LỜI NÓI ĐẦU
Trong bất cứ thời đại nào, xét về nguyên tắc sự tăng trưởng, phát triển
kinh tế bao giờ cũng được quyết định bởi nhân tố con người nói chung và lực
lượng lao động nói riêng, bởi tăng trưởng và phát triển kinh tế tuỳ thuộc trước
hết vào năng lực, trí tuệ và ngành nghề của người lao động. Khi chúng ta đi vào
sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá thì nhân tố con người lại càng có vai
trò then chốt, quan trọng hơn các nhân tố khác.
Nước ta có nguồn lao động dồi dào, đó là một tiềm năng to lớn để phát
triển kinh tế - xã hội, đó là một thế mạnh. Tuy nhiên, nguồn lao động vẫn chưa
được sử dụng đầy đủ và có hiệu quả, cơ cấu lao động không hợp lý, chất lượng
nguồn lao động cũng như năng suất lao động xã hội còn thấp, tỷ lệ lao động
không có việc làm và thiếu việc làm còn khá cao.
Trong những năm gần đây lực lượng lao động Việt Nam tăng nhanh, với
mức cung về số lượng lao động lớn nhưng về cơ cấu lao động thì lại không hợp
lý và chất lượng lao động lại thấp, dẫn đến tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu lao
động, thừa lao động phổ thông, nhưng thiếu lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật. Nhìn chung trình độ văn hoá của lao động nước ta tương đối cao
nhưng đại bộ phận là không được qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ. Đến năm
2000 số người từ 15 tuổi trở lên không qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm
80%, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo mới chiếm 20% lực lượng lao động cả nước
(TS. Lê Duy Đồng - Thị trường lao động số 1 năm 2001).
Cơ cấu lao động bất hợp lý, vấn đề đặt ra trong thời kỳ hiện nay ở Viêt
Nam là phải chuyển dịch cơ cấu lao động giữa cả ba khu vực là: công nghiệp,
nông nghiệp, và dịch vụ, để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Với mục tiêu quan trọng của việc chuyển dịch cơ cấu lao động nên tôi đã
cân nhắc và tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nhằm chuyển dịch
cơ cấu lao động trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” để
góp phần đưa ra một cơ cấu lao động một cách hợp lý hơn góp phần phát triển
đất nước.
Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề là dựa trên thực tế đất nước những
một bộ phận trực tiếp của lực lượng sản xuất.
Khi phân tích tư liệu sản xuất, Mác đã chia thành đối tượng lao động và
tư liệu lao động. Đối tượng lao động là bô phận của giới tự nhiên mà lao động
của con người tác động vào làm thay đổi hình thái của nó cho phù hợp với mục
đích của con người. Nó trước hết là những sản phẩm có sẵn của bản thân giới
tự nhiên và những sản phẩm không có sẵn trong tự nhiên được con người tạo
ra. Tất cả các sản phẩm nói trên, kể cả các sản phẩm thuần tuý tự nhiên cũng
không thể chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác, nếu không có sự tác động
của lao động sáng tạo của con người. Bằng cách nào loài người tìm thấy và
khai thác sử dụng có hiệu quả những sản phẩm của giới tự nhiên? Bằng cách
nào con người có thể tạo ra những nguyên liệu mới cho quá trình sản xuất, mà
những nguyên liệu ấy trong tự nhiên không sẵn có? Câu trả lời duy nhất: đó
chính là nhờ vào sự lao động sáng tạo của con người - sự vật hoá của vai trò
nhân tố con người, sản phẩm mang ý nghĩa “người” của con người.
Tư liệu lao động là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền
dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động nhằm biến đối tượng lao
động thành sản phẩm thoả mãn nhu cầu của con người. Khi phân tích tư liệu
lao động, chúng ta thường nhấn mạnh khía cạnh kế thừa trong quá trình phát
triển nhiều hơn là sự sáng tạo ra cái mới. Để nhìn thấy sự liên kết giữa tư liệu
sản xuất với tư cách là sản phẩm của các lao động quá khứ tạo ra và lao động
sống hiện tại của con người.
