Chất đồng quê trong thơ lục bát việt nam hiện đại (qua thơ lục bát nguyễn duy và đồng đức bốn) luận văn ths văn học 60 22 32 - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------

PHẠM MAI PHONG

CHẤT ĐỒNG QUÊ TRONG
THƠ LỤC BÁT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(Qua thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn)

Chuyên ngành : Lý luận văn học

Mã số

: 60.22.32

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Hà Nội - 2008

1


PHẦN MỞ ĐẦU
1.

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Về thơ lục bát Việt Nam hiện đại:
Từ lâu, thơ lục bát đã ăn sâu vào tiềm thức, tâm hồn và cả lối sống của
người Việt Nam ta. Có thể nói, với mỗi người dân Việt, ít ai là không biết đến

Nguyễn Duy, tên thật là Nguyễn Duy Nhụê, sinh năm 1948. Nguyễn Duy
đến với làng thơ Việt Nam từ những năm đất nước còn trong cuộc kháng
chiến chống Mĩ. Ông đã góp một tiếng nói quan trọng làm nên diện mạo riêng
của một thế hệ thơ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Hoà mình vào
cuộc chiến đấu của dân tộc, Nguyễn Duy đã cho ra đời nhiều tập thơ có giá trị
và được công chúng nhiệt liệt đón chào.
Chiến tranh kết thúc, trở về với đời thường, bước vào cuộc sống mới, với
mỗi người chiến sĩ, mỗi nhà văn quả không phải là điều đơn giản. Nhiều
người trong số đó đã không tìm được lẽ sống và cảm hứng sáng tác, trở nên
lạc lõng giữa đời thường. Nhưng với Nguyễn Duy lại khác, ông đã có nhiều
sáng tạo, đổi mới chứng tỏ được bút lực dồi dào của mình. Nhiều tập thơ có
giá trị sâu sắc tiếp tục được nhà thơ hoàn thiện. Năm 1997, bằng một cuộc
triển lãm thơ, Nguyễn Duy đã tuyên bố ngừng sự nghiệp sáng tác thơ ca của
mình. Tuy nhiên, theo thời gian, sức sống của thơ Nguyễn Duy dường như
mỗi lúc một mãnh liệt và toả sáng, được bạn đọc đón nhận nhiệt liệt hơn.
Nguyễn Duy làm thơ với nhiều thể loại khác nhau, nhưng chủ yếu và
thành công hơn cả vẫn là thơ lục bát. Nhiều câu thơ, bài thơ lục bát của ông
đã trở nên quen thuộc như tiếng lòng vọng về từ thuở xa xưa. Vậy điều gì đã
làm nên những thành công của thơ Nguyễn Duy? Đó là tài năng, sự nỗ lực
không ngừng của tác giả hay một yếu tố nào khác? Dĩ nhiên, một yếu tố đơn
lẻ sẽ khó có thể nói lên môt điều gì. Tuy nhiên, trong số các yếu tố đó, sẽ rất
thiếu xót nếu chúng ta bỏ qua chất đồng quê như một sức sống tiềm ẩn trong
thơ Nguyễn Duy. Những hương vị đồng nội, những hình ảnh quê mùa, những
phẩm chất mộc mạc đáng mến dường như đã ngấm sâu vào cảm thức của nhà
thơ. Chất đồng quê ấy đã theo chân tác giả trải qua những năm tháng chiến
tranh, để rồi lại theo tác giả trở về lại với đời thường, bật lên những tiếng thơ
sao xuyến lòng người. Đi sâu tìm hiểu về chất đồng quê trong thơ Nguyễn
Duy sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn về nhà thơ này. Đồng thời, phần

