Khảo sát ngôn ngữ trong thơ văn xuôi Việt Nam hiện đại - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN KHẢO SÁT NGÔN NGỮ TRONG THƠ VĂN XUÔI VIỆT NAM
HIỆN ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI- 2010

5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài………………………………………………… 4
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………… 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………… 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………… 5
5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………… 6
6. Bố cục của luận văn……………………………………………… 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Khái niệm thơ…………………………………………………… 7
1.2. Khái niệm thơ tự do…………………………………………… 12
1.3. Khái niệm thơ văn xuôi………………………………………… 15
1.3.1. Quan điểm xác định thơ văn xuôi dựa vào tiêu chí hình
thức………………………………………………………………… 16
1.3.2. Quan điểm xác định thơ văn xuôi xét trên phương diện ngôn
ngữ………………………………………………………………… 16
1.3.3. Quan điểm đồng nhất thơ văn xuôi với văn xuôi có chất
thơ…………………………………………………………………… 17
1.4. Sơ lược sự hình thành và phát triển của thơ văn xuôi………… 19
1.4.1. Trên thế giới………………………………………………… 19
1.4.2. Ở Việt Nam…………………………………………………… 22
1.5. Phân biệt thơ văn xuôi và một số thể loại lân cận……………… 25
1.5.1. Thơ văn xuôi và văn xuôi…………………………………… 25
1.5.2. Thơ văn xuôi và thơ tự do…………………………………… 28

3.1.3.2.2. Kết quả khảo sát………………………………………… 60
3.1.3.2.3. Đặc điểm………………………… …………………… 61
3.1.3.3 Nhịp điệu tự do…………………………………………… 63
3.1.3.3.1. Định nghĩa………………… …………………………… 63
3.1.3.3.2. Kết quả khảo sát………………………………………… 63
3.1.3.3.3. Đặc điểm………………………………… …………… 65

7
3.2. Đặc trưng về cú pháp………………………………………… 66
3.2.1. Vài nét về các biện pháp tu từ cú pháp tiếng Việt…………… 66
3.2.2. Khảo sát các biện pháp tu từ cú pháp cơ bản trong thơ văn xuôi Việt
Nam hiện đại…………………………………………………… 68
3.2.2.1. Sóng đôi 68
3.2.2.1.1. Định nghĩa……………………………… ……………… 68
3.2.2.1.2. Kết quả khảo sát 69
3.2.2.1.3. Đặc điểm 70
3.2.2.2. Lặp đầu 71
3.2.2.2.1. Định nghĩa 71
3.2.2.2.2. Kết quả khảo sát 72
3.2.2.2.3. Đặc điểm 74
3.2.2.3. Câu hỏi tu từ 75
3.2.2.3.1. Định nghĩa 75
3.2.2.3.2. Kết quả khảo sát 75
3.2.2.3.3. Đặc điểm 77
* Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN……………………………………… ……………… 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nhà thơ Ấn Độ Rabin Dranat Tagor (1861- 1942) trong suốt cuộc đời
làm thơ của mình đã chiêm nghiệm: “Thơ đâu phải viết ra chỉ để cắt nghĩa
một điều gì đó. Khi tình cảm tự tìm cho mình một hình thức để bộc lộ ra
ngoài, chúng ta có thơ”. Cái hình thức ấy không thể có trước mà phải do
nội dung, do tình cảm quyết định. “Cũng như nụ cười và nước mắt, thực
chất của thơ là phản ánh một cái gì được hoàn thiện từ bên trong”. Nhịp
bên trong của thơ chính là nhịp của tâm hồn, cảm xúc, tự nó sẽ quy định
hình thức thơ. Theo đó, người ta phân ra ba hình thức thơ cơ bản: thơ cách
luật, thơ tự do, thơ văn xuôi.
Bước sang thế kỉ XX, nền văn học Việt Nam đã chuyển từ văn học
trung đại sang văn học hiện đại, đánh dấu sự thay đổi mạnh mẽ của đời
sống thể loại văn học nước nhà. Nhiều thể loại văn học cũ được cách tân,
nhiều thể loại mới ra đời từ cuộc sống lao động sáng tạo sôi động của các
văn nghệ sĩ. Trên địa hạt thơ ca, sự xuất hiện của cái tôi trữ tình cá nhân đã
đưa đến những kiểu nhà thơ mới, thi pháp mới. Thơ cũ với những niêm luật
khắt khe không còn phù hợp nữa nên tất yếu có sự thay đổi. Nói như Lưu
Trọng Lư: “Hình thức thơ phải mới, mới luôn, cho phù hợp với tâm hồn
của ta, tâm hồn phiền phức của ta trong khi tiếp xúc với hoàn cảnh mới, lại
càng thêm phiền phức”. Dấu hiệu đầu tiên của sự đổi mới là việc “bùng nổ”
về thể loại thơ. Và, thơ văn xuôi ra đời cũng là do nhu cầu tự thân của thời
đại, để phù hợp với đời sống văn hóa tinh thần của con người hiện đại.
Thơ văn xuôi, như chính tên gọi của nó, có thể hiểu một cách chung
nhất là thơ viết bằng văn xuôi. Là một thể tài mới, thơ văn xuôi vẫn đang
trong quá trình sinh thành và vận động. Tuy chiếm số lượng không lớn
nhưng nó đã tạo được dấu ấn đặc biệt trong tiến trình thơ hiện đại. Nó cũng
là mảnh đất “màu mỡ” cho các nhà nghiên cứu tìm tòi, khai phá. Do đó, xét
cả về phương diện sáng tác cũng như nghiên cứu, đã và sẽ còn nhiều cách
làm thơ và nhiều ý kiến khác nhau bàn về thể thơ này.

