Cơ sở lý luận về lao động việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa , hiện đại hóa - Pdf 22

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Ch ơng i
cơ sở lý luận về lao động việc làm và chuyển dịch cơ cấu
lao động trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá
I/ những vấn đề lý luận cơ bản về lao động, việc làm
1. Lao động và thị tr ờng lao động
1.1. Lao động
Lao động là hành động của con ngời diễn ra giữa ngời với tự nhiên. Trong quá
trình lao động, con ngời vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể tác động vào giới tự
nhiên chiếm giữ những vật chất trong giới tự nhiên, biến đổi những vật chất đó làm cho
chúng trở nên có ích cho đời sống của mình.
Ngày nay, khái niệm lao động đã đợc mở rộng. Lao động là hoạt động có mục
đích, có ích cho con ngời tác động lên giới tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật
chất cho bản thân và cho xã hội. Lao động là điều kiện không thể thiếu đợc của đời sông
con ngời, làm cho con ngời ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn. Lao động làm cho
con ngời mang tính sáng tạo ngày càng cao.
Bất kỳ một xã hội nào muốn tồn tại và phát triển đều phải không ngừng phát triển
sản xuất. Điều đó có nghĩa là lao động mãi mãi là nguồn gốc và động lực phát triển xã
hội. Không có lao động thì không thể có sự tồn tại của đời sống cá nhân cũng nh xã hội
loài ngời nói chung. Bởi vậy xã hội càng văn minh thì tính chất, hình thức và phơng
pháp tổ chức lao động càng tiến bộ.
Đối với Việt Nam, khi đất nớc đang ở trong thời kỳ công nghiệp hoá-hiện đại hoá
và nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc thì lý luận lao
động đợc đánh giá ở nhiều khía cạnh, cụ thể là:
Trớc hết, lao động vẫn đợc coi là phơng thức tồn tại của con ngời, nhng vấn đề
đặt ra là lợi ích con ngời phải đợc coi trọng. Lợi ích đó không chỉ bao hàm lợi ích vật
chất mà còn cả lợi ích tinh thần. Bởi vì lao động là biểu hiện bản chất của con ngời, còn
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lợi ích lao động là vấn đề nhạy cảm nhất nhất của con ngời, là nhân tố thấm sâu, phức
tạp trong quan hệ giữa con ngời với con ngời, giữa cá nhân với xã hội.

ớc phát triển, lực lợng lao động thờng có chất lợng tốt thể hiện ở sức khoẻ và trình độ
chuyên môn nghiệp vụ rất cao, còn ở các nớc có nền kinh tế yếu hơn thì lực lợng lao
động rất dồi dào nhng chất lợng lao động còn thấp.
1.3. Thị tr ờng lao động
Theo Adam Smith: thị trờng lao động là biểu hiện quan hệ trao đổi diễn ra giữa
một bên là ngời lao động với một bên là ngơì muốn sử dụng lao động dựa trên nguyên
tắc thoả thuận mua và bán sức lao động thông qua hợp đồng lao động. Nh vậy, có thể
coi lao động nh hàng hoá và dịch vụ khác đợc mua bán trên thị trờng. Các nhà kinh tế
cho rằng thị trờng hoàn hảo là thị trờng mà ở đó các hàng hoá đợc phân phối một cách
có hiệu quả thông qua giá cả. Nhng ở mọi nơi, nhất là ở những nớc đang phát triển, thị
trờng lao động đều cha hoàn hảo.
Nói đến thị trờng lao động tức là đề cập đến toàn bộ các quan hệ về lao động diễn
ra trong nền kinh tế, bao gồm trao đổi (hay mua bán, thuê mớn) giữa ngời lao động tự
do và ngời sử dụng lao động dựa trên cơ sở các quy định ràng buộc nh tiền công, tiền l-
ơng, thời gian lao động, điều kiện lao động, thoả thuận về quyền lợi của hai bên. Về cơ
bản thị trờng lao động đợc tạo thành từ ba bộ phận chính đó là cung , cầu của thị trờng
lao động và giá cả sức lao động hay mức tiền công, tiền lơng mà tại đó ngời sở hữu sức
lao động đồng ý làm việc. Trên thực tế, sự vận động của thị trờng lao động diển ra rất
phức tạp và việc phân tích ba bộ phận trên đây đặc biệt cần thiết cho việc xây dựng
chính sách thị trờng lao động.