3

lần nữa khẳng định được vị trí và sức sống lâu bền của mình. Tìm hiểu về

4


chất đồng quê trong thơ lục bát Viêt Nam từ quá khứ tới hiện tại sẽ trở nên rất
khó khăn, thiếu sót nếu như chúng ta bỏ qua thơ lục bát của Đồng Đức Bốn.
Văn hoá làng xã, những giá trị truyền thống của làng quê, cảnh sắc đồng
quê in đậm trong thơ ca Việt là những nhân tố quan trọng tạo nên tính dân
tộc, bản sắc dân tộc của nền văn học nước nhà. Vì vậy, đi vào tìm hiểu đề tài:
Chất đồng quê trong thơ lục bát Việt Nam hiện đại (Qua thơ lục bát Nguyễn
Duy, Đồng Đức Bốn) là một yêu cầu cấp thiết để làm rõ hơn đặc điểm thể loại
của thơ lục bát, thấy rõ hơn giá trị thơ ca Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn
cũng như sự đóng góp của họ cho văn học nước nhà. Đồng thời, công việc
này cũng khẳng định thêm một lần nữa những giá trị đặc trưng của thơ ca dân tộc
Việt Nam.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Để thấy rõ hơn quá trình phát triển và đánh giá giá trị của thơ lục bát nói
chung cũng như thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn nói riêng, chúng
tôi đi vào lược khảo vấn đề nghiên cứu theo từng tiêu chí cụ thể như sau:
2.1. Các công trình nghiên cứu liên quan tới chất đồng quê trong thơ
Việt Nam hiện đại
Cho đến nay, công việc nghiên cứu về dòng thơ đồng quê ở mức độ khái
quát với những tác giả chính, những thi phẩm tiêu biểu vẫn là một công việc
còn bỏ ngỏ, đòi hỏi sự góp sức của nhiều nhà khoa học, nhiều học giả. Tuy
nhiên, nghiên cứu về chất đồng quê trong thơ của một tác giả cụ thể hoặc một
số tác giả trong thế đối sánh với nhau thì đã có khá nhiều bài viết, nhiều công
trình có giá trị.
Khởi đầu cho công việc này, có thể kể đến Thi nhân Việt Nam của Hoài
Thanh và Hoài Chân. Những bài nghiên cứu, thẩm bình về các tác phẩm của

viết về chất đồng quê trong thơ của các tác giả khác. Vũ Quần Phương trong
cuốn Thơ với lời bình có bài viết về bài thơ Chiều xuân của nhà thơ Anh Thơ.
Tác giả nhận ra rằng, Anh Thơ “sống ở quê từ tấm bé, những cảnh sắc quê
hương thấm vào chị từ tuổi thơ, nên chị mới diễn đạt cảnh quê bằng nhiều sắc
thái và chân thật đến thế” (40). Vẫn viết về thi phẩm này, học giả Lê Quang
Hưng trong cuốn Tinh hoa thơ mới, thẩm bình và suy ngẫm lại nhận định: “nữ
sĩ đã làm dịu tâm hồn người đọc bằng cách đưa họ về với những bức tranh
quê yên bình”. Còn về bài Quê hương của Tế Hanh, Lê Quang Hưng lại nhìn

6


thấy chất đồng quê của một “làng quê làm nghề chài lưới ở miền Trung Trung
Bộ với cuộc sống lao động vất vả mà đầy chất thơ”(24).
Ngoài các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đây, còn có nhiều bài
viết, nhiều công trình nghiên cứu khác. Đó đều là những công trình mang ý
nghĩa, giá trị sâu sắc, ít nhiều đề cập tới chất đồng quê trong thơ Việt Nam
hiện đại.
2.2. Các công trình nghiên cứu về tác giả Nguyễn Duy
Nguyễn Duy xuất hiện trên văn đàn và mang đến một tiếng nói riêng đầy
bản sắc, thu hút sự chú ý của nhiều độc giả. Đã có khá nhiều bài viết thẩm
bình, đánh giá về thơ ông. Mỗi công trình nhìn nhận thơ Nguyễn Duy từ một
phương diện khác nhau, một khía cạnh nào đó trong đời thơ của ông. Để thấy
rõ hơn quá trình thẩm bình, đánh giá đó, luận văn chủ yếu đi vào khảo sát các
công trình nghiên cứu liên quan tới chất đồng quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy.
Năm 1972, những bài thơ đăng báo lần đầu của Nguyễn Duy đã thu hút
được sự chú ý của Hoài Thanh. Bằng cảm nhận tinh tế, sắc sảo, ông đã nhận
ra vị quê mùa đằm thắm, chân chất trong thơ Nguyễn Duy, “quen thuộc mà
không nhàm”, là “khúc dân ca” vùng “đồng bằng miền Bắc đã cùng anh đi
vào giữa đỉnh Trường Sơn”. Chất thơ đó “nhẹ nhàng hiền hậu”, “rất Việt Nam

