Nhân vật trí thức văn nghệ sĩ trong văn xuôi Việt Nam hiện đại - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phan Thị Phương Thế Ngọc Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THÀNH THI
trước cái xấu trong cuộc đời và trong chính con người mình. Thế giới tâm hồn của
người trí thức đầy bí ẩn, phức tạp, nhiều cung bậc, sắc thái, thanh âm, luôn khát khao
vươn đến cái đẹp hoàn mỹ, tuyệt đối.
Hiện thực cuộc sống tác động lên mọi mặt của đời sống xã hội, người trí thức rất
nhạy cảm với thời cuộc và những đổi thay trong cuộc sống. Bên cạnh quan niệm sống,
lí tưởng sống, họ còn phải tự tìm con đường đúng đắn để cống hiến tài năng và sáng
tạo, để hoàn thiện nhâ
n cách, chế ngự tham vọng, tránh rơi vào những sai lầm, đánh
mất đi phẩm cách của mình, gây ra những tác hại cho con người và xã hội. Họ luôn
muốn sống xứng đáng và đẹp đẽ. Vì thế, trong họ luôn có nhu cầu nhận thức và tự
nhận thức; thường xuyên diễn ra những xung đột, những mâu thuẫn, những cuộc đấu
tranh nội tâm gay gắt, mãnh liệt để tự ý thức, tự nhận thức bản ngã đích thực của m
ình,
để từ đó càng hoàn thiện mình hơn.
Nhà văn cũng là trí thức văn nghệ sĩ, nên khi viết về nhân vật trí thức văn nghệ sĩ,
chính là lúc họ đang viết chuyện của đời mình, của lòng mình, của giới mình. Ở đây,
nhà văn và nhân vật đã có mối dây đồng cảm sâu sắc và dường như không có khoảng
cách. Hơn ai hết, nhà văn hiểu r
õ nhân vật, cũng như hiểu rõ những ngõ ngách, những
khía cạnh, những ưu nhược điểm của bản thân mình và đời sống nội tâm phức tạp của
mình. Nhà văn mổ xẻ con người và thế giới tâm hồn của nhân vật, cũng chính là mổ xẻ
con người và thế giới tâm hồn của nhà văn trong những biến động của cuộc đời và bể
dâu của tình người.
Tìm
hiểu về nhân vật trí thức trong văn học, ta tìm đến với diện mạo và tâm hồn
của giới văn nghệ sĩ Việt Nam nói riêng, của trí thức Việt Nam nói chung. Do vậy, tác
giả luận văn muốn khám phá, soi sáng những chiều kích, những ngóc ngách, những
góc cạnh trong con người và tâm hồn của nhân vật trí thức văn nghệ sĩ trong văn xuôi
Việt Nam hiện đại, những vấn đề xoa
y quanh nhân vật, và cả những gì nhà văn gửi

+ Nguyên Hồng: Lớp học lẩn lút, Miếng bánh, Hai dòng sữa, Buổi chiều xám, Giọt
máu,…
+ Nam Cao: Trăng sáng, Đời thừa, Quê
n điều độ, Cái mặt không chơi được, Mua
nhà, Sống mòn,…
- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975:
+ Nam Cao: Đôi mắt, Đường vô Nam, Nhật kí Ở rừng.
+ Nguyễn Huy Tưởng: Sống mãi với thủ đô.
+ Nguyễn Đình Thi: Vỡ bờ.
+ Nguyên Hồng: Cơn bão đã đến.
+ Nguyễn Minh Châu: Dấu chân người lính.
+ Trần Đình Vân: Sống như anh.
- Giai đoạn từ sau năm
1975 (tính đến năm 2000):
+ Nguyễn Minh Châu: Cỏ lau, Bức tranh, Chiếc thuyền ngoài xa,…
+ Ma Văn Kháng: Đám cưới không có giấy giá thú, Mùa lá rụng trong vườn,
Ngược dòng nước lũ.
