được sử dụng phong phú, ở
nhiều cấp độ hơn, mang lại những hiệu quả tu từ độc đáo và mới mẻ hơn.
Như vậy, việc lựa chọn đề tài khóa luận xuất phát từ nhận thức được ý
nghĩa và sự cần thiết của nó đối với việc học tập của bản thân trong hiện tại
và việc giảng dạy tiếng Việt trong tương lai.
được nhờ bám vào những câu lân cận hữu quan. Vì vậy phải đứng trong tổ
chức lớn hơn câu mà nhìn nhận chúng. Ở góc nhìn này, rõ ràng phần lớn
chúng là những bộ phận bổ sung cho câu hữu quan. Bởi vậy, phục hồi bộ
phận đã được “tỉnh lược” nhìn chung, cũng tức là lặp thừa phần tương ứng
nằm ở câu lân cận hữu quan, nhất là đối với những câu “tỉnh lược” cả chủ ngữ
lẫn vị ngữ.
Những câu như câu được nói đến trong ví dụ trên là những biến thể của
câu nhưng không mang đầy đủ các đặc trưng cần yếu của câu. Mặt khác,
chúng cũng không thuộc về những đơn vị bậc thấp hơn câu, chúng là những
biến thể dưới bậc của câu, gọi tắt là “câu dưới bậc”. Câu dưới bậc có chứa vị
ngữ thì tự nó đã có tính vị ngữ, ta sẽ gọi nó là câu dưới bậc có tính vị ngữ tự
thân. Câu dưới bậc không chứa vị ngữ thì tính vị ngữ của nó có tính chất lâm
thời, tức là chỉ có được trong trường hợp sử dụng đó, ta sẽ gọi là câu có tính
vị ngữ lâm thời.
Câu dưới bậc có tính vị ngữ lâm thời chính là hiện tượng tách câu mà
chúng ta đang xét. Đó là những câu dưới bậc vốn tương đương với chủ ngữ,
hoặc chỉ tương đương với thành phần phụ của câu hay thành phần phụ của từ
trong câu lân cận hữu quan, nếu ta sát nhập vào câu lân cận đó. Căn cứ vào
khả năng này, chúng ta có ba kiểu nhỏ chủ yếu sau đây.
- Câu dưới bậc tương đương với chủ ngữ.
Ví dụ:
“Tiếng hát ngừng. Cả tiếng cười”.
(Nam Cao)
- Câu dưới bậc tương đương với thành phần phụ của câu.
Ví dụ:
“Ngay buổi chiều hôm đó. Mặt biển trở lại thanh bình”.
(Nguyễn Tuân)
Tác giả có nêu một số trường hợp tách các bộ phận của câu thành câu riêng
như:
- Tách trạng ngữ.
Ví dụ:
“Tôi bày ra nhiều trò khác để thấy mình có ích. Như đọc sách. Tôi nghĩ
trong kháng chiến mình không có nhiều thì giờ, lại thiếu sách thì nay cố mà
đọc”.
(Nguyễn Văn Bổng)
- Tách vị ngữ
Ví dụ:
“Trăng lên. Cong vút và kiêu bạc ở góc trời”.
(Nguyễn Thị Thu Huệ)
- Tách bổ ngữ.
Ví dụ:
“Tôi nghĩ đến sức mạnh của thơ. Chức năng và vinh dự của thơ”.
(Phạm Hổ)
- Tách định ngữ.
Ví dụ:
“Mọi ngêi Nga h«m nay đều thÝch làm giàu. Tiền, ®ã là
mục đÝch. Duy nhất. Cao nhất. Đẹp nhất”.
(Vũ Thư Hiên)
- Tách vế của câu ghép.
Ví dụ:
“B¸c dư sức trở thành một nhà văn lớn của Ch©u Âu hay
một nhà thơ thiªn tài Ch©u Á. Nếu như kh«ng cã chóng ta.
Nếu như kh«ng cã những c¸i kh¸c lớn hơn B¸c”.