thống” (2).
Tìm hiểu về thơ Nguyễn Duy, khó có thể bỏ qua mảng thơ lục bát đậm đà
chất đồng quê của ông, vì đây là tác giả “vốn có ưu thế trội hẳn lên trong thể
thơ lục bát, loại thơ ngỡ như dễ làm, ai cũng làm được, nhưng để đạt tới hay
thì khó thay. Thơ lục bát của Nguyễn Duy không rơi vào tình trạng quen tay,
nó có sự biến đổi, chuyển động trong câu chữ”. Lời nhận xét đó trong bài viết
Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy của nhà văn Nguyễn Quang Sáng quả
là tinh tế. Ông nhấn mạnh thêm, Nguyễn Duy có “khả năng nắm bắt cái thần,
cái hồn của mỗi làng quê”, “lời thơ đơn sơ, gần với khẩu ngữ. tư duy thơ thì
hiện đại” (42).
Tác giả Đỗ Ngọc Thạch lại đi sâu vào hình ảnh Người vợ trong thơ
Nguyễn Duy và thấy rõ “hồn quê” có sức “lay động tận sâu thẳm tâm
linh…đưa ta trở về với bản ngã, với những gì con người nhất” (49).
Tạp chí văn học số 7. 1998 đăng bài Ca dao vọng về trong thơ Nguyễn
Duy của tác giả Phạm Thu Yến. Bài viết đã đi sâu vào những biểu hiện trong

8


mối quan hệ giữa ca dao và thơ hiện đại, cụ thể là tiếng vọng của ca dao trong
thơ lục bát Nguyễn Duy: “Đọc thơ Nguyễn Duy, ta như được gặp một thế giới
ca dao sinh động, phập phồng làm nền cho tiếng đàn độc huyền đầy sáng tạo
của hồn thơ thi sĩ”. Bài viết cũng khẳng định “thể thơ lục bát- thể thơ đặc
trưng của dân tộc được Nguyễn Duy sử dụng nhuần nhuỵ, giúp tác giả chuyển
tải một cách nhẹ nhàng trong sáng những suy nghĩ và tình cảm sâu sắc của
con người. Có lẽ, những bài thành công nhất của Nguyễn Duy là những bài
làm theo thể lục bát ”(58).
Thơ ca là một bộ phận quan trọng thể hiện tính cách, nhân phẩm của người
sáng tạo ra nó. Tác giả Vũ Văn Sỹ đã trình bày cảm nhận của mình về hình
ảnh Nguyễn Duy trong thơ và trong cuộc sống, một con người chất phác, chân

xứng đáng đi sâu nghiên cứu cụ thể, toàn diện về chất đồng quê trong thơ lục
bát Nguyễn Duy và vị trí của nó trong hành trình thơ lục bát Việt Nam. Đó
vẫn là một khoảng trống còn đang bỏ ngỏ.
2.3. Các công trình nghiên cứu về thơ Đồng Đức Bốn
Là một hiện tượng mới nổi, nhưng Đồng Đức Bốn và thơ ca của ông đã có
được một vị trí khá sâu sắc trong lòng độc giả. Nghiên cứu về chất đồng quê
trong thơ lục bát của ông, chúng tôi tập trung vào khảo sát một số bài viết có
đề cập và liên quan đến chất đồng quê trong thơ lục bát của tác giả này. Phần
lớn các bài viết chúng tôi khảo sát được rút từ phần hai cuốn sách Chim mỏ
vàng và hoa cỏ độc (7) do chính tác giả Đồng Đức Bốn đã tập hợp.
Trước hết, phải kể đến chùm bài viết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp,
người bạn văn chương của nhà thơ Đồng Đức Bốn. Ở trong bài viết Đồng
Đức Bốn- Vị cứu tinh của thơ lục bát, tác giả nhận định: “Thơ lục bát Đồng
Đức Bốn có một cái gì khác người, hiếm và lạ…Trong bối cảnh thơ có phần
nào lộn xộn, Đồng Đức Bốn hiện lên như một hiện tượng thơ đặc biệt…Đồng
Đức Bốn là người tự dưng đốn ngộ với riêng thể thơ lục bát”. Đó là cái
duyên, là ân huệ trời ban cho nhà thơ Đồng Đức Bốn. Không dừng lại ở đó,
Nguyễn Huy Thiệp còn nhìn nhận Đồng Đức Bốn từ vai trò một nhà thơ của
đồng quê, của con trâu, cái diều.
Nhà thơ, nhà phê bình văn học Đỗ Minh Tuấn có bài viết Đồng Đức BốnKẻ mượn bút của trời nhận thấy “Sự xuất hiện của Đồng Đức Bốn đã đem lại
cho thơ lục bát, thơ truyền thống một niềm tự tin đáng kể”, “thơ Bốn vụt lên
với sự sáng trong giản dị mà không kém phần sâu sắc, mới lạ và ấn tượng như