+ Nguyễn Khải: Gặp gỡ cuối năm, Vòng sóng đến vô cùng, Một cõi nhân gian bé tí,
Thượng đế thì cười.
+ Nguyễn Huy Thiệp: Huyền thoại phố phường, Chút thoáng Xuân Hương, Mưa
Nhã Nam, Vàng lửa, Phẩm tiết,…
+ Dương Thu Hương: Bên kia bờ ảo vọng, Những thiên đường mù.
+ Phạm T
hị Hoài: Man Nương, Thiên sứ.
+ Tô Hoài: Cát bụi chân ai.
+ Nguyễn Việt Hà: Cơ hội của Chúa.
Trong giai đoạn 1945 – 1975, luận văn sẽ không trực tiếp đề cập đến văn học thành
thị miền Nam, mà khi cần, chỉ liên hệ thêm để so sánh, đối chiếu.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp hệ thống

con người, khắc họa các tính cách con người. Để thực hiện nhiệm vụ đó, nhà văn, bằng
tài năng và tâm huyết, xây dựng nên những hình tượng nhân vật trong tác phẩm của
mình.
Văn xuôi Việt Nam hiện đại có một khối lượng lớn tác phẩm viết về người trí thức.
Có lẽ, ở loại nhân vật này, nhà văn dễ dàng bà
y tỏ, chia sẻ, phát ngôn những quan niệm,
tư tưởng, tình cảm,… của mình về con người và cuộc sống. Do vậy, có rất nhiều bài
viết, công trình nghiên cứu của các nhà văn, các nhà lí luận phê bình về những tác
phẩm viết về nhân vật trí thức.
Nguyễn Hoành Khung trong bài viết về Nhất Linh (Từ điển văn học) đã nhận xét
rằng nhân vật thanh niên trí thức của Nhất Linh sống t
rong gia đình giàu sang nhưng
luôn cảm thấy băn khoăn về cuộc sống tối tăm của dân quê nghèo khổ, ngu dốt, muốn
tìm cách cứu vớt họ. Thế nhưng, “những nhân vật trí thức đầy trăn trở này chỉ để lại
trong người đọc một ấn tượng rằng họ không chấp nhận thực tế, họ luôn vật vã, suy tư,
đau khổ, nhưng họ không trở thành chiến sĩ cách mạng” [163, tr.1257]. Ở đây, Nguyễn
Hoà
nh Khung đã soi chiếu nhân vật trí thức ở vai trò xã hội của họ.
Theo Phan Cự Đệ, trong tiểu thuyết Đẹp, “dường như Khái Hưng không lí tưởng
hóa lớp văn nghệ sĩ lãng mạn, mà muốn làm sống lại một lớp văn nghệ sĩ vào những
năm 40, những “nhân vật thật trong xã hội hiện thời” với tất cả những mặt đẹp, mặt
xấu, những nét đáng yêu và đáng ghét của họ, không bì
nh luận, không phê phán. Và cố
gắng dựng nhiều kiểu người với những cá tính, phong cách và lối sống khác nhau” [52,
tr.923]. Nhìn chung, nhân vật trí thức của Nhất Linh, Khái Hưng là những “nhân vật
phi thường” hoặc “nhân vật lãng mạn”: “Họ phần lớn xuất thân từ những gia đình
quan lại hay tư sản giàu sang và có một cuộc sống dư dật. Họ nếu không phải là những
“khách tình si” cả cuộc đời theo đuổi một mối tình lãng mạn, thì cũng l
à những
“khách chinh phu” mải mê với một lí tưởng cách mạng nào đó. Cuộc sống của họ

tiền tài, sự nghiệp cũng không phải là điều họ quan tâm theo đuổi... Niềm say mê mà
nhân vật của Nguyễn Tuân và chính ông để cả đời theo đuổi là say mê tìm hiểu chính
mình và và khắc họa bức chân dung tinh thần khác người của mình trước đồng loại”
[Vương Trí Nhàn, Lời giới thiệu Thiếu quê hương; 146, tr.330].