Chính lao động sống của con người và những kỹ năng kinh nghiệm thành
thạo trong quá trình sử dụng công cụ và phương tiện lao động đã tham gia vào
quá trình lượng hoá các nhân tố ấy thành động lực vật chất. Mỗi thế hệ người
lao động là sản phẩm của lực lượng sản xuất do chính các thế hệ trước tạo ra,
đồng thời họ lại là chủ thể đóng vai trò tác động trực tiếp mà nếu thiếu nó thì
công cụ và phương tiện sản xuất trở thành vô nghĩa.
Qua sự phân tích ta thấy tư liệu sản xuất không phải là những vật vô tri,
mà có sự là kết tình của lao động sống trong quá khứ, nó chứa đựng kết quả của
lao động.
a/ Lao động tác động tới tổng cung (AS):
L, K, R, T GDP, GNP
Trong đó: L là lao động R là tài nguyên
K là vốn T là công nghệ
Vốn, lao động, công nghệ, và tài nguyên là những nhân tố không thể
thiếu được để tăng trưởng kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Dưới góc độ là yếu tố của quá trình tái sản xuất xã hội thì lao động là yếu tố
động nhất, đóng vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết định, vì lao động là yếu tố
đảm bảo cho sự kết hợp giữa các yếu tố kể trên.
Khoa học kỹ thuật tuy là một bộ phận của lực lượng sản xuất nhưng trình
độ của khoa học và công nghệ trước hết là một hình thức ý thức xã hội, tự nó
Hộp đen kinh tế
(sản xuất kinh doanh)
không thể tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Muốn khoa học
công nghệ trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, nhất thiết phải thông qua
hoạt động sáng tạo, tự giác và có ý thức của con người. Khoa học công nghệ
phải được con người vật hoá vào tất cả các công cụ, phương tiện, trang bị,
nguyên nhiên liệu của nền sản xuất. Chuyển hoá thành năng lực chuyên môn,
thao tác kỹ thuật, kỹ năng kỹ xảo của chính nhân tố người lao động. Nếu không
có yếu tố lao động thì khoa học công nghệ không thể phát huy tác dụng, không
thể trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Vốn và tài nguyên cũng vậy, nó không thể tự chuyển hoá thành sản phẩm
hữu ích cho con người được mà nó phải có vai trò tác động của người lao động,
nó phải được người lao động khai thác, sử dụng mới phát huy được tác dụng
của nó. Chẳng thế mà Ph. Ăng-ghen viết: “... Lao động là nguồn gốc của mọi
của cải... Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người
và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao
động đã sáng tạo ra bản thân con người”.
Như vậy, con người nói chung và người lao động nói riêng với tư cách là
chủ thể sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần. Để tồn tại và phát triển,
Trong đó:
W: Tiền lương của người lao động
R: Chí phí về thuê đất đai
Dp: Khấu hao
Tn: Thuế trực thu
Ti: Thuế gián thu
Pr: Lợi nhuận
Khi tiền công của người lao động tăng có nghĩa là chi phí sản xuất tăng,
phản ánh khả năng sản xuất tăng, GDP tăng.
GDP = C + I + G + (X - M)
Trong đó: C Là chi tiêu cá nhân
I Là đầu tư
G Là chi tiêu của chính phủ
X – M Là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu
Khi tiền công tăng, thì làm cho thu nhập có thể sử dụng của người lao
động tăng, dẫn đến khả năng chi tiêu của người lao động cũng tăng, đồng thời
tiết kiệm cho đầu tư tăng, tất cả các yếu tố đó đều làm tăng GDP, làm cho nền
kinh tế tăng trưởng.
Ngoài ra đối với các nước đang phát triển như nước ta hiện nay, thì
nguồn lao động là một lợi thế so sánh vì khi số lượng lao động nhiều thì tiền
công rẻ, chi phí lao động thấp, nên có thể phát triền những ngành nghề sử dụng
nhiều lao động, giá thành sản phẩm thấp hơn, nên tính cạnh tranh cao, tạo lợi
thế cho xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước.
