Giáo dục lý tưởng vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh cho thanh niên việt nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐỖ ĐỨC DUẨN

GIÁO DỤC LÝ TƯỞNG VÌ MỤC TIÊU ‘‘DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH ”
CHO THANH NIÊN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2012

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐỖ ĐỨC DUẨN

GIÁO DỤC LÝ TƯỞNG VÌ MỤC TIÊU ‘‘DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH ”
CHO THANH NIÊN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

Luận văn thạc sỹ: Chuyên ngành triết học
Mã số: 60 22 80


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................... 5
NỘI DUNG ...............................................................................................................14
CHƯƠNG 1:GIÁO DỤC LÝ TƯỞNG VÌ MỤC TIÊU “DÂN GIÀU NƯỚC
MẠNH” CHO THANH NIÊN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC - CƠ SỞ LÝ LUẬN ..............14
1.1. Một số khái niệm cơ bản ........................................................................... 14
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng
sản Việt Nam về giáo dục lý tưởng vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” cho thanh
niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ................................. 27
1.3. Giáo dục lý tưởng vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .................................................................... 39
1.4. Sự cần thiết phải giáo dục thanh niên phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh” trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ............................. 48
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG GIÁO DỤC LÝ TƯỞNG VÌ MỤC TIÊU
“DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH” CHO THANH NIÊN ........................................57
2.1. Tổng quan về tình hình thanh niên hiện nay................................................ 57
2.2. Tình hình thanh niên tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ................................................. 65
2.3. Tình hình giáo dục lý tưởng vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh” cho thanh niên
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. ....................................... 78
2.4. Nguyên nhân của những thực trạng trên ................................................... 110
CHƯƠNG 3:QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH GIÁO
DỤC LÝ TƯỞNG VÌ MỤC TIÊU “DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH” CHO
THANH NIÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
ĐẤT NƯỚC ............................................................................................................123
3.1. Quan điểm chỉ đạo để định hướng cho thanh niên phấn đấu vì mục tiêu “dân
giàu, nước mạnh” trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước .......... 123
3.2. Giải pháp đẩy mạnh giáo dục lý tưởng vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ...................................... 131

Nam là phấn đầu vì một xã hội “dân giàu, nước mạnh”, bởi như trong Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung,
phát triển năm 2011) xác định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân
dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ

5


Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Xã hội xã hội chủ nghĩa
mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất
hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện
phát triển toàn diện”.
Do chủ trương trên của Đảng ta, nên công tác giáo dục lý tưởng thanh
niên ở nước ta những năm qua cũng đã đạt được nhiều thành công. Chúng ta đã
xây dựng được một thế hệ thanh niên vừa có đức, nhân cách, vừa có tri thức,
sức khỏe, tư duy năng động và hành động sáng tạo; tiếp nối truyền thống hào
hùng của dân tộc, của Đảng, nêu cao lòng yêu nước, ý thức xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng,
tình nguyện vì cộng đồng; sống có trách nhiệm với gia đình và xã hội; có ý chí
vươn lên trong học tập và lao động, công tác, lập thân, lập nghiệp, làm giàu
chính đáng, quyết đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; mong muốn
được tin tưởng, được cống hiến cho đất nước, có việc làm, thu nhập ổn định,
có đời sống văn hoá, tinh thần phong phú, môi trường sống an toàn, lành mạnh.
Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới và ở nước hiện nay, do nhiều tác nhân chủ
quan và khách quan, cho nên công tác giáo dục lý tưởng cho thanh niên cũng tồn
đọng nhiều vấn đề bất cập, hạn chế. Qua đánh giá của các nhà quản lý và của một
số đề tài nghiên cứu gần đây, vẫn còn một bộ phận thanh niên chưa có sự xác
định lý tưởng phấn đấu, thiếu gắn bó với sinh hoạt tập thể, chưa xác định rõ trách

Đảng, Nhà nước và các đoàn thể xã hội quan tâm, trăn trở làm sao xây dựng
cho thanh niên những lý tưởng sống cao đẹp, học tập, lao động và chiến đấu
hết mình vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Không ít tác giả
bước đầu đã đưa ra cách nhìn nhận và những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng công tác giáo dục cho thanh niên như: Phạm Văn Đồng (1969), Đào tạo
thế hệ trẻ của dân tộc thành những người chiến sỹ cách mạng dũng cảm, thông
minh, sáng tạo, Nxb Sự thật, Hà Nội; Quang Vinh (2000), Hồ Chí Minh về giáo
dục và tổ chức thanh niên, NxbThanh niên, Hà Nội; Nhiều tác giả, (1966), Thanh
niên với chủ nghĩa anh hùng cách mạng, NxbThanh niên, Hà Nội.