Nhà văn Nam Cao có một mảng tác phẩm về đề tài người trí thức. Xoay quanh việc tìm
hiểu những tác phẩm này có nhiều ý kiến sâu sắc, thỏa đáng. Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức
đặc biệt chú ý đến những biến động trong đời sống tinh thần của nhân vật trí thức của Nam
Cao trong mối quan hệ với hoàn cảnh: “Tiếp xúc với những thực tế khắc nghiệt, trải qua
những cuộc vật lộn kiếm sống, con người trí thức tiểu tư sản bị quăng quật nhừ tử cả thể xác
lẫn tâm hồn” [166, tr.483]. Bích Thu nhận ra: “Với các nhân vật nhà văn, nhà giáo nghèo, cái
nhục vì miếng ăn được Nam Cao đẩy lên đỉnh điểm. Đó là sự giằng xé nội tâm giữa “vị nhân
sinh” và “vị nghệ thuật”, giữa những lo lắng đời thường, thế sự với khát vọng sáng tác nghệ
thuật của họ” [Sức sống của một sự nghiệp văn chương; 134, tr.33]. Nguyễn Hoành Khung
(trong Nam Cao, về tác gia và tác phẩm) cho rằng: “Trong khi dựng lại tình cảnh nhếch nhác
của người trí thức nghèo, ngòi bút Nam Cao đã tập trung xoáy sâu vào tấn bi kịch tinh thần
của họ, qua đó đặt ra một loạt vấn đề có ý nghĩa khái quát xã hội và triết học sâu sắc. (…).
Đó là tất cả tấn bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm trong đời sống tinh thần thế hệ 1930 khi đó”
[134, tr.409-413]. Nhà văn đã phát hiện ra mặc cảm cô đơn, vỡ mộng trong tấn bi kịch tinh
thần của người trí thức, và, qua những câu chuyện về người trí thức: “Câu chuyện đời thường
xoàng xĩnh thế thôi, nhưng bao vấn đề hệ trọng trong tinh thần thời đại đã được đặt ra một
cách ám ảnh: cá nhân và xã hội, lí tưởng và hiện thực, nghệ thuật và tìn
h thương, nhân cách
và hoàn cảnh” [134, tr.475]. Một số bài viết khác về tác phẩm viết về người trí thức của Nam
Cao: Nam Cao và sự lựa chọn một chủ nghĩa hiện thực mới (Phạm Xuân Nguyên), Nam
Cao và nghệ thuật sáng tạo tâm lí (Hà Minh Đức) [134], Nam Cao – nhà văn hiện thực
xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn (Trần Đăng Xuyền, Tạp chí Văn học, số 6, 1998)
[153],... đều xoáy sâu vào tấn bi kịch tinh thần của nhân vật trí thức. Đặc biệt, Đinh Trí Dũng
(Bi kịch tự ý thức – Nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của Nam Cao) còn phát hiện ra:
“Trong văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 không phải chỉ có các nhân vật của Nam Cao
mới có vấn đề tự ý thức. Các nhân vật tiểu tư sản trong truyện ngắn của Thạch Lam, Nguyên

cảm nghĩ như
một liên hệ, một trăn trở để càng nổi lên những suy nghĩ khỏe khoắn, tốt đẹp của con
người mới” [24, tr.328]. Cũng theo nhà nghiên cứu này, qua nhân vật trí thức của mình,
nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã “khai thác sâu vào thế giới tiểu tư sản với những màu
sắc đa dạng và phức tạp của nó… Trong cuộc kháng chiến của Thủ đô, những người
trí thức tiểu tư sản, đặc biệt là bộ phận tiểu tư sản nghè
o, đã biểu thị sâu sắc lòng
quyết tâm đánh giặc giữ nước” [24, tr.678].