(Chế Lan Viên)
từng tác dụng của biện pháp này nhưng vẫn chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu
gợi mở.
2.2.3.
Trong cuốn “Phong cách tiếng Việt” - Nxb Gd 1998, Tác giả
Đinh Trọng Lạc đã định nghĩa: Tách câu là một biện pháp tu từ quan trọng.
Tác giả nêu nên hiệu quả và cách sử dụng biện pháp này như sau:
-
Nhấn mạnh vị ngữ bằng cách tách ra những câu độc lập làm cho người đọc
chú ý.
-
Diễn tả suy nghĩ dồn dập của nhân vật
-
Miêu tả những động tác rời rạc, những suy đoán cũng rời rạc theo nhịp điệu.
Cuốn sách cũng khẳng định “Phép tách câu là một biện pháp tu từ học
với dụng ý tu từ rõ rệt, hoÆc là miêu tả nhịp điệu, diễn biến của hình tượng
hoặc miêu tả nhịp điệu cảm xúc”.
Mặc dù cuốn sách đã nêu lên một số tác dụng của biện pháp tách câu,
khẳng định hiệu quả tách câu, nhưng mới chỉ là những gợi ý, những nhận định
cơ bản nhất và cũng chỉ dừng lại ở việc lấy ví dụ tách vị ngữ, chưa đưa ra một
bảng phân loại cụ thể các trường hợp tách câu.
2.2.4.
- Nghiên cứu đề tài này, góp phần củng cố và khẳng định một vấn đề lí thuyết
của phong cách học, đó là miêu tả phân loại và hiệu quả nghệ thuật của biện
pháp tách câu.
- Giúp cho bản thân người viết có thể hiểu, nhận biết và vận dụng linh hoạt
biện pháp tách câu trong viết văn. Đồng thời bồi dưỡng cho bản thân năng
lực phân tích, cảm thụ văn học.
- Đề tài còn nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản phục vụ cho việc học tập
và giảng dạy môn Ngữ Văn sau này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Muốn đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Tập hợp những vấn đề lí thuyết liªn quan đến đề tài. Lựa chọn cho mình
một cách hiểu thống nhất và đầy đủ về phép tách câu.
- Khảo sát, thống kê, phân loại việc sử dụng tách câu trong một số tác phẩm
thuộc phạm vi nghiên cứu của khóa luận (các tác phẩm văn xuôi Việt Nam
hiện đại).
- Phân tích hiệu quả tu từ của phép tách câu trong một số trường hợp sử dụng
tiêu biểu, đặc sắc. Từ đó rút ra nhận xét về giá trị, tác dụng biểu đạt của biện
pháp tách câu.
4. Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu : “Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tách câu trong văn
xuôi Việt Nam hiện đại”
4.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.2.1.
Giới hạn về nội dung
- Dựa vào khái niệm và các kiến thức lý thuyết về tách câu để nhận diện
Phương pháp này được sử dụng khi cần tái hiện lại một ngữ liệu hoặc
khi cn mụ t cu trỳc cỳ phỏp ca ng liu ú.
5.5. Phng phỏp so sỏnh
Phng phỏp so sỏnh dựng i chiu hai hay nhiu cu trỳc cỳ phỏp
cú giỏ tr tng ng (cú th tng ng v cu trỳc cỳ phỏp hoc cu trỳc
v ngha) nhm lm c s xỏc nh hiu qu ca vic s dng cỏc bin th
cỳ phỏp c to ra t phộp tu t tỏch cõu.
5.6. Phng phỏp tng hp
S dng sau quỏ trỡnh phõn loi, phõn tớch xỏc nh hiu qu ca
phộp tỏch cõu hoc rỳt ra nhng nhn xột, nhng kt lun cn thit.
6.
Đóng góp của khoá luận
- Về lí thuyết: Khẳng định một vấn đề lí thuyết của
phong cách học là hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tách
câu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại.