ở nớc ta thị trờng lao động đang trong quá trình hình thành và mang những đặc
điểm về thị trờng lao động của một nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch tập trung sang
kinh tế thị trờng. Luật lao động ban hành năm 1994 là một bớc tiến lớn trong việc xây
dựng thị trờng lao động trong quá trình chuyển đổi kinh tế. Bộ luật này đã đề cập đến
các vấn đề cơ bản của thị trờng lao động nh tiền công, tiền lơng tối thiểu, các quan hệ
lao động, tự do lựa chọn nghề nghiệp và nơi làm việc, xoá bỏ dần t tởng củ chỉ làm
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
việc trong khu vực nhà nớc... Ngoài ra rất nhiều văn bản liên quan đến quan hệ lao động
cũng đã đợc ban hành nhằm bảo vệ ngời lao động. Trớc yêu cầu của việc hoạt động

động lực, sáng tạo trong lao động. Thứ ba, chất lợng của lao động nớc ta còn thấp thể
hiện rõ qua trình độ văn hoá và cơ cấu trình độ đào tạo của lao động tham gia hoạt động
kinh tế.
Cơ cấu ngành nghề đào tạo của lực lợng lao động cũng là một yếu tố xác định
khả năng về cung lao động. Cơ cấu này phản ánh các ngành nghề đợc đào tạo có đáp
ứng nhu cầu và cơ cấu ngành nghề mà nền kinh tế cần hay không. Tuy nhiên, thực tế
cho thấy cha có sự gắn kết giữa ngành nghề đào tạo và cầu về ngành nghề nền kinh tế
đòi hỏi, dẫn đến tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao động có đào tạo. Sự bất hợp lý về cơ
cấu trình độ chuyên môn, cơ cấu ngành nghề trong những năm qua đã ảnh hởng lớn tới
sự vận hành của thị trờng lao động mới hình thành và thực hiện mục tiêu chiến lợc phát
triển kinh tế - xã hộ ở nớc ta.
Các phân tích rất khái quát trên đây cho thấy cung về lao động có tầm quan trọng
đặc biệt không chỉ theo nghĩa hẹp của thị trờng lao động mà nó còn ảnh hởng tới toàn
bộ nền kinh tế. Chính vì vậy, từ giữa thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của lý thuyết
tăng trởng kinh tế mới, phát triển nguồn nhân lực là một trong các mục tiêu hàng đầu
của các quốc gia. Để đánh giá sự phát triển nguồn lực con ngời của một nớc, trên thế
giới hiện nay đang sử dụng chỉ số phát triển nguồn nhân lực ( HDI ). Chỉ số này đợc xác
định dựa trên 4 chỉ số sau đây: 1)Tuổi thọ trung bình; 2)Tỉ lệ ngời biết chữ; 3)Tỉ lệ học
sinh đến trờng các cấp; 4)GDP thực tế trên đầu ngời tính theo phơng pháp PPP. Hai
trong bốn chỉ số trên là tỉ lệ ngời biết chữ và tỉ lệ học sinh đến trờng các cấp có liên
quan đến cung của thị trờng lao động. Theo báo cáo phát triển nguồn nhân lực của ch-
ơng trình phát triển của liên hợp quốc, giá trị HDI của Việt Nam năm 1998 là 0,664 xếp
thứ 110 trong số 174 nớc trên thế giới, mặc dù đã có những tiến bộ nhng vẫn còn khác
xa các nớc trong khu vực nh Inđônêxia (xếp thứ 105), Philipin (77), Thái Lan (65),
Malaixia (56), Brunây(25), Xingapo (22). Qua chỉ số HDI chúng ta cũng phần nào đánh
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
giá đợc cung về thị trờng lao động của nớc ta trong sự so sánh với các nớc trong khu vực
và các nớc trên thế giới.