10


mang cả hồn thiêng của tổ tiên trong mỗi lời đối thoại, mỗi tiếng nhủ thầm”.
Ở bài viết Trời đưa anh đến cõi thơ, tác giả này lại chỉ ra niềm kiêu hãnh, biết
ơn của Đồng Đức Bốn với thơ lục bát: “cái tình cảm của Bốn với thơ lục bát
nhìn bề ngoài giống như tình cảm của người nông dân với con trâu”.

tính giàu chất dân gian trong thơ lục bát nói chung và thơ Đồng Đức Bốn nói
riêng: “thực ra trong thơ ca, lục bát là thể thơ mang tính nhạc đậm nhất, ở thơ
Đồng Đức Bốn càng thấy rõ điều này. Bất kỳ một bài nào của anh đều như
những bài hát dân ca, điệu hò câu ví thuở xưa”.
Tác giả Băng Sơn trong bài Đồng Đức Bốn- Thi sĩ đồng quê đã nhận định
khá sâu sắc về hồn quê mùa trong thơ Đồng Đức Bốn, coi ông là “một nhà thơ
kiệt xuất trong lục bát, có lẽ là hồn Việt chắt lọc ngàn năm để ứ dồn vào tâm
hồn thi sĩ làm ta nghiêng ngả mê say những vần thơ như từ ca dao đi ra, như
từ thơ đi vào ca dao, cứ ngọt lịm và ở lại”. Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn trong
Vài ý nghĩ tản mạn về thơ Đồng Đức Bốn cũng có nhận xét, “thế mạnh thơ
Đồng Đức Bốn là thể thơ đồng quê, ngôn ngữ đồng quê, cảm hứng đồng
quê…Đặc biệt là tình ý tư tưởng đồng quê”.
Ngoài các bài viết trên đây, còn phải kể tới bài viết của một số tác giả như
Nguyễn Ánh Ngân, Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Việt Hà, Văn Chinh…Đó
đều là những bài viết, những ý kiến đánh giá về thơ Đồng Đức Bốn khá sâu
sắc, xác đáng.
Nhìn chung, các bài viết tìm hiểu về thơ Đồng Đức Bốn bước đầu đã có
những tìm tòi mới mẻ, nhưng chủ yếu mới chỉ dừng lại ở mức độ là những
nhận định chung chung, là cái nhìn ban đầu về một hiện tượng thơ mới nổi, ít
có sự đi sâu phân tích những biểu hiện cụ thể trong thơ ông, chưa có được cái
nhìn toàn cục về vị trí của thơ lục bát Đồng Đức Bốn trong dòng chảy của thơ
lục bát đồng quê Việt Nam.
Nghiên cứu về chất đồng quê trong thơ lục bát hiện đại nói chung, chất
đồng quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn nói riêng là một việc
làm có ý nghĩa quan trọng để đánh giá xác đáng hơn giá trị của thơ lục bát
cũng như thơ của hai tác giả trên. Điều này đòi hỏi sự góp công, góp sức của
nhiều nhà nghiên cứu. Dẫu biết rằng như muối bỏ bể, công trình nghiên cứu
này của chúng tôi vẫn hy vọng được đóng góp một phần nhỏ vào quá trình
nghiên cứu vấn đề này.