Những tác phẩm viết sau năm 1975 với cái nhìn tiểu thuyết đã làm thay đổi cách
nhìn về nhân vật trí thức. “Khi tiếng nói thế sự vang lên trong văn học, muôn vàn
những sinh hoạt đời thường bày ra trước mắt, văn học đề cập đến cái sai, cái xấu, và
cả cái ác trong nội bộ con người, giữa con người với con người” [L
a Khắc Hoà, Nhìn
lại những bước đi, lắng nghe những tiếng nói; 89, tr.62]. Cho nên, “Không phải ngẫu
nhiên mà giai đoạn này, trong văn xuôi lại nổi lên nhân vật người trí thức. Trong rất
nhiều lý do, chúng tôi nghĩ có một lý do rất quan trọng này: Trí thức thường nhạy cảm,
dễ thức tỉnh, khả năng tự ý thức cao, hành trình tinh thần của loại nhân vật này thường
phong phú,
phức tạp” (Nguyễn Thị Bình; 6, tr.311). Do đó, nhiều bài viết, công trình
nghiên cứu tập trung đi vào khai thác những biểu hiện của nhân vật trí thức trong thời
hiện đại.
Lê Thành Nghị quả quyết, từ nhân vật trí thức trong sáng tác của Nguyễn Minh
Châu, người đọc có thể nhận ra “bài học về nhân thế, sự thực nghiệt ngã trong các mối
quan hệ con người, nỗi buồn về những khuất tất ở đời...” [Nguyễn Mi
nh Châu -
Người mải miết với cái đẹp; 100, tr.188].
Trong Đám cưới không có giấy giá thú, “Ma Văn Kháng viết về cái “bi kịch vỡ
mộng” của “một bữa tiệc dang dở, một đám cưới không thành, một cuốn sách hay để
lầm chỗ” rất tâm huyết, suy nghĩ và trăn trở, khát vọng và nỗi đau trước thời cuộc,
trước tình trạng xuống cấp về trình độ tư duy và phẩm chất đạo đức ngay trong một số

nhuốc, xúi xó, vẫn được các nhà văn xem họ là “chuẩn” của cách sống đẹp. Còn trong
Thiên sứ, Phạm Thị Hoài đã phá hủy hình tượng nhân vật trí thức truyền thống, nhà
văn “tập trung vào một đối tượng mà chị cho là ưu tú (élite), tầng lớp trí thức. Bằng
một hệ thống chữ nghĩa sắc như dao và một thái độ không chút khoan nhượng, thậm
chí đôi lúc đến mức đanh đá, chị xoáy sâu vào những ung nhọt vẫn bị che giấu của cái
tầng lớp thường đầy ảo tưởng về chính mình đó, mổ xẻ không thương tiếc cái tầng lớp
là đại diện ấy của xã hội, tự đặt nó đối diện với thực chất chẳng hay ho gì của c
hính nó,
thẳng tay lột tung chiếc mặt nạ lâu nay nó tự đeo cho mình” [Nguyên Ngọc, Văn xuôi
Việt Nam hiện nay – Lôgic quanh co của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và
triển vọng; 89, tr.175]. Chưa khi nào, nhân vật trí thức bị phanh phui đến tận cùng
những mặt trái, góc khuất như trong những t
ác phẩm viết về họ sau năm 1975.