Nam hiện đại: đặc trưng về nhịp điệu, đặc trưng về cú pháp.

10
Từ đó đưa ra cái nhìn khái quát nhất về thơ văn xuôi Việt Nam nói
riêng và thế giới nói chung.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ tốt cho đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp mô tả: mô tả cấu trúc khổ thơ, đoạn thơ, bài thơ; phép đối
thanh điệu bằng- trắc, phép lặp…
- Phương pháp phân tích: phân tích đặc trưng của thể loại thơ văn xuôi về
nhịp điệu, cú pháp, ngôn từ…
- Phương pháp thống kê phân loại: thông kê số lượng bài thơ, tần số xuất
hiện, tính tỉ lệ %; phân loại theo các kiểu cấu trúc văn bản, các kiểu mô
hình nhịp điệu, biện pháp tu từ
- Phương pháp so sánh: so sánh thơ văn xuôi các giai đoạn trước Cách
mạng tháng 8 và sau Cách mạng tháng 8, so sánh với các thể thơ truyền
thống để làm nổi bật sự cách tân về hình thức và nội dung thơ văn xuôi
Việt Nam hiện đại.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, cấu trúc
của luận văn được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm cơ bản trong thơ văn xuôi Việt Nam hiện đại
Chương 3: Đặc trưng sử dụng ngôn ngữ trong thơ văn xuôi Việt Nam
hiện đại


ảnh hay gợi cảm giác âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người
nghe. Từ thơ thường được đi kèm với từ câu để chỉ một câu thơ, hay với
từ bài để chỉ một bài thơ. Một câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền
đạt một hoặc nhiều hình ảnh có ý nghĩa cho người đọc, và hoàn chỉnh trong

12
cấu trúc ngữ pháp. Một câu thơ có thể đứng nguyên một mình. Một bài thơ
là tổ hợp của các câu thơ. Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình
và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc
đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác.
Thơ có một lịch sử lâu dài. Định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có
thể bắt đầu từ nhà triết học người Hy-Lạp Aristotle (384-322 TCN). Ở Việt
Nam, thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao mà ra. Những câu có vần
điệu, dễ nhớ như: Sấm bên đông, động bên tây; ăn trông nồi, ngồi trông
hướng… vốn là những kinh nghiệm được đúc kết thông qua sự từng trải, sự
quan sát các hiện tượng thiên nhiên, mà đúc kết lại, truyền từ đời nọ sang
đời kia, giống như một thứ mật mã trong ngôn ngữ để truyền thông tin vậy.
Những đúc kết bao gồm đủ mọi mặt trong cuộc sống, sau này khi được
biến thành những câu ca dao, câu vè, chúng trở thành một hình thức văn
nghệ, giải trí.
Thông qua sự giao lưu giữa các nền văn hóa, các thể loại thơ được tăng
dần. Từ những cấu trúc đơn giản đến những cấu trúc phức tạp. Trong các
thể loại thơ ở Việt Nam ta có thể kể đến thơ lục bát, song thất lục bát…;
các thể loại thơ Đường như thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn
bát cú… rồi đến thơ mới và thơ tự do. Ngoại trừ thơ tự do, một hình thức
hầu như không có một cấu trúc rõ rệt, các loại thơ khác hầu như đều có một
cấu trúc nhất định. Chặt chẽ nhất là các thể thơ Đường, trong đó cấu trúc về
nội dung, luật về số chữ trong câu, số câu trong bài, về cách gieo vần quyết
định thể loại của bài thơ. Sự khắt khe trong cấu trúc làm cho thơ Đường trở
thành một loại hình văn học chỉ dành riêng cho các tầng lớp trung lưu trở