Đức Bốn sẽ hiện lên một cách nổi bật và có tính thuyết phục cao.
Phương pháp thống kê- phân loại.
Phương pháp này được sử dụng như một phương pháp bổ trợ hữu ích cho
hai phương pháp trên đây. Với sự thống kê, phân loại, luận văn sẽ tìm được
những yếu tố nội dung, nghệ thuật tiêu biểu để đi đến kết luận chính xác nhất,
có cơ sở cho sự thuyết phục.

13


Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi phối hợp chặt chẽ giữa ba
phương pháp nêu trên để luận văn có tính khoa học và hệ thống, đạt được
những hiệu quả cao nhất.
5.

MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ.

Mục đích nghiên cứu của luận văn
Đi sâu vào đề tài này, mục đích của chúng tôi là hướng vào tìm hiểu những
biểu hiện cụ thể về chất đồng quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức
Bốn. So sánh đối chiếu chất đồng quê trong thơ hai ông với nhau và với các
tác giả khác, đặc biệt là các tác giả có thế mạnh về thơ lục bát để tìm ra những
đặc điểm chung nhất và bản sắc, đặc trưng riêng của thơ ca mỗi người. Bên
cạnh đó, luận văn cũng mong đạt được một hiệu quả cao hơn, đó là có được
cái nhìn khái quát về sự tồn tại, biến đổi của chất đồng quê trong thơ lục bát
Việt Nam hiện đại.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
Hướng vào những mục đích đã nêu trên đây, luận văn thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể sau đây:
-


Chương một
CHẤT ĐỒNG QUÊ VÀ THƠ LỤC BÁT VỀ ĐỒNG QUÊ
TRONG THƠ CA DÂN TỘC
Theo những bước đi của thời gian, nền văn học Việt Nam cũng không
ngừng vận động, biến chuyển. Nhiều thành tựu của văn học nước nhà đã được
nhân loại biết đến và trân trọng. Trong những thành tựu ấy, thơ lục bát chiếm
một vị trí đáng kể, tạo nên tiếng nói tiêu biểu đặc trưng cho văn học người
Việt, tâm hồn người Việt.
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƠ LỤC BÁT
Cấu trúc thể loại
Lục bát là thể thơ tổng hợp giữa câu sáu và câu tám. Số câu không hạn
định, ít thì chỉ hai câu, còn nhiều thì có thể kéo dài đến vô kể. Từ khi ra đời,
thể lục bát đã trở thành thể loại được ưa chuộng trong sáng tác của người
Việt. Qua tiến trình thể loại, thể lục bát mỗi lúc càng trở nên hoàn thiện hơn.
Niêm, vần, luật.
Giáo sư Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong cuốn Thơ ca Việt Nam –
Hình thức và thể loại đã dành cho thể lục bát một sự quan tâm, ưu ái đặc biệt.
Niêm luật của thể thơ này đã được tóm tắt thành một hệ thống tương đối rõ ràng.
* Hệ thống phổ biến
- Trường hợp một:
Dòng/ti

1

2

3

4

-

B

-

T

-

B

lục
-

B

bát
B: Vần bằng; T: Vần trắc
Trường hợp này khá phổ biến trong ca dao và cả trong văn học viết. Chẳng
hạn:
Dù ai cho bạc cho vàng
Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay
(Ca dao)
Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em ăn dập bã giầu em sang
(Nguyễn Bính)
Ở hệ thống này, niêm luật giữa câu lục và câu bát đều theo mối quan hệ
tương liên từng cặp: B- B; T- T; B- B.
- Trường hợp hai:

Về nhịp
Cả cặp lục bát mười bốn tiếng được coi là một đơn vị nhịp điệu, trong đơn
vị đó lại có thể ngắt ra từng tiết tấu theo cách diễn đạt nội dung câu thơ.
Trong thơ lục bát, cách ngắt nhịp rất uyển chuyển nhưng thường là nhịp hai.
Ví dụ:
Đi mau! Trốn hết! Trốn mau
Trốn hơi! trốn tiếng! Trốn nhau! Trốn mình
(Xuân Diệu)
Đôi khi lại là nhịp ba:
Ơi thôn Vân/ hỡi thôn Vân
Phương nào kết dải mây Tần cho ta
(Nguyễn Bính)
Nhiều khi lại có sự phối hợp nhiều nhịp cho phù hợp với nội dung nào đó
hoặc tạo ra ngữ điệu đặc biệt.
Cái gì như thể nhớ mong
Nhớ nàng?không! quyết là không nhớ nàng
(Nguyễn Bính)