7


Những vấn đề nghiên cứu thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước của Viện nghiên cứu thanh niên. “Thanh niên giáo dục
và phát triển” của TS. Dương Tự Đam. “Lý tưởng đạo đức và việc giáo dục lý
tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay” của Phạm Đình
Nghiệp. “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa,
hiện đại hóa” của Phạm Minh Hạc. “Định hướng giá trị của thanh niên sinh
viên hiện nay”của Đỗ Ngọc Hà. “Những vấn đề nghiên cứu thanh niên trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Viện nghiên cứu thanh
niên; “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên" của tác giả Văn
Tùng, xuất bản năm 1999; "Tăng cường công tác giáo dục lý tưởng cách mạng
cho thanh niên hiện nay" do tác giả Dương Tự Đam chủ biên, xuất bản năm
2003…
Ngoài ra còn một số bài viết đăng trên báo tạp chí đề cập đến công tác
giáo dục, bồi dưỡng thanh niên như: Báo chí với việc giáo dục thanh niên cuả
tác giả Lưu Văn Kiền đăng trên tạp chí Công tác tư tưởng tháng 10/2003. “Sự
biến đổi định hướng giá trị của thanh niên trong điều kiện kinh tế thị trường”
của Thái Duy Tuyên, tạp chí triết học số1/1995. “Vấn đề thanh niên – Vị trí

Trên cơ sở lý luận chung và đánh giá thực trạng, tác giả luận văn đề xuất
một số quan điểm, giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục lý tưởng vì mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh” cho thanh niên Việt Nam trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên luận văn cần thực hiện nhiệm vụ:
- Khái quát cơ sở lý luận về giáo dục lý tưởng vì mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh” cho thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
- Đánh giá thực trạng giáo dục lý tưởng vì mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh” cho thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

9


- Đề xuất những quan điểm, giải pháp giáo lý tưởng vì mục tiêu “dân
giàu, nước mạnh” cho thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Thanh niên Việt Nam đang sinh sống, học tập, lao động trên lãnh thổ
Việt Nam.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục lý tưởng vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” cho thanh niên
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
5. Giới hạn đề tài
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề cập đến lý tưởng là một lĩnh vực
rộng, có thể tiếp cận dưới nhiều góc độ. Trong phạm vi của luận văn triết học,
tác giả chỉ tập trung nghiên cứu giáo dục lý tưởng vì mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh” cho thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

đề nghiên cứu; nêu quan điểm tiếp cận vấn đề nghiên cứu.
7.2.2. Phương pháp điều tra: thiết kế phiếu ankét điều tra trên đối tượng
thanh niên, sinh viên nhằm tìm hiểu lý tưởng của thanh niên trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thông qua các bộ câu hỏi.
Phương pháp Ankét nhằm đo lường nhận thức, thái độ, tình cảm của
thanh niên về lý tưởng vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, một phần tìm hiểu nguyên nhân thực trạng
lý tưởng vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” của thanh niên và giải pháp giáo

11


dục lý tưởng vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” cho thanh niên trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Người nghiên cứu đã tiến hành khảo sát điều tra xã hội học đối với các đối
tượng thanh niên:
- Thanh niên sinh viên tại các trường Đại học (Sinh viên năm thứ nhất Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Sinh viên năm thứ 2 tại trường Đại học
kinh tế quốc dân, sinh năm thứ 3 tại trường Học viện Chính sách và phát triển
Việt Nam, sinh viên năm thứ 4 trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền, sinh
viên hệ trung cấp tại Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam).
- Thanh niên đang công tác tại các cơ quan Nhà nước: Cán bộ trẻ cơ quan
Trung ương Đoàn, cán bộ giảng dạy tại Học viện Thanh Thiếu niên, Cán bộ trẻ
của một số Bộ, Ban, Ngành của Trung ương.
- Thanh niên nông thôn tại xã Điền Xá, Huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
và xã Yên Phúc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
- Thanh niên thành thị tại Tp Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Thanh niên học sinh tại trường THPT Bình Phong Thạnh, huyện Mộc
Hóa, tỉnh Long An.
- Thanh niên lao động tự do tại tỉnh Lam Đồng.