Về cầu của thị trờng lao động là đòi hỏi đặt ra đối với thị trờng lao động về số và

liệu chính thức, số lao động từ nông thôn ra thành thị năm 1998 giảm 1.733.241 ngời so
với năm 1996. Cùng với nhịp độ giảm sút kinh tế năm 1998, tỷ lệ thất nghiệp chính thức
và số ngời thiếu việc làm ở thành thị tăng lên đã làm giảm cơ hội có đơcj số việc làm
cho số dân nông thôn ra thành thi tìm việc.
Trớc những diễn biến nêu trên, vấn đề giải quyết việc làm đợc Chính phủ đặc biệt
quan tâm và đã thực hiện nhiều biện pháp dài hạn và biện pháp ngắn hạn.
Tóm lại, trong giai đoạn vừa qua chúng ta đã quan tâm giải quyết cả hai vế cung
và cầu lao động, nhng chú trọng hơn tới biện pháp giảI quyết việc làm. đIều này thể
hiện tính cấp bách tạo công ăn việc làm và thu nhập cho ngời lao động. Tuy nhiên cùng
với quá trình đổi mới nền kinh tế, nếu cứ tiếp tục cách tiếp cận nh trên sẽ không đáp ứng
đợc nhu cầu lao động cho phát triển kinh tế ở nớc ta trong giai đoạn tới. Vì vậy, trong
thời gian tới, một mặt cần tạo việc làm cho ngời lao động nhng cũng đồng thời cần nâng
cao chất lợng của nguồn lao động.
2. Việc làm
Dân số đông tạo nguồn lao động dồi dào biểu hiện một tiềm năng phong phú, có
thể huy động vào việc thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển. Nhng mặt khác, nguồn
lao động dông đảo có thể gây nên tình trạng cản trở cho sự phát triển kinh tế.
Khi nguồn lao động đợc huy động, sử dụng hiệu quả thì tình trạng thiếu việc làm
sẽ xảy ra, dẫn đến thu nhập ngời lao động thấp, giảm mức sống con ngời. Đồng thời đó
cũng là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội, thậm chí tạo ra các xung đột gây rối
loạn về mặt an ninh chính trị... Chính vì vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm, nâng cao mức
sống, xoá đói giảm nghèo trở nên có ý nghĩa to lớn, đợc quan tâm trong các mô hình
phát triển hiện nay ở mọi quốc gia, đặc biệt là ở các nớc đang phát triển.
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Để giải quyết vấn đề này cần phải hiểu rõ về vấn đề việc làm. Tuỳ theo cách tiếp
cận mà ngời ta có những định nghĩa khác nhau về việc làm.
ở Việt Nam Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 đã xác định: Mọi hoạt động
tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đợc thừa nhận là việc làm. Với khái
niêm về việc làm nh vậy thì hoạt động đợc xác định là việc làm bao gồm:

RF
Trong đó : UR là tỷ lệ thất nghiệp (%)
U là tổng số thất nghiệp
LF là tổng lực lợng lao động
Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau, ngời ta chia thất nghiệp ra thành nhiều
loại. ở các nớc đang phát triển, ngời ta dùng khái niệm thất nghiệp hữu hình và thất
nghiệp trá hình. Thất nghiệp trá hình gồm bán thất nghiệp và thất nghiệp vô hình. Ngòi
ta cho rằng thất nghiệp trá hình là biểu hiện chính của tình trạng cha sử dụng hết lao
động ở các nớc đang phát triển. Họ là những ngời có việc làm trong khu vực nông thôn
hoặc thành thị không chính thức nhng việc làm đó có năng suất rất thấp, những ngời này
đóng góp rất ít hoặc không đáng kể vào phát triển sản xuất.
Tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao sẽ có ảnh hởng không tốt đến cả tình hình kinh tế và
xã hội.
Về mặt kinh tế, khi mức thất nghiệp cao, một bộ phận ngời lao động và tài
nguyên sẽ bị lãng phí vì không kết hợp đợc hài hoà giữa sức lao động và tài nguyên
thiên nhiên. Do đó ảnh hởng đến sự tăng trởng và phát triển của nền kinh tế, thu nhập
quốc dân và thu nhập của các tầng lớp dân c trong xã hội tăng chậm, thậm chí giảm sút.