2.3 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và yếu tố nguồn lực con người.
Chúng ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới - đẩy nhanh công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước - phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta căn bản trở
thành một nước công nghiệp. Trong chiến lược phát triển đó, Đảng và Nhà
nước rất coi trọng nguồn nhân lực. Coi phát triển nguồn nhân lực là chìa khoá
của sự thành công trong giai đoạn mới của cách mạng. Hơn thế phát triển
nguồn nhân lực lại còn là yếu tố quan trọng của sự phát triển nhanh và ổn định.
nước đó được nhanh hơn thuận lợi hơn. Những nghiên cứu mới nhất đã đi đến
kết luận rằng con người là nguồn vốn lớn nhất và quý nhất của xã hội, là yếu tố
quyết định nhất cho mọi quá trình kinh tế xã hội.
Trong nền kinh tế mới có sự giao lưu trên quy mô ngày càng lớn không
những hàng hoá và dịch vụ, giao lưu tiền tệ mà cả các yếu tố khác của quá trình
tái sản xuất giữa các quốc gia như vốn, công nghệ, trình độ quản lý,... Để có thể
tiếp thu có chọn lọc và sử dụng có hiệu qủa giao lưu của mọi yếu tố khác nhau
ấy, điều kiện tiên quyết là phải có lực lượng lao động có trình độ quản lý, có
trình độ chuyên môn kỹ thuật và có bản lĩnh vững vàng trước các thử thách của
nền kinh tế thị trường mở cửa. Chính ở đây nhân tố con người lại đóng vai trò
quyết định. Trong nền kinh tế mở, sự giao lưu hàng hoá ngày càng dễ dàng.
Nếu quốc gia nào có lực lượng lao động dồi dào và có trình độ thì đó là một lợi
thế so sánh của quốc gia đó khi gia nhập vào thị trường thế giới. Vì trong kết
cấu giá thành sản phẩm, chi phí tiền lương thấp thì sản phẩm có tính cạnh tranh
cao hơn và ngược lại, nếu quốc gia nào không có lực lượng lao động dồi dào và
không có trình độ thì đó là một khó khăn lớn cho quốc gia đó trong sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Tóm lại, qua sự phân tích ta thấy lực lượng lao động có vai trò quyết
định đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Song nguồn lao động này
được sử dụng đúng và có hiệu quả, phát huy được tiềm năng của lực lượng lao
động thì nó mới trở thành một lợi thế. Để làm được điều đó thì chúng ta cần
phải có những biện pháp, những chính sách, những chương trình hành động
như thế nào cho có khoa học để phát huy được lợi thế đó, nếu không nó sẽ trở
thành một rào cản cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
II. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO
ĐỘNG.
1. Cơ cấu lao động.
Cơ cấu lao động là tổng thể các bộ phận hợp thành nguồn lao động xã
hội và mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, cơ cấu lao động thể hiện ở số
lượng và chất lượng.
chuyên môn hoá cao giữa các ngành, các vùng, thực hiện sự phân công lao
động hợp lý. Mặt khác, cơ cấu cầu lao động xác định được: số lao động đang
được sử dụng, số chỗ làm việc còn trống và yêu cầu đối với người lao động khi
đảm đương công việc ở chỗ làm việc trống đó, số lượng người thất nghiệp và
có việc làm định hướng để có các chính sách phát triển, đầu tư hợp lý với cơ
cấu lao động, làm cho cơ cấu kinh tế phù hợp với cơ cấu lao động, giảm số
người thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động.