( Xuân Diệu- Đây mùa thu tới)
- Điệu: hay còn gọi là nhạc điệu, tạo nên do âm thanh của từ được chọn và
nhịp điệu ngắt câu. Nhạc trong thơ được tạo nên bởi ba yếu tố: vần, tiết tấu
và từ. Thơ lục bát, ca dao là một thể loại giàu nhạc tính.
Âm hưởng của vần: Vần bằng thường gây cảm giác nhẹ nhàng, mềm
mại. Ví dụ:
Gió mơn man sợi nắng mành
Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài

14
Dương gian hé rạng hình hài
Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi.
Vần trắc thường gây cảm giác mạnh mẽ, động đậy. Ví dụ:
Gió mơn man sợi nắng mành
Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài
Dương gian hé rạng hình hài
Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi.
Tiết tấu của câu: Tiết tấu là nói đến cái nhịp, cái điệu của câu thơ. dựa
vào chỗ ngắt đoạn, tức chỗ chia câu thành từng vế, mỗi vế có nghĩa trọn
vẹn. Đó là nhịp dài ( ), khi ngâm người ta ngừng lại ngân nga lâu một
chút. Ngoài ra, trong mỗi vế, khi ngâm tùy theo hứng, người ta cũng có thể
ngừng lại ngân nga ngắn hơn ở những chỗ vế chia thành từng bộ phận, đó
là nhịp ngắn (-). Ví dụ:
Dương gian (-) hé rạng (-) hình hài ( )
Trời (-) se sẽ lạnh (-), đất ngai ( ) ngái mùi( )
Từ (chữ) trong thơ văn: giúp con người tái tạo lại hình ảnh mà nó
miêu tả, song âm thanh và vần điệu của các từ lại gây cảm xúc về âm nhạc.
Sự kết nối khéo léo giữa hai tính chất này của ngôn ngữ thúc đẩy sự tìm tòi
các từ có âm thanh hay, phù hợp với tình cảm người viết muốn truyền đạt,
đồng thời tìm tòi những từ mới. Tính nhạc còn thể hiện trong việc sử dụng

là thơ thẩn, nằm mơ hay mơ mộng như người trên cung trăng. Sự hưng
phấn do được sống trong thế giới riêng của mình, được thêm thắt, chắt lọc,
chiêm ngưỡng, cảm giác chúng…gây nên sự đam mê, thôi thúc người làm
thơ tiếp tục sống và diễn tả lại chúng bằng từ ngữ. Không chỉ quan sát và
diễn tả, họ còn phải nâng sự quan sát của họ lên đến một mức độ nhạy bén,
hoa mỹ, không tầm thường - đây chính là sự khác biệt giữa thơ và truyện
hay với các loại hình nghệ thuật khác.
Việc chọn lọc từ tạo nên hình ảnh thường được thấy rất nhiều trong các
bài thơ. Có những hình ảnh đẹp, mềm mại, hài hòa, thơ mộng. Có những
hình ảnh khắc khổ, vuông thành sắc cạnh, song cũng có những hình ảnh đồ
sộ, gớm ghiếc… Mỗi hình ảnh đều nhằm tái tạo lại thị giác, cảm quan của

16
thi sĩ lúc họ viết. Một trong những ví dụ về hình ảnh có thể tìm thấy trong
tập Truyện Kiều của Nguyễn Du:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Do ảnh hưởng quan niệm hội họa của thời đại, Nguyễn Du thường sử
dụng phong thái thủy mặc trong thơ của mình. Phong cảnh đơn sơ, chấm
điểm, phác thảo và nhẹ nhàng, nhưng không kém sức quyến rũ.
Một câu thơ khác của Bà Huyện Thanh Quan:
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Hay bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
1.2. Khái niệm thơ tự do
Xét theo tiêu chí luật lệ, Từ điển Thuật ngữ văn học chia thơ thành hai