17


Đối
Thơ lục bát không quy định nhất thiết phải có đối. Tuy vậy, đặc trưng phổ
biến của lục bát lại là tiểu đối. Khi thì đối ý, đối thanh, có khi lại đối cả ý và
thanh. Câu lục bát có đối thường theo nhịp 3/3, 4/4. Trong Truyện Kiều,
Nguyễn Du nhiều lần sử dụng đối khá thành công.
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
(Nguyễn Du)
Trong ca dao, tiểu đối cũng không thiếu phần đặc sắc:

Có trường hợp, bài thơ lục bát bắt đầu bằng câu tám:
Buồn rầu buồn rĩ, nghĩ lại buồn riêng
Hai tay bưng quả đào tiên
Miệng cười hớn hở dạ phiền tương tư
(Ca dao)
Có khi tác phẩm bắt đầu bằng hai dòng lục:
Chợ Giăng rồi lại chợ Chùa
Chợ rạng thì phải qua đò
Chợ Lường lắm bánh, ăn dò mà đi
(Ca dao)
Dạng này thường không phổ biến. Chủ yếu là phần lời của bài hát giao
duyên, hay gặp trong dân ca xứ Nghệ và dân ca Nam Bộ.
Có tác phẩm lục bát lại kết thúc theo lối bỏ lửng ở vần lục:
Anh về xẻ ván cho dày
Đánh thuyền đợi bến rước thầy mẹ sang
Thuyền lớn quan bắt chở lương
Còn chiếc thuyền nhỏ cùng nường qua sông
Chờ nàng anh đứng chờ trông…
`

(Ca dao)

Cách bỏ lửng này giúp chúng ta suy nghĩ không ít về hồi kết của tác phẩm.
Dạng này có thể tìm thấy cả trong ca dao và trong văn học viết.
Như vậy, thể lục bát là một thể thơ linh hoạt, sinh động chứ không hề khô
khan và cứng nhắc. Trong tiến trình thể loại, cả thơ ca dân gian và thơ ca văn
học viết đều có những sáng tạo, đổi mới cho phù hợp. Đó đều là những đổi
mới góp phần khẳng định thêm giá trị thể loại.
Nguồn gốc sinh thành


Đất vua ai chẳng là tôi
Non cao hang thẳm cùng trời tôn thân
(Đào Nguyên Hành)

20


Hoặc:
Trước bày đời Hán Linh Đế
Phật sinh xuất thế thiên hạ phong lưu
(Cổ Châu Phật bản hạnh)
Có khi lại rất thoải mái trong thanh điệu:
Thứ này ai là kẻ hay
Dẫu nghìn vàng đổi trao tay chẳng thà
(Đào Nguyên Hành)
Trong quá trình tồn tại và phát triển, thể lục bát dần trở nên hoàn thiện hơn
về cả lượng và chất. Ví dụ như, trong các bài lục bát đã dần bỏ bớt lối gieo
vần ở tiếng thứ 4, hướng tới cách gieo vần ở tiếng thứ 6 câu bát. Về phối điệu,
dần ổn định thanh điệu ở các tiếng thứ 2, thứ 4 và thứ 6.
Chức năng biểu đạt: các tác phẩm khởi đầu của thể lục bát thường hướng
vào nội dung trữ tình tụng ca. Đến thế kỉ XVIII, với các truyện thơ Nôm, thể
lục bát nhận thêm chức năng tự sự như Truyện Phan Trần, Truyện Phạm
Công Cúc Hoa, Hoa tiên…
Tuy có nhiều biến đổi, song ở giai đoạn này, thể lục bát vẫn chưa đạt độ
hài hoà hoặc trôi chảy thực sự. Việc gieo vần ở tiếng thứ 6 câu thơ chưa đạt
hiệu quả cao. Đặc biệt, vẫn còn hiện tượng kí sinh ở tiếng thứ 6 dòng bát.
Cha tôi trưởng giả nhà quê
Giàu sang sớm đã sinh thì ba tôi
(Tống Trân Cúc Hoa)
Nằm lăn em mới ngủ đi