Dưới cơ chế nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cơ cấu lao động hình
thành chủ yếu là do sự áp đặt của nhà nước thông qua phân công bố trí lao động
xã hội, theo kế hoạch sản xuất từ trên giao xuống. Trong cơ chế thị trường thì
cơ cấu lao động được hình thành chủ yếu thông qua quan hệ cung cầu lao động
trên thị trường lao động tổng thể và khu vực. Tuy vậy, vai trò của Nhà nước có
ý nghĩa hết sức quan trọng và điều tiết thông qua những chính sách phát triển
kinh tế, để có được cơ cấu lao động hợp lý, phủ hợp với cơ cấu kinh tế và mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội. Về nguyên tắc, cơ cấu lao động phải phù hợp với
cơ cấu kinh tế vì nó phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế và trình độ văn
minh của xã hội. Vì thế, theo quy luật phát triển không ngừng của xã hội mà cơ
cấu lao động luôn biến đổi, đó là sự chuyển dịch cơ cấu lao động.
2. Chuyển dịch cơ cấu lao động.
Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi về lượng các thành phần
trong lực lượng lao động để tạo nên một cơ cấu mới. Là sự chuyển dịch nguồn
lao động từ ngành này sang ngành khác, từ khu vực này đến khu vực khác, sự
thay đổi lao động giữa các nghề, giữa các cấp trình độ,...hay chuyển dịch cơ
cấu lao động chính là sự chuyển hoá từ cơ cấu lao động cũ sang cơ cấu lao
động mới phù hợp hơn với quá trình phát triển kinh tế xã hội và trình độ phát
triển nguồn nhân lực của đất nước.
Về nội dung chuyển dịch cơ cấu lao động bao gồm những loại chuyển
dịch sau:
- Chuyển dịch cơ cấu chất lương lao động bao gồm sự thay đổi về trình
độ học vấn, đào tạo ngành nghề, thể lực, ý thức, thái độ và tinh thần trách
trình độ:
- Lao động không qua đào tạo.
- Công nhân kỹ thuật.
- Trung học chuyên nghiệp.
- Cao đẳng, đại học và trên đại học.
b/ Cơ cấu lao động theo ngành nghề.
Cơ cấu lao động theo ngành nghề là sự phân bố nguồn lao động vào các
ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân. Mỗi ngành, mỗi nghề đều có
một lực lượng lao động, phân chia lao động theo ngành nghề có nghĩa là xem
xét lao động trong từng ngành nghề, xem xét tỷ lệ lao động của các ngành
nghề.
Khi phân tích lao động theo cơ cấu ngành nghề, người ta chia ra các
nhóm ngành kinh tế lớn là:
- Nông nghiệp.
- Công nghiệp.
- Thương mại, dịch vụ.
Nghiên cứu cơ cấu lao động theo ngành nghề góp phần hoạch định chính
sách xã hội đúng đắn, phù hợp với từng ngành nghề, từng vùng lãnh thổ. Mặt
khác, có sự tác động trở lại là góp phần định hướng phát triển các ngành các
vùng kinh tế trong cả nước.
III. KINH NGHIỆM CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG Ở
CÁC NƯỚC.
1. Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Trung Quốc là nước dẫn đầu thế giới về dân số và lao động. Tính đến
năm 1993, Trung Quốc có gàn 1,2 tỷ người, trong đó có 74% lao động sống và
làm việc ở nông thôn, với 60% lao động nông nghiệp và 40% lao động làm
trong khu vực công nghiệp và dịch vụ
Để có được cơ cấu lao động như vậy. Trung Quốc đã tiến hành cải cách
hệ thông quản lý lao động để chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước từ năm 1978. Nó bao gồm cải cách hệ thống
việc.
+ Cùng với việc làm thiết thực đó Trung Quốc còn đưa ra bộ luật riêng
cho người lao động, tạo cho người lao động biết được quyền lợi và nghĩa vụ
của mình giúp cho họ yên tâm làm việc tạo nên năng suất lao động cao.
Trước các chính sách về việc làm và lao động đã tạo cho Trung Quốc có
được sự chuyển dịch lao động trong các ngành nghề, và tạo ra được đội ngũ lao
động có trình độ chuyên môn cao phục vụ tốt quá trình xây dựng và phát triển
đất nước.