Về mặt xã hội, khi mức thất nghiệp cao sẽ làm tăng các tệ nạn xã hội, cuộc sống
tinh thần của con ngời luôn ở trạng thái căng thẳng, làm xói mòn nếp sống lành mạnh,
có thể phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống, gây tổn thơng về tâm lý và niềm tin của
nhiều ngời.
Trong nền kinh tế thất nghiệp là hiện tợng kinh tế khách quan, ngời ta chỉ có thể
hạn chế tỷ lệ thất nghiệp chứ không loại bỏ đợc nó.
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Vì vậy, trong chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2005 Đảng ta
đã xác định: Giải quyết việc làm, sử dụng tối đa nguồn lực lao động xã hội là mục tiêu
quan trọng hàng đầu của chiến lợc, là một tiêu chuẩn để định hớng cơ cấu kinh tế và lựa
chọn công nghệ ở nớc ta hiện nay.
II/ một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu lao động - mô

là mức cung vốn không đổi trong giai đoạn tăng trởng ban đầu của khu
vực hiện đại. Đờng cầu lao động đợc xác định bởi sản phẩm cận biên giảm dần, biểu thị
bằng đờng

D
1
(K
1
). Vì các ông chủ của khu vực hiện đại với chủ trơng tối đa hoá lợi
nhuận đợc giả định là sẽ thuê lao động cho tới điểm mà sản phẩm cận biên bằng với
mức lơng thực tế ( tức là giao điểm F giữa đờng cung và đờng cầu lao động) nên toàn bộ
số lao động ở khu vực hiện đại sẽ là OL
1
. Tiền lơng trả cho công nhân là OW. Khi đó
tổng số tiền lơng bằng diện tích OWFL
1
và sản lợng thặng d bằng diện tích WD
1
F, đây
11
L1 L2 L3
L
I
O
A
W
D1
D2
D3
Lợi nhuận

tổng lơng là OWGL
2
và lợi nhuận là WD
2
G. Một lần nữa lợi nhuận tăng lại tái đầu t
khiến cho tổng số vốn tăng lên K
3
làm cho cầu lao động dịch chuyển lên D
3
(K
3
) và làm
tăng mức sử dụng nhân công lên L
3
.
Quá trình tăng trởng và lấy thêm công nhân trong khu vực hiện đại đợc giả định
là sẽ tiếp tục tăng cho đến khi toàn bộ số lao động d thừa ở nông thôn đợc khu vực
công nghiệp thành thị hấp thụ hết. Sau đó đờng cung lao động sẽ dốc lên và cả mức lơng
thành thị lẫn số công nhân sẽ tiếp tục tăng. Đây là thời điểm hoàn tất công cuộc chuyển
đổi cơ cấu của nền kinh tế và quá trình hiện đại hoá công nghiệp thống trị toàn bộ hoạt
động của nền kinh tế.
Mặc dù mô hình phát triển của Lewis - Fei - Ranis vừa đơn giản vừa tơng đối phù
hợp với thực tế trớc đây của công cuộc phát triển kinh tế ỏ phơng Tây nhng nó có ba giả
định then chốt khác biệt so với tình trạng thấp kém phát triển hâù hết ở các nớc thuộc
thế giới thứ ba:
Thứ nhất, mô hình này ngầm giả định rằng, tốc độ thuyên chuyển lao động và
công ăn việc làm tỷ lệ thuận với tốc độ tích luỹ vốn. Vấn đề là nếu các khoản lợi nhuận,
thặng d, t bản lại không tái đầu t vào trang thiết bị, tiết kiệm sức lao động tinh, chứ
không đơn thuần chỉ bổ sung thêm vào số vốn hiện có nh mô hình ngầm định.
Thứ hai, mô hình này giả định rằng lao động ở vùng nông thôn là d thừa. Trong

thực nó lại có những tác động quan trọng về mặt chính sách đối với chiến lợc phát triển
liên quan đến mức lơng và thất nghiệp, sự phát triển nông thôn và công nghiệp hoá.