tác phẩm của William Shakespeare. Có quan điểm cho rằng thơ tự do đặt
tầm quan trọng về cách đọc thơ, hay sự bố trí theo chiều dọc của tờ giấy
hơn, và nhịp điệu của thị giác mới là phần quan trọng. “Đến thời Phục
hưng, thơ không vần tiếng Anh với kỹ thuật vắt dòng, phá bỏ cách đọc
ngừng lại ở cuối dòng. Đọc từ dòng trên vắt xuống dòng dưới theo cú pháp
văn phạm, rõ chữ, và câu liền mạch. Sau này, vào đầu thế kỷ 20, thơ tự do
cũng theo cách đọc như thế. Nhưng giữa thơ không vần và thơ tự do vẫn có
sự khác biệt khi đọc. Với loại thơ tự do dùng kỹ thuật dòng gãy, trình bày
dòng ngắn dài, để tạo nhịp điệu thị giác trên mặt giấy, khi đọc lên, không
đọc theo dòng mà theo câu, mục đích chỉ để nghe rõ âm thanh của từng
chữ. Nhịp điệu thị giác mới là phần quan trọng, qua đó, người đọc lần theo
tiến trình phân tích để tìm ra ý nghĩa bài thơ. Như vậy, để hiểu một cách
toàn vẹn bài thơ loại này, người đọc phải kết hợp nhiều yếu tố khác nhau,
âm thanh của chữ, nhịp điệu của câu dòng và ý nghĩa trong tiến trình phân

18
tích. Với loại thơ trình diễn, gần với sự ứng tác thì người nghe dễ bị lôi
cuốn bởi khả năng trình diễn và cách đọc của người đọc thơ. Như vậy cách
đọc của thơ tự do không thể hiểu theo nghĩa của thơ truyền thống, nhịp
điệu thị giác và cách trình diễn quan trọng hơn phần âm thanh của tiếng
nói”. [36]
Thơ tự do ở Việt Nam thực sự được biết đến từ phong trào thơ Mới
1932- 1945. “Một đóng góp lớn lao nhất, một thành tựu vĩ đại không thể
chối cãi được là phong trào thơ Mới chỉ trong một thời gian rất ngắn đã thử
nghiệm thành công hàng loạt thể thơ, từ thể 2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12 tiếng
đến thơ tự do (hỗn hợp thể), đến cả thơ văn xuôi, tức là tất cả các thể thơ có
thể có đối với loại hình ngôn ngữ đơn tiết đa thanh của tiếng Việt”
[ 43, tr. 42].
Chữ tự do ở đây có thể hiểu là sự thoát thân khỏi sự kiềm chế của các
luật thơ. Nhà thơ muốn chạy theo cảm hứng, theo tình cảm, lấy chữ để biểu

Chàng cũng đi
Năm nay xuân còn trở lại
Người xưa không thấy tới
Xuân về”.
Thơ tự do ngày càng phát triển và trở thành khuynh hướng phổ biến của
thơ ca Việt Nam hiện đại. Cho đến nay, thơ tự do vẫn là sự lựa chọn thích
hợp nhất của các nhà thơ. Nó là hình thức ưu việt, có khả năng phản ánh
cuộc sống phong phú, rộng rãi hơn bất cứ một thể thơ nào khác và nhờ vậy
nó gần gũi với cuộc sống hơn. Thơ tự do cũng tạo nên những sắc thái biểu
hiện mới cho thơ ca, tiến dần lên thơ không vần và thơ văn xuôi.
1.3. Khái niệm thơ văn xuôi
Nói đến thơ văn xuôi là đề cập đến một thể tài thơ, nhìn về đại thể còn
ít phổ cập trong tâm lí sáng tác cũng như đối với tâm lí tiếp nhận. Song từ
lâu, ở Việt Nam ta cũng như ở nước ngoài, tùy theo những đặc điểm riêng
biệt, bên cạnh số đông sáng tác theo các thể tài thơ với luật lệ đã trở thành
khuôn thức và thói quen từ lâu đời của mỗi dân tộc hay trong từng nước, từ
nguồn nhỏ của tư duy thơ nhân loại vẫn tuôn chảy không cạn một mạch thơ
muốn tung phá, thoát ra khỏi khuôn khổ quy ước về dòng thơ, câu thơ, vần,