2. Kinh nghiệm của các nước ASEAN.
Sự phát triển của các nước ASEAN trong 30 năm qua là kết quả của quá
trình tìm tòi, thử nghiệm để cuối cùng tìm ra chiến lược phát triển và chính
sách kinh tế vĩ mô thích hợp với điều kiện trong và ngoài nước. Tuy mỗi nước
có chiến lược phát triển riêng nhưng mỗi quốc gia đều được dựa trên nền tảng
là con người. Chính vì thế họ đã có những chiến lược tận dụng tối đa nguồn lao
động của mình, định hướng một cơ cấu lao động hợp lý. Dưới đây là những
kinh nghiệm chung trong lĩnh vực chuyển dịch cơ cấu lao đông theo hướng
công nghiệp hoá hiện đại hoá của các nước này.
+ Phát huy yếu tố con người - động lực của sự phát triển kinh tế xã hội.
Các nước ASEAN thường xuyên quan tâm đào tạo để tạo ra được cơ cấu lao
động phục vụ tốt quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Điều này được thể hiện
như ở Thái Lan, sự nghiệp đào tạo ngành nghề đã trở thành một hệ thống phục
vụ đắc lực cho nền kinh tế quốc dân. Ngoài hệ thống đào tạo chính quy, chính
phủ Thái Lan còn tổ chức ra nhiều trường kỹ thuật hỗn hợp để đào tạo cho
thanh thiếu niên theo những khoá học ngắn hạn, đồng thời thành lập ở các địa
phương những trung tâm đào tạo nghề.
Ở Singapo chủ yếu nhờ vào đội ngũ lao động được trải qua quá trình đào
tạo cẩn thận, có tri thức chuyên môn và kỹ năng cao, mà Singapo từ những năm
60 đến đầu thập kỷ 80 đã giữ được tốc độ phát triển ở mức 9%. Singapo chú
trọng hợp tác với các công ty đa quốc gia hoặc chính phủ nước ngoài lập ra các
trung tâm đào tạo nghề nghiệp, bồi dưỡng đào tạo chuyên môn mà nền công
phù hợp, mang lại thu nhập cao hơn, tăng cơ hội tìm được việc làm.
Chuyển dịch cơ cấu lao động góp phần làm cung và cầu lao động xích lại
gần nhau và do đó được coi là một giải pháp tạo việc làm tích cực. Các nước
Châu Á-Thái Bình Dương có nhiều bài học quý về giải quyết việc làm thông
qua chuyền dich cơ cấu lao động như ở Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc,
Malaixia.
Chuyển dịch cơ cấu lao động làm tăng tỷ trọng lao động có đào tạo là
điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, và là yếu tố quyết định cho sự hội nhập quốc tế thắng lợi.
Ở nông thôn nước ta chuyển dịch cơ cấu lao động theo nghề để tăng dần
tỷ trọng lao động phi nông nghiệp, thực hiện đa dạng hoá nông nghiệp là giải
pháp duy nhất để hạn chế thiếu việc làm, thực hiện chính sách xoá đói giảm
nghèo. Đặc biệt, dịch chuyển cơ cấu chất lượng lao động làm tăng tỷ trọng lao
động có đào tạo là điều kiện bảo đảm thực hiện thành công yêu cầu của công
nghiệp hoá - hiện đại hoá.
2. Mối liên hệ giữa chuyển dịch cơ cấu cung lao động và chuyển dịch
cơ cấu cầu lao động.
Các loại chuyển dịch lao động có mối liên hệ tác đông qua lại lẫn nhau
rất chặt chẽ. Nhìn chung thì muốn chuyển dịch cơ cấu cầu lao động đòi hỏi phải
có sự chuyển biến về cơ cấu chất lượng lao động đến một mức độ cần thiết.
Ngược lại chuyển dịch thích hợp về cơ cấu lao động, tức là đạt tới sự phân
công lao động hợp lý là điều kiện để tăng trưởng kinh tế và sự tăng trưởng này
đến lượt nó lại đặt ra những nhu cầu chuyển dịch mới về chất lượng lao động.