Những tác động này bao gồm:
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tình trạng mất cân đối trong các cơ hội về công ăn việc làm giữa nông thôn và
thành thị.
Vì theo giả định thì những ngời di c sẽ hành động theo xu hớng chênh lệch trong
thu nhập dự kiến nên một điều quan trọng là phải giảm tới mức thấp nhất tình trạng mất
cân đối trong các cơ hội về kinh tế ở nông thôn và thành thị. Nếu ta xác định mức lơng
dự kiến ở thành thị bằng cách lấy mức lơng thực tế Wu nhân với xác suất tìm việc làm
ở thành thị Pu (Pu = Số công việc ở thành thị Eu/lực lợng lao động ở thành thị Lu) sao
cho mức chênh lệch thu nhập dự kiến giữa nông thôn và thành thị là Wu(EU/Lu) - Wr,
thì chênh lệch giữa mức lơng thực tế ở nông thôn và thành thị là Wu - Wr càng lớn bao
nhiêu thì tỷ lệ có việc làm ở thành thị Eu/Lu càng phải thấp bấy nhiêu để chấm dứt tình
trạng số ngời di c vợt quá số cơ hội công ăn việc làm.
Vậy có thể kết luận việc cho phép lơng ở thành thị tăng với tốc độ cao hơn so với
mức thu nhập trung bình ở nông thôn sẽ khuyến khích thêm việc di c từ nông thôn ra
thành thị bất chấp tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị ngày càng tăng. Dòng ngời di c đông đảo
này không những là nguyên nhân của nhiều vấn đề kinh tế xã hội ở thành phố mà cũng
có thể tạo ra tình trạng thiếu lao động ở nông thôn đặc biệt là vào mùa vụ.
Tạo công ăn việc làm cho thành thị là một giải pháp cha đầy đủ cho vấn đề thất
nghiệp ở thành thị. Giải pháp kinh tế truyền thống (theo kiểu Keynes) cho rằng vấn đề
thất nghiệp ở thành thị mà không cải thiện thu nhập và các cơ hội công ăn việc làm ở
nông thôn có thể dẫn đến một tình thế nghịch lý trong đó nhiều công việc ở thành thị
hơn sẽ dẫn đến mức thất nghiệp ở thành thị và nông thôn cao hơn. Theo giả thiết, tỷ lệ di
c tăng lên theo cả mức lơng và số cơ hội công ăn việc làm ở thành thị cho nên đối với
bất kỳ một mức chênh lệch về lơng giữa nông thôn và thành thị, số công ăn việc làm ở
thành thị tăng lên sẽ mở rộng mức chênh lệch dự kiến và còn kích thích nhiều ngời dời
nông thôn ra thành thị. Mỗi công việc mới tạo thêm lại có thể hấp dẫn hai đến ba ngời di

Tuy nhiên, việc xác định phải mau chóng có chính sách nhằm hạn chế làn sóng
ngời di c từ nông thôn không đồng nghĩa với việc tìm cách đảo ngợc cái mà một số ngời
gọi là những xu hớng lịch sử tất yếu. Ngợc lại, điều mà mô hình di c Todaro muốn
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nói là cần có một tập hợp các chính sách để không làm trầm trọng thêm những xu hớng
đô thị hoá nói trên của lịch sử thông qua việc tạo ra một cách giả tạo những mất cân
bằng nghiêm trọng trong các cơ hội kinh tế giữa nông thôn và thành thị.
3. Mô hình hai khu vực của H.Oshima
H.Oshima cho rằng đặc điểm chủ yếu của các nớc Châu á là lúa nớc, gió mùa, có
sự d thừa lao động trong nông nghiệp song khác với các nớc Âu Mỹ đó là lao động vừa
thừa vừa thiếu theo thời vụ. Vì thế trong chiến lợc phát triển kinh tế Oshima cho rằng
trong giai đoạn đầu phát triển nông nghiệp, giai đoạn sau có sự tác động qua lại giữa
nông nghiệp - công nghiệp và giai đoạn cuối thì phát triển công nghiệp, dịch vụ tức là
nhấn mạnh nông nghiệp trớc, công nghiệp sau.