Mang tinh thần phê phán, nhà văn có ý thức mổ xẻ cái xấu xa, cái thấp hèn của con
người. Cho nên, hình tượng nhân vật trí thức không còn đẹp đẽ như trong nhận thức
truyền thống của cộng đồng nữa. Nguyễn Huy Thiệp viết khá nhiều truyện ngắn về
người trí thức. “Nhà văn đề cập đến những “trí thức giả cầy”
và “sự ngu dốt của bọn
có học”. Đối với Nguyễn Huy Thiệp, nghệ sĩ chẳng phải loại người nào đặc biệt. Văn
chương cũng như mọi nghề khác vậy thôi. Thậm chí một số ông nhà văn còn nhếch
nhác, bệ rạc quá quắt nữa là đằng khác” [Nguyễn Đăng Mạnh; 97, tr.254]. Sử dụng
những nhân vật đã ổn định về gi
á trị trong quá khứ để chuyển tải các vấn đề hiện tại,
Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên một cuộc tranh cãi thú vị trong giới nghiên cứu, phê
bình: Một trường hợp đang bàn cãi (Đặng Anh Đào; Văn nghệ, ngày 3-9-1988), Khởi
sắc hay là sự chuyển mình của văn học (Nguyễn Oanh, Văn nghệ, 3-12-1988), Về
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp (Nguyễn Văn Lưu, Bá
o Hà Nội mới, 28-8-
1988),... Trong Nhà văn hiện đại - Những giới hạn và sứ mệnh, Trần Văn Toàn có
cái nhìn thấu đáo hơn: “Các nhà văn trong những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn triển khai thành
ba chương:
Chương 1: Người trí thức hiện đại Việt Nam - từ cuộc đời đến những trang văn
Chương 2: Hình tượng nhân vật trí thức trong văn xuôi Việt Nam hiện đại - những
mẫu người đa tính cách
Chương 3: Hình tượng giàu ý nghĩa nhận thức và đậm chất tự truyện, bi kịch
Chương 1:
NGƯỜI TRÍ THỨC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
TỪ CUỘC ĐỜI ĐẾN NHỮNG TRANG VĂN
Trí thức là người có kiến thức, tài năng, nhân cách và cá tính sáng tạo. Ở bất kỳ
thời đại nào, họ đều có vai trò to lớn và đặc biệt quan trọng đối với sự tồn vong, phát
triển và tiến bộ của xã hội. Họ thực hiện sứ mệnh của lịch sử, thiên chức của người
“làm đổi thay thế giới”, khai hóa đất nước, đưa đất nước, dân tộc đến với chân trời tri
thức, với ánh sá
ng văn minh và giá trị nhân văn cao cả. Bàn tay và khối óc của họ làm
ra của cải vật chất cho xã hội, phát minh ra những thành tựu khoa học vĩ đại, kiến thiết
nên những công trình kiến trúc đồ sộ, vẽ nên những bức danh họa muôn đời, sáng tạo
những áng văn c

sản, tiểu tư sản (trí thức, viên chức, học sinh, sinh viên,…), công nhâ
n, dân nghèo
thành thị,… xuất hiện ngày càng đông đảo.
Trước thực trạng đó, tầng lớp trí thức phải trăn trở, hành động để tìm một lối thoát
cho đất nước. Ngay từ đầu thế kỉ, các nhà nho yêu nước mang tư tưởng tiến bộ đã thức
thời, và, chịu tác động của việc truyền bá tân thư, đã tập hợp lại đi tìm một đường lối
cứu nước mới : cải cách và duy tân. Họ thấy được tầm
quan trọng của văn hóa và trình
độ dân trí của một quốc gia nên đã mở trường Đông Kinh nghĩa thục để truyền bá tư
tưởng yêu nước và duy tân. Phong trào lan rộng từ Bắc chí Nam, có sức ảnh hưởng
mạnh mẽ đối với những nhà nho và trí thức tân học buổi đầu. Tuy về sau phong trào
duy tân thất bại, nhưng nó đã để lại những â
m vang cuộn trào trong lòng những người
yêu nước, và ghi lại những dấu ấn khó phai về vai trò, tấm lòng và bản lĩnh của trí thức
Việt Nam.