- Về thực tiễn: Kết quả khảo sát thông kê góp phần làm phong
phú thêm vốn ngữ liệu để khẳng định biện pháp tách
câu là biện pháp tu từ có giá trị nghệ thuật cao.
7.Bố cục của khoá luận
Khoá luận đợc trình bày trong 56 trang giấy
A4, trong đó: Mở đầu 12 trang:
- Lí do chọn đề tài
- Lịch sử vấn đề
- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Đối tợng và giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Phơng pháp nghiên cứu
1.1.1. Định nghĩa
Tác giả Đinh Trọng Lạc định nghĩa: “Tách câu là biện pháp tu từ đặc
trưng của cú pháp biểu cảm, cụ thể là tách riêng một cách có dụng ý từ một
cấu trúc cú pháp thống nhất ra một hay nhiều bộ phận biệt lập về mặt ngữ
điệu, tách xa nhau bằng một chỗ ngắt (trên chữ viết thì bằng dấu chấm hoặc
một dấu tương đương). [12,Tr.197]
Tách biệt có thể tác động qua lại với những phương tiện biểu cảm khác
của cú pháp như: lặp, sóng đôi…để tăng cường chúng.
Trong tách câu, câu được hiện thực hóa đầy đủ về cấu trúc nhưng bị
tách ra hai hay nhiều bộ phận: bộ phận tách biệt được tạo nên bởi một thành
phần câu đã được tách ra khỏi nòng cốt, hoặc bởi các phần nòng cốt đã bị tách
ra; bộ phận còn lại là bộ phận xuất phát hay bộ phận trung tâm.
Ví dụ:
“ Nãi xong, anh ta vïng đứng lªn, giơ tay chào mọi
người rồi đi ra cửa. Mọi người nh×n theo anh ta. Im lặng”.
(Nguyễn Ngọc Tư)
(“Im lặng” là một bộ phận tách biệt mang tính vị ngữ: “im lặng” là một
động từ đồng chức năng với động từ “nhìn theo”)
Với tư cách là một biện pháp tu từ, tách câu được sử dụng trong văn
nghệ thuật, văn chính luận và đem lại những khả năng biểu cảm - cảm xúc
nhất định.
1.1.2. Hiệu quả tu từ của biện pháp tách câu
a.Tách câu có thể được dùng để cụ thể hóa nội dung của bộ phận trung tâm.
Vớ d:
Dung l cô gái ru b béo ch nh. Chng p gì
nhng cng mm mm v trng tro. M li còn con mt. Cô
din nht vùng ny.
theo dõi nội dung
biểu đạt mà còn theo dõi cả đặc điểm kết cấu của lời văn.
Ví dụ:
Huống hồ giá nào cho xứng cái mà cuốn sách
chứa đựng, gợi mở. Một t tởng khai sáng. Một kiến thức nền
tảng. Một cách gọi tên sự vật. Một dung cảm thần tiên. Một
phút giây suy tởng. Một mơ mộng. Môt bâng khuâng, một
bảng lảng, một khoái cảm đợc biểu hiện năng lực ngời của
mình.
(Ma Văn Kháng)
Trong ví dụ trên, ta thấy nhịp điệu cảm xúc của hiện
thực đã chi phối cấu trúc cú pháp. Một tình cảm mạnh mẽ,
một nỗi bức xúc ngột ngạt đã chi phối nhịp văn. Cũng do đó,
tính hình thái của đoạn văn đợc nâng cao. Tất cả những
yếu tố ngôn ngữ với biện pháp tu từ tách câu và một số biện
pháp khác
đã tạo ra những ảnh ảo đợc đa đến gần với ngời đọc và
nằm trong thế giới thực tại, vợt ra ngoài thế giới nghệ thuật.