Cụ thể bớc đầu tạo ra việc làm thêm cho lao động ở nông thôn trong thời kỳ
nông nhàn bằng cách tăng vụ, đa dạng hoá các loại cây trồng... Trong giai đoạn này,
nông nghiệp cần có sự hỗ trợ nhất định về giáo dục, giao thông, tín dụng, thuỷ lợi nhng
không cần đầu t nhiều. Kết quả làm tăng sản lợng trong nông nghiệp dẫn đến tăng thu
nhập của nông dân từ đó tăng nhu cầu về hàng tiêu dùng và là điều kiện bớc đầu phát
triển công nghiệp hàng tiêu dùng.
Bớc hai giải quyết việc làm trong nông thôn bằng cách phát triển thủ công mỹ
nghệ, dịch vụ nông thôn, chế biến...Sự phát triển này đòi hỏi có sự phát triển đồng bộ:
sản xuất - vận chuyển - tiêu thụ. Bên cạnh đó khu vực nông nghiệp tiếp tục sản xuất, họ
có nhu cầu cao về phân bón và các công cụ lao động bắt đầu có sự di chuyển lao động
nông nghiệp ra thành thị phục vụ cho phát triển công nghiệp, dịch vụ. Đây là một giai
đoạn dài sự di chuyển dần dần đến khi thị trờng lao động bị thu hẹp.
Bớc ba giai đoạn có việc làm đầy đủ. Khi lao động nông nghiệp chuyển dần ra
thành phố đồng thời với thu nhập trong nông thôn tăng lên có nhu cầu cơ giới hoá nông
nghiệp và việc cơ giới hoá này cho phép giải phóng một lợng lớn lao động nông nghiệp.

vụ này đã đợc đặt ra từ năm 1960. Đối với Việt Nam, công nghiệp hoá ở những năm 90
khác căn bản so với công nghiệp hoá ở những năm 60 trên các mặt:
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
+ Công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá.
+ Công nghiệp hoá tiến hành trong điều kiện phát triển nền kinh tế mở với các n-
ớc thuộc các chế độ chính trị khác nhau, đa dạng hoá và đa phơng hoá các quan hệ đối
ngoại.
+ Công nghiệp hoá-hiện đại hoá đợc thực hiện theo cơ chế thị trờng có sự quản lý
của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam hiện nay còn là một nớc dựa trên sản xuất nông nghiệp là chủ yếu (sản
xuất nông nghiệp chiếm 27,2% tổng sản phẩm trong nớc; 80% dân số ở nông thôn), do
đó để thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nớc thì công nghiệp hoá-hiện đại hoá
nông nghiệp nông thôn chiếm vị trí quan trọng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã
xác định: Nội dung cơ bản của công nghiệp hoá-hiện đại hoá trong những năm còn lại
của thập kỷ 90 là: đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn.
Công nghiệp hoá nông thôn là một quá trình phát triển kinh tế xã hội mà nội
dung chủ yếu của nó là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội ở nông thôn gắn liền với
đổi mới công nghệ theo hớng công nghiệp và dịch vụ - là những ngành kinh tế ngày
càng chiếm vị trí quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong kinh tế nông thôn.
Hiện đại hoá nông thôn có nghĩa là nói về tiến bộ kỹ thuật, công nghệ trong sản
xuất và văn minh tiến bộ trong đời sống vật chất tinh thần cũng nh lối sống ở nông thôn.
Công nghệ tiến bộ hơn về chất và công nghệ đó có trình độ hiện đại hơn so với công
nghệ hiện có, đời sống và lối sống đợc nâng cao và văn minh hơn thì đó chính là quá
trình hiện đại hoá. Với ý nghĩa nh vậy: công nghiệp hoá sẽ gắn liền với hiện đại hoá và
hiện đại hoá chỉ tiến hành thực hiện đợc khi tiến hành công nghiệp hoá.
1.2. Mục tiêu của công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở nông thôn.
+ Giải quyết việc làm cho lao động d thừa ở nông thôn, nâng cao thu nhập và
mức sống cho dân c nông thôn.