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều trường phái, học thuyết đưa
ra khái niệm lý tưởng. Ngay từ thời kỳ cổ đại, các triết học ở phương Đông và
Phương Tây đã đưa ra những quan niệm, tư tưởng về lý tưởng của con người.
Theo từ điển tiếng Việt, lý tưởng là mục đích cao nhất, tốt đẹp nhất mà
người ta phải phấn đấu để đạt tới. Lý tưởng là khái niệm được các nhà nghiên
cứu xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Ở đây, chúng ta tiếp cận vấn đề
dưới góc độ triết học và tâm lý - giáo dục học.
Theo từ điển Triết học, lý tưởng là sự phản ánh hiện thực khách quan
một cách đặc thù vào ý thức con người hoặc một nhóm xã hội nào đó dưới
dạng một mô hình, hình mẫu hoàn thiện. Bởi vậy, nội dung của lý tưởng được
quy định bởi các quan hệ xã hội thống trị và những đặc điểm tinh thần, tâm lý
của nhân cách.
Dưới góc độ tâm lý học, lý tưởng được xem xét là một bộ phận hợp
thành quan trọng của xu hướng nhân cách cùng với nhu cầu, hứng thú, thế giới
quan và niềm tin…Vì thế, lý tưởng là một mục tiêu cao đẹp của hình ảnh mẫu
mực tương đối hoàn chỉnh có sức lôi cuốn con người vươn tới nó.

14


b) Tính chất của lý tưởng
Lý tưởng vừa có tính hiện thực, vừa có tính lãng mạn. Hình ảnh lý tưởng
được xây dựng từ những chất liệu vốn có trong hiện thực. Đó là tính hiện thực
của lý tưởng. Đồng thời, lý tưởng còn có tính lãng mạn. Bởi vì, mục tiêu của
nó là cái gì đó có thể đạt được trong tương lai. Trong một chừng mực nào đó,
nó đi trước cuộc sống và phản ánh xu thế phát triển hợp quy luật của con
người, nhóm xã hội, toàn xã hội. Có thể nói, tại một thời điểm xác định, con
người chỉ có khả năng tiếp cận tới lý tưởng (cũng như tiếp cận tới chân lý) chứ
không thể đạt tới một cách tuyệt đối.
Lý tưởng còn mang tính xã hội do chỗ con người không ai có thể vượt

Xét về mặt cấu trúc, người ta chia lý tưởng theo các cách khác nhau,
nhưng thông thường, người ta chia theo các cách sau:
Cách thứ nhất, lý tưởng bao gồm lý tưởng xã hội và lý tưởng cá nhân.
Theo các tác giả đề tài "Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên", lý
tưởng cách mạng được hiểu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Theo đó, ta
thấy, nếu như trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lý tưởng của thanh
niên là "không có gì quý hơn độc lập tự do" và hướng tới một xã hội ấm no
hạnh phúc, thì ngày nay, lý tưởng ấy được cụ thể hoá là "dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Dưới góc độ lý tưởng cá nhân, chúng ta có thể hiểu đó chính là mô hình
nhân cách của con người mới xã hội chủ nghĩa. Trong những con người đó có
sự thống nhất giữa đạo đức cách mạng và tri thức cách mạng. Họ vừa là sản
phẩm, vừa là chủ thể của quá trình xây dựng xã hội mới. Nói một cách khái
quát đó là "con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể lực, phong
phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức".
Dưới góc độ khác, người ta phân loại lý tưởng thành bốn loại: lý tưởng
chính trị xã hội, lý tưởng đạo đức, lý tưởng nghề nghiệp và lý tưởng thẩm mỹ.

16


Lý tưởng chính trị xã hội là những quan điểm về một xã hội có tổ chức
cao nhất của những người lao động tự do bình đẳng và tự giác, của những
người làm chủ bản thân, tự nhiên và xã hội.
Lý tưởng đạo đức là hình ảnh về một nhân cách hoàn thiện với những
phẩm chất cao quý nhất như: Chủ nghĩa tập thể, tinh thần tương trợ đồng chí,
chủ nghĩa quốc tế, lòng yêu nước, ý thức cao cả về nghĩa vụ xã hội, lòng chân
thật, tính khiêm tốn….
Lý tưởng nghề nghiệp là hướng tới nghề nghiệp hoàn toàn phù hợp