Tách câu không chỉ xuất hiện trong cú pháp nghệ
thuật, nó còn có mặt ở hầu hết các phong cách chức năng
nh phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách chính
luận, phong cách khoa học, phong cách hành chính - công
vụ Tuy nhiên chỉ trong ngôn ngữ nghệ thuật, tách câu mới
thực sự trở thành một biện pháp tu từ có giá trị thẩm mĩ:
tăng thông tin bổ sung, xây dựng cấu trúc lời nói văn nghệ
thuật, gây hiệu quả thẩm mĩ. Trong lời nói hội thoại, tách
câu có giá trị diễn cảm: thu hút sự chú ý của ngời đối thoại,
thể hiện tình cảm trực tiếp của ngời nói. Còn trong lời nói
biểu cảm, cụ thể là tách riêng một cách có dụng ý từ một
cấu trúc cú pháp thống nhất ra một hay nhiều bộ phận biệt
lập về mặt ngữ điệu, tách xa bằng một chỗ ngắt (trên chữ
viết thì bằng dấu chấm hoặc một dấu tơng đơng).
Do đó để phát hiện và đánh giá tách câu dựa vào
những cơ sở sau:
1.2.1. Dựa vào ngữ nghĩa (nội dung)
Câu đợc tách ra có quan hệ chặt chẽ với câu đi trớc
hoặc câu đi sau nó về mặt ngữ nghĩa. Câu đợc tách ra
phải có cùng nội dung ngữ nghĩa, bổ sung, chi tiết hóa câu
đi trớc hoặc sau nó, bởi câu tách đợc ngời viết sử dụng
nhằm làm rõ nội dung ý nghĩa nào đó cho câu trung tâm.
Vì vậy nếu đứng một mình thì câu tách ra không có
nghĩa.
Ví dụ:
Đỗ Thị
20
K31C Ngữ
Hắn không còn kinh rợu nữa nhng cố uống cho thật ít.
Để cho khỏi tốn tiền, nhng nhất là để tỉnh táo mà yêu
nhau.
( Nam Cao)
Để cho khỏi tốn tiền vốn là bổ ngữ chỉ mục đích
nhng ợc tách ra thành câu riêng để nhấn mạnh sự thay đổi,
thức tỉnh nhận thức của Chí Phèo.
lắm điều buồn phiền. Bởi vì cái bếp còn dùng chung.
(Mùa lá rụng trong vờn - Ma Văn Kháng)
Những câu đợc tách nh trong các ví dụ trên nếu đứng
một mình hay nếu xét từ bên trong chúng thì đó là những
câu không đầy đủ, câu què câu cụt (câu sai ngữ pháp).
Nhng nếu nhìn chúng từ bên ngoài, trong mối quan hệ với
những câu khác (đi trớc hoặc sau chúng) thì chúng là
những câu bổ sung thêm (khi đứng sau) hoặc chuẩn bị
(khi đứng trớc) cho những câu mà chúng có liên hệ về mặt
ngữ pháp và ngữ nghĩa.
1.2.3. Dựa vào hiệu quả tu từ
Tách câu là một biện pháp tu từ cú pháp và nh đã nói ở
trên. Biện pháp tách câu luôn đợc sử dụng với mục đích và
dụng ý của ngời viết. Vì thế sử dụng phép tách câu mang
lại một hiệu quả nhất định. Nhận diện tách câu dựa
vào hiệu quả tu từ của nó, tức là phải xem câu đợc tách ra
với dụng ý gì và hiệu quả tu từ của câu đợc tách đó là gì.
Ví dụ:
Cô vùng lên. Dang tay ôm lấy ngời Dơng.
(Thiếu phụ cha chồng - Nguyễn Thị Thu Huệ)
ở ví dụ này, tách câu đợc dùng để cụ thể hóa nội
dung của bộ phận trung tâm.
1.2.4. Dựa vào tính liên kết giữa các câu
Nh đã nói ở trên, câu đợc tách ra nếu đứng một mình
chúng sẽ không có ý nghĩa (cả về ngữ pháp và ngữ nghĩa).
Tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt tập 2, Nxb Giáo dục 1997 cũng viết: Câu dới bậc tự thân nó