dụng sức lao động để khai thác, cải biến chúng phục vụ cho mục đích của con ngời. Khi
ngời lao động có việc làm sẽ mang lại thu nhập cho bản thân họ và từ đó tạo tích luỹ,
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nhà nớc không những không phải chi trợ cấp cho những ngời nghèo không có việc làm
mà khi giải quyết việc làm cho họ, họ có thể mang lại tích luỹ cho nền kinh tế quốc
dân. Tăng tích luỹ sẽ giúp cho sản xuất đợc mở rộng, thu hút thêm nhiều lao động.
Về mặt lợi ích, khi ngời lao động có thu nhập sẽ làm tăng sức mua của khu vực
nông nghiệp nông thôn trong tổng sức mua của xã hội. Theo thống kê cho thấy lao động
nông thôn chiếm khoảng 76% tổng số lao động cả nớc và nếu tính theo đóng góp GDP
thì sức mua của khu vực nông nghiệp nông thôn ớc tính chiếm hơn 40% tổng sức mua
của toàn xã hội.
Việc tăng tiêu dùng có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam hiện nay. Bởi vì Việt
Nam là một thị trờng tơng đối lớn mà đặc biệt là khu vực nông thôn, dân số tập trung
cao (80% dân số) nhng cha khai thác đợc nhiều. Nếu mức tiêu dùng của khu vực này
tăng có tác động rất lớn đến sự phát triển của các ngành sản xuất trong nớc, đặc biệt là
những ngành sản xuất phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
Nh vậy, việc giải quyết việc làm cho ngời lao động nông thôn vừa có tác dụng
làm tăng tích luỹ, vừa có tác dụng làm tăng tiêu dùng. Tăng tích luỹ sẽ giúp cho sản
xuất đợc mở rộng, tức là tác động đến tổng cung; tăng tiêu dùng sẽ làm cho tổng cầu
của nền kinh tế tăng lên kích thích sự phát triển của sản xuất từ đó thúc đẩy sự tăng tr-
ởng của nền kinh tế.
2.2. Về mặt xã hội
Bên cạnh những cản trở gây ra cho nền kinh tế, thất nghiệp đồng thời là nguyên
nhân của các tệ nạn xã hội. Số lao động tăng thêm khoảng trên 1 triệu ngời/năm, số ngời
thất nghiệp hoàn toàn cha đợc giải quyết. Trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá,
do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sắp xếp lại các doanh nghiệp, số lao động dôi ra
phải timf việc làm mới khoảng 3 triệu ngời.
Vấn đề tệ nạn xã hội nảy sinh từ nhiều nguyên nhân, song một nguyên nhân
không kém phần quan trọng đó là do thất nghiệp. Bởi vì trong lực lợng lao động, tầng

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nh vậy, việc giải quyết việc làm cho ngời lao động ở nông thôn là rất quan trọng
bởi nếu có chính sách giải quyết cho khu vực này ngày càng giàu mạnh thì sẽ làm cho
quá trình đổi mới kinh tế của chúng ta càng thêm bền vững.
IV. Kinh nghiệm giải quyết việc làm ở nông thôn trong
quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá của một số n ớc trên
thế giới
1 .Đài Loan
Khi bớc vào công nghiệp hoá nền kinh tế, Đài Loan đã lựa chọn mô hình công
nghiệp hoá không chỉ tập trung ở đô thị mà còn mở mang cả ở nông thôn. Công nghiệp
hoá ở Đài Loan đi từ nông nghiệp ngay từ đầu đã kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp với
nông nghiệp, đồng thời phát triển cả công nghiệp đô thị và công nghiệp nông thôn với
những nội dung, hình thức thích hợp đan xen nhau.
Trong nông nghiệp, ngay từ những năm 50, kinh tế trang trại đợc hình thành. Nhà
nớc rất chú trọng khuyến khích tạo điều kiện cho mô hình kinh tế trang trại ở nông thôn
phát triển thông qua những biện pháp tích cực để hiện đại hoá nông nghiệp. Đó là tác
động công nghệ sinh học và cây trồng vật nuôi. Do vây, năng suất đã tăng lên rõ rệt. Sản
xuất nông nghiệp ở Đài Loan đợc hiện đại hoá cao cả về điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá
học hoá và cơ giới hóa trong các khâu sản xuất. Máy móc sử dụng trong nông nghiệp là
các loại máy nhỏ phù hợp với điều kiện sản xuất của trang trại quy mô nhỏ. Năm 1990,
98% diện tích canh tác, 95% diện tích lúa, 70% lợng ngũ cốc đợc sử dụng máy móc.