Văn hóa Việt Nam dần thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa phong kiến Trung Quốc,
bắt đầu mở rộng tiếp xúc với văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp. Lớp thanh
niên Việt Nam tiếp xúc với văn minh phương Tây, văn hóa Pháp, trở thành tầng lớp trí
thức Tây học. Bên cạnh đó, ngoài chính sách bình định quân sự và khai thác kinh tế,
thực dân Pháp còn thi hành chính sách văn hóa nô dịch, biến một số trí thức trở thành
những kẻ lai căng, nô lệ, thực thi những chính sách cai trị của chúng, thành những “ông
Tây A
n Nam” lạc lõng trên đất nước mình. Còn phần lớn trí thức Tây học đều có tinh
thần dân tộc sâu sắc và có ý thức tự học, tự lập rất cao, mong muốn cống hiến tài năng,
tâm huyết cho đất nước. Họ ý thức được sứ mệnh lịch sử của mình, mang khát vọng
thay đổi hoàn cảnh tối tăm hiện tại. Để nâng cao dân trí, họ khuyến khíc
h học chữ quốc
ngữ. Họ đề xướng nhiều phong trào cải cách xã hội, chống lại lễ giáo phong kiến lỗi
thời, lạc hậu, tôn trọng tự do cá nhân,… Có thể kể qua một số tên tuổi như Vũ Ngọc
Phan, Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Hoàng Xuân Hãn, Đông Hồ, Thiếu Sơn, Hoài

đời 2/1930, phong trào cách mạng do giai cấp vô sản và Đảng lãnh đạo phát triển với
các cao trào mới. Giai cấp tiểu tư sản Việt Nam bất m
ãn sâu sắc với thực dân Pháp, lại
vốn có lòng yêu nước, nên không ít trí thức trong số họ, cùng với các giai cấp khác
như nông dân, công nhân,… đã đến với cách mạng, tham gia phong trào giải phóng
dân tộc, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh giành độc lập, tự do, thể hiện rõ ý thức
trách nhiệm của người công dân trong một đất nước đang bị nô dịch.
1.1.2. Những c
hiến sĩ trên mặt trận văn hóa, người thư kí trung thành của thời
đại (Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975)
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đem lại những đổi thay lớn lao, kỳ
diệu cho dân tộc và cho cả những cuộc “đời thừa” của người trí thức. Từ thân phận nô
lệ, con người ngỡ ngàng, sung sướng đón nhận sự tự do của một nước Việt Nam độc
lập. Đời sống cá nhâ
n được đặt vào cộng đồng, sống với đời sống chung của dân tộc và
đất nước trong những năm tháng cam go, quyết liệt, trong dòng chảy của lịch sử, lay
chuyển và thức tỉnh ở mỗi cá nhân ý thức công dân, tinh thần dân tộc tiềm tàng bấy lâu.
Người trí thức, với sự nhạy cảm vốn có, đã cảm nhận được một cách sâu sắc những
biến đổi lớn lao ấy.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc được giải phóng, bước
vào thời kì khôi phục đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Lúc này, xã hội Việt
Nam lại đứng trước những thử thách mới: Một mặt là những nhu cầu thiết yếu của con
người trong cuộc sống thời bình sau bao nhiêu năm chiến tranh khốc liệt; Một mặt lại
tiếp tục đấu tranh c
hống một thế lực thù địch mới - đế quốc Mỹ - để thực hiện những
mục tiêu cách mạng: thống nhất đất nước và xây dựng Chủ nghĩa x
ã hội. Những thử
thách này buộc con người Việt Nam phải phát triển theo những điều kiện lịch sử mới,
những yêu cầu mới của cách mạng trong sự thống nhất hài hòa giữa cái riêng và cái
chung.