nhau. Tuỳ theo nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà
người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên.
Theo từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học công bố vào năm 2003
(in lần thứ 9, có sửa đổi, bổ sung) thì mục từ “Thanh niên” được giải thích như
sau: “Người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành” [64, tr.913]
Trong tiếng Anh, bộ từ điển Oxford giải thích mục từ “youth” (thanh
niên) như sau:“Là người trẻ tuổi, trong giai đoạn giữa tuổi thơ ấu và tuổi
người lớn, hăng hái, nhiệt tình hoặc thiếu kinh nghiệm hoặc chỉ những đặc
trưng khác của độ tuổi này. Khi được dùng ở dạng số nhiều thì từ này chỉ tập
hợp những người trẻ tuổi”[1, tr.877]
Theo Chiến lược phát triển Việt Nam đến năm 2010 do Thủ tướng
Chính phủ ký phê duyệt kèm theo Quyết định số 70/2003/QĐ-TTg ngày 29-42003 thì thanh niên nước ta được cho là những công dân Việt Nam có độ tuổi
từ 15 đến 34. Chỉ hai năm sau, Luật Thanh niên (Luật số 53/2003/QH11) được
Quốc hội khóa XI thông qua đã quy định tại Điều 1: “Thanh niên quy định
trong luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi”. Đây cũng là
điều được ghi nhận trong, Điều 1, mục 2 của Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh (2007). Qua đó cho có thể thấy trong các văn bản pháp lý
quan trọng nhất về thanh niên Việt Nam, nội hàm của thuật ngữ này cũng
không được quy định nhất quán.

18


Tùy theo góc độ tiếp cận của mỗi ngành khoa học mà người ta đưa ra
các định nghĩa khác nhau về thanh niên.
Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác
định trong quá trình tiến hoá của cơ thể, trong đó thấy rõ sự cường tráng về thể
lực, sự phát triển về trí tuệ, sự trưởng thành về sinh dục, tính dục.
Các nhà tâm lý học lại thường nhìn nhận thanh niên gắn với những quy
luật biến đổi, phát triển tâm lý lứa tuổi và thế hệ như sự phát triển khả năng

1.1.3. Lý tưởng của thanh niên
Cuộc sống luôn đặt ra cho mỗi người, nhất là đặt ra cho lớp trẻ nhiều
câu hỏi cần phải giải đáp. Một trong những câu hỏi lớn nhất là mục đích sống,
nói một cách dễ hiểu và gần gũi hơn là sống để làm gì? Hoặc nói một cách phổ
biến như hiện nay: lý tưởng mà thanh niên đang phấn đấu là gì?
Lý tưởng gắn bó với thanh niên như ánh sáng mặt trời với cuộc sống
như chính sự đòi hỏi tự thân. Nó có vai trò quan trọng và quyết định đối với
tuổi trẻ. Trước hết, tuỳ vào lứa tuổi, thanh niên bao giờ cũng sống với những
ước mơ, hoài bão, bao giờ cũng mang trong mình tâm lý hướng tới cái cao đẹp
và họ luôn cần đến một điểm tựa tinh thần để giúp mình vượt qua những khó
khăn, thử thách. Điều mà thanh niên sợ nhất như Kalinin - nhà giáo lớn của
nước Nga đã nói là sự "trống rỗng trong tâm hồn, sự hẫng hụt trong định
hướng". Ngay từ tuổi thiếu niên, lúc đang còn sống trong vòng tay của gia đình
cho đến khi bước đến trường tiếp nhận những kiến thức về xã hội, nhân văn,
khoa học kỹ thuật…lớp trẻ đã phải trả lời câu hỏi: học để làm gì? Một câu trả
lời tưởng chừng như đơn giản những mỗi lúc, mỗi thời kỳ lại có cách trả lời
không giống nhau.
Trong chế độ cũ, cha mẹ khuyên con cái học để ra làm quan, học để
không phải chân lấm tay bùn, để mưu lợi cho bản thân và gia đình…, chung
quy lại là vì lợi ích cá nhân. Đó cũng là một mục đích sống hẹp hòi, ích kỷ mà
thực dân phong kiến đã gieo cho thanh niên như trong thư gửi cho thanh niên
Bác Hồ đã đề cập.

20


Trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Pháp, người anh hùng trẻ tuổi Lý
Tự Trọng đã hi sinh cho lý tưởng cách mạng cao đẹp. Nếu như thế hệ cha anh
biến nhà tù thực dân thành trường học cách mạng thì câu nói khẳng khái và
anh dũng của anh Lý Tự Trọng đã biến phiên tòa đế quốc thành nơi hùng biện