Đài Loan đã xây dựng đợc các xí nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng nông thôn. ở Đài
Loan, năm 1993, có trên 700.000 xí nghiệp vừa và nhỏ chiếm 98% tổng số xí nghiệp và
60% tổng số lao động của ngành công nghiệp. ậ các làng xã Đài Loan, các ngành nghề
tiểu thủ công nghiệp đợc mở mang. Các xí nghiệp gia đình cũng đợc hình thành. Kinh tế
dịch vụ hàng tiêu dùng, vật t kỹ thuật cho nông nghiệp cũng rất phát triển .
Trong qúa trình công nghiệp hoá nông thôn, công nghiệp chế biến nông sản, thực
phẩm vừa đáp ứng yêu cầu phục vụ nông nghiệp tại chỗ vừa thu hút lao động địa phơng
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

nghiệp, công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn.
Về nông nghiệp, sản xuất lúa đợc cơ giới hoá 90% khâu làm đất, 50% khâu tới n-
ớc, 90% khâu đập tuốt lúa và 10% khâu sẩy hạt. Diện tích sản xuất mía, cơ giới khâu
làm đất đạt 100%, trồng mía đạt 75%, chế biến đờng đạt 100%. Máy móc phục vụ sản
xuất nông nghiệp tăng nhanh. Năm 1957, số lợng máy kéo là 250 cái, năm 1967 là
19.500 cái, năm 1992 là 1.084.331 cái. Nhìn chung, đến năm 1993, cơ giới hoá nông
nghiệp đã đạt đợc một số kết quả quan trọng, chi phí lao động làm đất giảm xuống từ
875 giờ công/1ha xuống 613 giờ công với máy kéo nhỏ loại hai bánh và 452 giờ
công/1ha với loại máy kéo bốn bánh.
Về điện khí hoá, trong nông nghiệp nông thôn cũng có những tiến bộ, năm 1991,
Thái Lan có 58.044 làng có điện trong tổng số 64.205 làng đạt tỷ lệ 94%.
Để khuyến khích nông nghiệp nông thôn phát triển, Nhà nớc đã có một số chính
sách, biện pháp hỗ trợ, cung cấp vốn tín dụng, bồi dỡng tay nghề, tạo mối quan hệ hợp
đồng gia công giữa công nghiệp nhỏ và công nghiệp lớn. Do vậy, các ngành nghề thủ
công truyền thống, ngành nghề mới chế biến nông phẩm, cơ khí nhỏ và các loại hình
dịch vụ thơng mại, tín dụng cũng phát triển tạo thêm nhiều việc làm cho lao động nông
thôn đồng thời di chuyển lao động từ nông nghiệp sang các ngành sản xuất ngoài nông
nghiệp.
Nhìn chung công nghiệp hoá nông thôn ở Thái Lan đã đóng vai trò quan trọng
đối với sự phát triển của nông nghiệp. Thu nhập và đời sống nông dân tăng lên, giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn nhng nguồn thu nhập chủ yếu vẫn từ nông
nghiệp, thu từ các ngành kinh tế ngoài nông nghiệp còn thấp.
3. Nhật Bản
Sau năm 1945, nền kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề do chiến tranh. Dòng ng-
ời thất nghiệp từ thành thị đổ về nông thôn làm cho số hộ ở nông thôn tăng lên nhanh
chóng. Trớc năm 1945, số hộ ở nông thôn khoảng 5,5 triệu, năm 1960 là 6,18 triệu hộ.
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nhật Bản đã có chính sách và biện pháp nhằm thực hiện công nghiệp hoá nông thôn vừa
biến nền nông nghiệp cổ truyền kiểu Châu á thành nền nông nghiệp tiên tiến, vừa phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status