20
tiết tấu. Loại thơ tự do này, về văn bản có khuynh hướng gần gũi với cấu
trúc câu và bài theo kiểu ngôn từ văn xuôi. Vì vậy người ta tạm gọi nó là
thơ văn xuôi.
Là một thể loại trung gian, ngay từ khi xuất hiện, thơ văn xuôi đã thu
hút rất nhiều các nhà nghiên cứu, phê bình, sáng tác. Từ góc nhìn riêng của
mình, mỗi người đưa ra một quan niệm, một cách hiểu riêng về thơ văn
xuôi. Do đó hiện nay, chúng ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về
thơ văn xuôi. Sau đây là một số quan điểm tiêu biểu.
1.3.1. Quan điểm xác định thơ văn xuôi dựa vào tiêu chí hình thức
Trong lời giới thiệu hợp tuyển mang tính chất đột phá “Thơ văn xuôi:

những sự kiện, những hình ảnh, những cảm xúc… có khi còn lồng vào
nhau hoặc đan chéo nhau” [ 23, tr. 630].
Cùng quan điểm với Hữu Đạt, tác giả Nguyễn Xuân Nam còn phân biệt
sự khác nhau giữa thơ văn xuôi và thơ tự do: “Thơ văn xuôi là một trong ba
hình thức cơ bản của thơ xét về phương diện tổ chức ngôn ngữ (thơ cách
luật, thơ tự do, thơ văn xuôi) là loại sáng tác dùng văn xuôi để biểu hiện
một nội dung tư tưởng tình cảm đầy chất thơ. Thơ tự do khác thơ cách luật
ở chỗ không chịu những ràng buộc của những quy tắc định trước về số khổ,
chữ trong từng dòng, về cách gieo vần cũng như âm điệu tiết tấu, đến vần
để có thể ngâm đọc được. Còn thơ văn xuôi tập trung chú ý vào vẻ đẹp của
tư tưởng tình cảm, vào màu sắc tế nhị của cảm xúc, vào những khám phá
mới mẻ của hình ảnh. Thơ văn xuôi cũng tôn trọng vẻ đẹp của ngôn ngữ có
nhịp điệu. Đó là một loại văn xuôi trữ tình có nhịp điệu. Vẻ đẹp chủ yếu
của nó là ở ý cảnh”. [23, tr. 658]
1.3.3. Quan điểm đồng nhất thơ văn xuôi với văn xuôi có chất thơ
Khái niệm văn xuôi có chất thơ được Baudelaire chỉ rõ trong cuốn
“Những tiếu phẩm thơ văn xuôi nhỏ” của ông (1862): “Ai trong chúng ta
trong những ngày đầy tham vọng, lại không mơ tưởng đến một phép lạ của
thể văn xuôi- thơ du dương, không điệu, không vần hơi mềm và hơi cứng,
để có thể thích ứng với những chuyển động trữ tình của tâm hồn, với làn
sóng nhấp nhô của mơ mộng, với những xúc cảm bất thường của lương
tri?”

22
Thực tế ranh giới giữa thơ văn xuôi và văn xuôi có chất thơ rất khó xác
định. Nhiều nhà nghiên cứu đã lấy đặc điểm văn xuôi có chất thơ để định
nghĩa thơ văn xuôi. Năm 1663, cha xứ địa phận La Bresche phát biểu về
thơ văn xuôi như sau: “Diễn giả dường như bay bổng bằng lời hùng biện
hoặc sứ giả say sưa khi mô tả kì tích lịch sử, đó là những người đích thực
làm thơ bằng văn xuôi”.