của nó. Phan Ngọc cho rằng: “sự xuất hiện của hình thức tiểu đối không phải
là hiện tượng bình thường trong lục bát mà là kết quả của một quá trình phát
triển” và “hình thức đối xứng làm cho nhịp thơ chậm lại, trang trọng, đem lại
cái đẹp cân đối, nhịp nhàng” (34). Nguyễn Phan Cảnh lại coi sự xuất hiện của
đối là “sự kiện đánh dấu một bước tiến hoá mới quan trọng và có tính chất
quyết định của thể lục bát Đưa lục bát tới sự toàn thắng” (8).
Thể lục bát đến Truyện Kiều được coi là một mô hình chuẩn mực. Tác
phẩm này vẫn thể hiện chức năng kể là chính.Tuy nhiên, nội dung trữ tình
cũng đã chiếm một phân lượng không nhỏ. Cùng với Truyện Kiều, thơ lục bát
dần đi sâu hơn vào tâm thức của con người Việt Nam ta.
1.3.3. Lục bát trong phong trào thơ mới (1932-1945)

22


Cũng như các hiện tượng văn học khác, thơ lục bát luôn vận động, biến
đổi theo những qui luật nhất định dưới sự tác động của thời đại. Bước vào thế
kỉ XX, nhiều thể loại mới từ văn học phương Tây thâm nhập và tạo ra sự thay
đổi của bộ mặt văn học nước nhà. Nhiều thể loại văn học mới xuất hiện. Các
loại hình văn xuôi tự sự với thế mạnh riêng dần đóng một vai trò quan trọng.
Trong tình hình đó, thơ lục bát dần chuyển sang tập trung vào khả năng chính
của một thể thơ ca: chức năng trữ tình. Chức năng tự sự của nó ngày càng trở
nên mờ nhạt hơn.
Đầu thế kỉ XX, một số tác giả như Tản Đà, Trần Tuấn Khải… đã “dạo
những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kì đang sắp sửa” (47). Thơ
lục bát thời gian này vẫn còn đậm dấu ấn của thơ lục bát cổ truyền, trang nhã,
chuẩn mực hoặc dễ lẫn vào truyền thống. Bên cạnh đó, bắt đầu có sự cách tân,
đổi mới để ngày càng đa dạng, linh hoạt hơn.
Lục bát trong Thơ Mới(1932-1945) đã có nhiều cách tân đa dạng.
Trước hết là sự đổi mới về hình thức thể hiện:

Trời cao xanh ngắt- ô kìa
Hai con hạc trắng bay về bồng lai.
(Tiếng sáo thiên thai-Thế Lữ)
Hiện tượng chấm câu giữa dòng:
Lòng ta dù vỡ tan tành
Cũng còn thổn thức. Buộc lành cho nhau.
(Lời tuyệt vọng-Thế Lữ)

Lối xếp câu theo bậc thang:
Đường xa ư cụ?
Quản chi
Đi gần hạnh phúc là đi xa đường
(Uống rượu với Tản Đà-Trần Huyền Trân)
Những đổi mới đó đã đem lại cho thơ lục bát những giá trị mỹ cảm mới.
Câu thơ lục bát trở nên không chỉ đều đều như lời mộc mạc trong ca dao hoặc
lối cân xứng đều đặn lục bát cổ điển, mà diễn ra theo lối nói gần gũi với câu
thơ tự do.Tuy nhiên, trên bình diện tổng quát, nó vẫn tuân theo khá nghiêm

24


chỉnh thi luật của thể loại. Đó là những đổi mới để lục bát có thêm sức sống,
ngày càng hoà nhập hơn vào nền văn học hiện đại của nước nhà.
Về nội dung biểu đạt:
Hầu hết các bài lục bát trong thơ Mới đều mang nội dung trữ tình lãng
mạn. Chủ yếu thể hiện tâm tình, cảm xúc của cái “tôi” cá nhân của tác giả.
Đây cũng là sự hoà nhập của nội dung thơ lục bát với xu hướng hiện đại hoá
của nền văn học dân tộc. Đó là nỗi buồn thương, nỗi mất mát, cảm xúc bâng
khuâng, thương nhớ trong tâm hồn con người. Đặc biệt là tâm hồn của một
con người đang yêu:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status