người lý tưởng đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng để dần xóa đi khoảng cách.
Nhưng không phải chỉ tập trung vào những việc lớn lao mà quên đi những
hành động nhỏ nhoi đời thường. Với tính chất này, có thể nói, lý tưởng là một
phần của văn hóa – toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần của con người. Trong
thời đại ngày nay, kinh tế là khóa mà văn hóa là chìa. Một nghĩa cử đẹp là một
hành vi có văn hóa, xuất phát từ những việc làm giản dị. Đó là tấm lòng hướng
về nơi bão lũ Tây Nguyên và miền Trung bằng những hành động cụ thể; là
không xả rác ngoài đường; là giao tiếp lịch sự, không kì thị với những người
đã từng lầm lỡ, biết lắng nghe và chia sẻ với mọi người…Điều này đòi hỏi
thanh niên phải trung thực với chính bản thân mình.“Luật” cho bản thân là vô
cùng quan trọng, bởi con người ta không tránh khỏi sự phán xét của “tòa án
lương tâm”. Như vậy, sự quyết tâm của bản thân là yếu tố quyết định, có tính
chất cộng hưởng cùng với môi trường xã hội tác động đến lý tưởng và chuẩn
mực hành vi của con người.
Đất nước đã trải qua những năm tháng chiến tranh, do đó, lý tưởng độc
lập, tự do đòi hỏi sự hy sinh xương máu của nhiều thế hệ trẻ tuổi. Trong quá
trình vận động lớp lớp thanh niên đánh giặc, chúng ta có nhiều phong trào lớn
như: "Tòng quân giết giặc cứu nước", "Ba sẵn sàng", "Năm xung phong"…để
thực hiện lý tưởng độc lập, tự do, thống nhất đất nước.
Giờ đây, lẽ sống vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh” đã và đang đi vào cuộc sống của thanh niên qua con đường lập
thân, lập nghiệp, cống hiến cho Tổ quốc. Nói cách khác, đây chính là lý tưởng
phấn đấu không chỉ trước mắt mà còn rất lâu dài. Bởi lẽ, dân giàu, nước mạnh,
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước là công việc của nhiều thế hệ, trong
đó, mỗi thế hệ lại có mục tiêu cụ thể của mình.
Lý tưởng hiện nay của thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước là cần rèn luyện, phấn đấu và vươn lên thực hiện mục tiêu xây
dựng xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đó là
mục tiêu phấn đấu của mỗi thanh niên – người chủ tương lai của đất nước, là


cao cả, vừa là động lực mạnh mẽ thúc đẩy thanh niên hành động, mang tính
định hướng và tính lịch sử xã hội. Mỗi quốc gia, mỗi thời đại và giai đoạn lịch

23


sử đều xây dựng lý tưởng của thanh niên cho phù hợp với những yêu cầu mà
xã hội đạt ra.
1.1.4. Khái niệm “dân giàu, nước mạnh”
Nội hàm khái niệm “dân giàu, nước mạnh” đã được Hồ Chí Minh nhắc
đến trong nhiều bài báo, bài nói chuyện. Tuy nhiên, phải đến Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần VII, Đảng ta mới đưa khái niệm này vào trong Văn kiện: “Phát
triển kinh tế - xã hội theo con đường củng cố độc lập dân tộc và xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên
hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá, có kỷ cương,
xoá bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc”.
Trước đó, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Đảng ta cũng đã có
những quan điểm chỉ đạo nói lên tầm quan trọng của CNXH, và khẳng định
chỉ có CNXH mới làm cho đất nước ta vững chắc hơn, dân ta giàu hơn: “Ngày
nay, nước nhà đã hoàn toàn độc lập thì Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là một.
Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới làm cho nhân dân ta vĩnh viễn thoát khỏi nghèo
nàn, lạc hậu, có cuộc sống văn minh, hạnh phúc. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới
đem lại cho nhân dân ta quyền làm chủ đầy đủ, mới làm cho Tổ quốc ta độc
lập, tự do vững chắc và ngày càng giàu mạnh”. Khái niệm “dân giàu, nước
mạnh” đã được nhắc đến trong nhiều văn kiện như văn kiện Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần VIII, IX, X, XI của Đảng. Đây cũng chính là mục tiêu xây dựng
đất nước trong thời công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà Đảng ta đã xác định:
“xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn
minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội

cuộc sống dồi dào về vật chất cho mọi người, mà xã hội đó còn phải thể hiện ở
sự tương quan tốt đẹp giữa con người và con người, ở sự công bằng, ở một đời
sống tinh thần phong phú, qua sự đánh giá bằng nhân phẩm, trí tuệ, đạo đức
của con người với xã hội và với đất nước.
Mặt khác, “Dân giàu, nước mạnh” còn nhấn mạnh đến quan niệm dân là
gốc của nước và nước mạnh là do dân. Khi lấy dân làm gốc của nước tức là
dân lập nên nước, và dân quy định lấy những cơ chế để bảo vệ và ổn định xã
hội và phát triển. Xét cho cùng, quan niệm “Dân giàu, nước mạnh” là lấy con

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status