1.4. Sơ lược sự hình thành và phát triển của thơ văn xuôi
1.4.1. Trên thế giới
Trên thế giới, thơ văn xuôi đã tồn tại hơn thế kỉ với tên tuổi của các nhà
thơ nổi tiếng như Whitman, Baudelaire, Valery, Tagore…
Người ta cho rằng, thơ văn xuôi chính thức xuất hiện vào năm 1842 ở
Pháp qua bài thơ văn xuôi Gaspard bóng đêm của nhà thơ Aloysins
Bertrand, như là một phản ứng chống lại một lối thơ niêm luật chặt chẽ
đang thịnh hành thời bấy giờ là thơ alexandrin. Tuy nhiên mầm mống của
nó phải kể từ sáu bài thơ văn xuôi có xen lẫn các vần thơ trong tập thơ
Tụng ca bóng đêm của nhà thơ lãng mạn Đức Novails (nam tước
Hardenberg), xuất bản năm 1800, trước khi ông mất một năm, khi ông 29
tuổi và chưa kịp kết hôn.
Nhưng phải đến cuối thế kỷ XIX thì nó mới được tiếp nhận rộng rãi bởi
các nhà thơ tượng trưng Pháp, như Charles Baudelaire với tập thơ Những
bài thơ văn xuôi (1869, về sau tập thơ này được in lại với tên gọi mới là
Paris chán chường), như Stéphane Mallarmé với tập thơ Những lời vẩn
vơ (1897), Arthur Rimbaud với tập Khải huyền (1886), và một loạt các nhà
thơ tượng trưng đương thời khác như Paul Valéry, Paul Fort và Paul
Claudel. Từ đó thơ văn xuôi được xác lập vững vàng trong thơ ca Pháp. Và
một trong số những tác phẩm thơ văn xuôi xuất sắc nhất là tập Hoa đăng,
xuất bản năm 1886 của Rimbaua.
Ở Đức, thơ văn xuôi được các nhà thơ lãng mạn cuối thế kỉ XIX tiếp
nhận như Rainer. Maria Rilker…
Nước Anh từ cuối thế kỉ XIX cũng bắt đầu tiếp nhận thơ văn xuôi với
sự tham gia của Oscar Wilde. Tập Thơ văn xuôi của ông chính là ví dụ đầu

24
tiên của một truyền thống văn hóa có ý thức viết về thơ văn xuôi bằng tiếng
Anh. Sang thế kỉ XX, đã có những nhà thơ rất tích cực viết thơ văn xuôi
như Gertrude Stein, và Sherwood Anderson.

mẽ… [23, tr. 617]
Thơ văn xuôi là thể thơ rất phù hợp với việc diễn đạt những trăn trở,
suy tư triết lý và suy tưởng về nhân tình, thế sự. Đây là một lối thoát cho
các nhà thơ khi họ muốn dùng thơ để nhập cuộc tham gia bàn luận tự do về
số phận của con người và xã hội, khi mà các thể thơ có niêm luật gò bó
không đáp ứng được yêu cầu giải quyết nhiều vấn đề của thời đại. Chính vì
vậy mà thơ văn xuôi nhanh chóng được đông đảo các nhà thơ trên thế giới
tiếp nhận.
Từ giữa thế kỷ XX đến nay, một loạt các nhà thơ trên thế giới từ Âu
sang Á đã sáng tác thơ văn xuôi, trong đó có nhà thơ đã đoạt giải Nobel
văn học như nhà thơ Pháp Saint- John Perse (1960).
Ở Trung Quốc, Lỗ Tấn cũng đã sáng tác thơ văn xuôi, và ngày nay, nhà
văn Giả Bình Ao cũng có những bài thơ văn xuôi rất đậm chất lôgic triết lý:
“Mẹ ơi, mẹ bảo quả táo trên cây chín đỏ là nhờ có mặt trời. Thế thì củ
cải đó lớn lên trong lòng đất vì sao mà đỏ?
Mẹ ơi, mẹ bảo gà trống gáy thì trời sáng, thế sao gà trống chết rồi mà
trời vẫn tươi sáng?
Mẹ ơi, mẹ bảo con không nên hỏi mẹ như vậy, vì làm mẹ thì không bao
giờ sai. Vậy thì con cũng sẽ không bao giờ sai, vì sau này con cũng sẽ làm mẹ”.
(Giả Bình Ao- Hỏi)
Thơ văn xuôi cũng rất phù hợp để diễn đạt dòng suy tưởng về cái tuyệt
đối, cái tinh khiết trong tình cảm. Nhà thơ siêu thực Pháp Paul Éluard, vào
những năm 20 của thế kỷ XX, đã có những câu thơ tình văn xuôi rất tinh
khiết, hướng tới cái tuyệt đối:
“Từ lúc còn trẻ tôi đã dang tay đón nhận sự trắng trong. Đó chỉ là một
tiếng vỗ cánh trên bầu trời vĩnh hằng của tôi, chỉ là một tiếng tim đập,
tiếng đập của một con tim đang yêu trong lồng ngực bị chinh phục. Tôi
không còn có thể bị sa ngã được nữa.

Trích đoạn Khảo sát các kiểu nhịp điệu trong thơ văn xuôi Việt Nam hiện Vài nét về các biện pháp tu từ cú pháp tiếng Việt Sóng đôi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status