cái Tôi tuyệt đối, cái Tôi nhiều giọng điệu, nhiều cung bậc từng thống lĩnh văn chương
trước năm 1945, các nhà văn, nhà thơ đã bắt đầu làm quen với thế giới của cái Ta hòa
đồng, cái Ta không ranh giới giữa nghệ sĩ v
à công dân, giữa nghệ sĩ và Tổ quốc” [164,
tr.568]. Người trí thức thực hiện vai trò kép: nghệ sĩ - chiến sĩ, sống, lao động, chiến
đấu cho Tổ quốc vinh quang. Họ dùng tài năng, trí tuệ và ngòi bút
của mình phục vụ
cho kháng chiến, xây dựng một nền văn nghệ cách mạng, có sức động viên, cổ vũ lớn
lao tinh thần của quần chúng tham gia kháng chiến. Trong Đề cương văn hóa Việt Nam
năm 1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì
văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng… Anh chị
em nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận đó” [Hồ Chí Mi
nh: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1996, t.10, tr.646]. Trước sự đổi đời và đổi thời, giới văn nghệ sĩ Việt
Nam đã kịp thời thức tỉnh và thức thời, đã có nhiều sự đóng góp tích cực cho cách
mạng. Chúng ta có thể kể đến những tên tuổi: Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên
Hồng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Vi
ên, Tô Hoài, Kim Lân, Nguyễn
Đình Thi, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu,…
Có thể nói, giới trí thức đã góp phần không nhỏ cho thắng lợi của dân tộc. Có một
thời, người ta quan niệm trí thức chỉ là tầng lớp trung gian của cuộc kháng chiến. Họ
không đông đảo như nông dân, công nhân - lực lượng nòng cốt của kháng chiến. Nhiều
người trong số họ không trực tiếp cầm súng chiến đấu. Nhưng, xét cho cùng, chính trí
thức là người góp phần đưa kháng chiến đến thành công. Họ soi lối, chỉ đường, vạch ra
những kế hoạch tác chiến cụ thể. Họ biết cách đi sâu sát quần chúng, tìm
hiểu tâm tư,
nguyện vọng, tác động to lớn đến tâm lí chiến đấu. Hãy nhìn lại sự đóng góp to lớn của
họ trên mặt trận văn hóa văn nghệ để đánh giá một cách khách quan hơn vai trò của trí
thức ở giai đoạn này.
1.1.3. Người trí thức - điểm hội tụ của tr

văn m
inh trong bối cảnh giao lưu văn hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng toàn
cầu hóa. Giao lưu văn hóa là một cơ hội để văn hóa, văn học Việt Nam có dịp cọ xát
với thực tế, tìm kiếm một hướng đi riêng. “Sự mở rộng giao lưu văn hóa, không chỉ với
khu vực các nước Xã hội chủ nghĩa mà là với toàn thế giới, chấp nhận gi
ao lưu đa
chiều, đa phương, tuy không tránh khỏi những phức tạp, nhưng rõ ràng có tác dụng
tích cực, thúc đẩy sự khởi phát nhiều tiềm năng văn học dân tộc, nhiều thể nghiệm
cách tân” [6, tr.134]. Như vậy, trong thời đại hội nhập, một yêu cầu cơ bản và cần thiết
được đặt ra là giao lưu văn hóa “hòa nhập chứ không hòa tan”, tiếp thu những văn
m
inh tiến bộ nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc – cái gốc của dân tộc Việt Nam.
Muốn được như vậy, người trí thức phải đi đầu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Bước ra từ cuộc chiến, người trí thức trở về với cái Tôi cá nhân (cái Tôi đã có sự
hòa hợp, thống nhất với cái Ta), trăn trở tìm hướng phát triển cho đất nước: công
nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước theo cơ chế xã hội chủ nghĩa có sự chi phối của kinh
tế thị trường; và một hướng đi mới cho văn học: xây dựng một nền văn hóa, văn học
đậm đà bản sắc dân tộc, bắt kịp và giao lưu với văn hóa, văn học thế giới. Họ trở thành
điểm hội tụ của trình độ văn minh dân trí, dân chủ, thành lương tri và sự phản tỉnh của
dân tộc, thành sức mạnh của nhân cách cá nhân trên hành trình tự hoàn thiện chính
mình.
1.2. Sự nhận thức, tự nhận thức về thiên chức xã hội và về số phận cá nhân, bi
kịch tinh thần của tầng lớp trí thức trong văn xuôi Việt Nam hiện đại
1.2.1. Ưu thế nhận thức của văn xu
ôi nghệ thuật hiện đại
Trong văn học trung đại, thể loại văn học chủ đạo là thơ. Khách văn chương -
những trí thức phong kiến - dùng hình thức văn học này để giãi bày tình cảm và nói chí.
Thơ giàu cảm xúc, giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh, dễ dàng truyền tải những tình cảm, ý
chí của chủ thể sáng tạo (người nói, người viết) đến khách thể tiếp nhận (người đọc,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status