Ngay trong bản thân sự chuyển dịch về cơ cấu chất lượng hay cơ cấu sử
dụng lao động cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cơ cấu theo trình độ học
vấn là tiền đề không thể thiếu được để tạo nghề nghiệp, tiếp thu kỹ thuật công
nghệ mới. Thể lực của người lao động tạo điều kiện để phát triển trí lực, tức là
có ảnh hưởng tới văn hoá, đào tạo nghề nghiệp.
3. Tính tất yếu của chuyển dịch cơ cấu lao động.
Các nước trong khu vực bước vào thời kỳ công nghiệp hoá từ rất sớm.
của đời sống trên mọi phương diện kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội ngày càng
nâng cao. Trong thời đại ngày nay lượng tri thức của loài người được nhân đôi
chỉ sau 15 năm với chất lượng khác hẳn. Để làm được điều đó trước đây phải
mất hàng trăm năm.
2. Đan kết mạng lưới toàn cầu
Sự phát triển của khoa học công nghệ, sự xâm nhập và can thiệp ngày
càng sâu sắc của tri thức vào các lĩnh vực đời sống một mặt đem lại xu hướng
hình thành một phương thức sản xuất mới dựa trên nền tảng tri thức, một mặt
đem lại những thay đổi căn bản trong các hệ thống quan hệ thuộc kiến trúc
thượng tầng. Đó là xu thế hình thành một hệ thống quan hệ thuộc mạng lưới
toàn cầu trong cả ba cấp độ: kinh tế, văn hoá và quản lý.
3. Hội nhập với quốc tế và rủi ro
Những thành tựu lớn mà nhân loại đã đạt được thông qua quá trình toàn
cầu hoá cùng với những tiến bộ và sự vận động như vũ bão của các xu thế này
đã đặt ra thực tế là việc hội nhập vào quá trình toàn cầu trở thành nhu cầu tất
yếu đối với từng cá nhân, từng tổ chức và từng quốc gia. Việc đặt mình ra
ngoài vòng xoáy này cũng đồng nghĩa với việc quay lưng lại với các cơ hội
phát triển. Tuy nhiên điều đó cũng không có nghĩa rằng tích cực hội nhập bao
giờ cũng bảo đảm thành công chắc chắn. Thực tế cho thấy nhiều quốc gia có
kinh tế hội nhập cao lại phải luôn luôn chịu các rủi ro do biến đổi bất thường
của thị trường thế giới. Toàn cầu hoá không phải chỉ đem lại rủi ro cho nền
kinh tế vĩ mô mà còn đem lại những rủi ro cho các cá nhân. Do vậy muốn tránh
khỏi những rủi ro ta phải chuẩn bị những điều kiện cần thiết và luôn luôn nắm
thời cơ sẵn có để chủ động hội nhập. Việc chuẩn bị quan trọng nhất để hội nhập
thắng lợi là phải bắt đầu ngay từ ngày hôm nay việc Chuyển dịch cơ cấu lao
động đáp ứng nhu cầu hội nhập.
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG CƠ CẤU LAO ĐỘNG VIỆT NAM
I. THỰC TRẠNG CƠ CẤU LAO ĐỘNG HỜI KỲ 1996 - 2000
1. Dân số và nguồn lao động.
Nhóm 55 tuổi trở lên chỉ chiếm 7-8% dân số trong độ tuổi lao động. Đây
là nhóm có tỷ lệ người tham gia trong lực lượng lao động rất cao, có kinh
nghiệm và kỹ thuật tốt. Tuy vậy, sức khoẻ của người lao động thì ở lứa tuổi này
đã và đang hạn chế dần, đồng thời những người chuẩn bị bước ra khỏi tuổi lao
động hàng năm thuộc nhóm này.
Đây chính là xu hướng già đi của lực lượng lao động và là một đặc điểm
rất quan trọng của việc chuyển dịch cơ cấu lao động theo độ tuổi trong thời kỳ
công nghiệp hoá hiện đại hoá đưa đất nước phát triển.
Biểu 1: Cơ cấu nhân khẩu từ đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường
xuyên chia theo nhóm tuổi
Đơn vị: 1000 người
1996 1997 1998 1999 2000
Tổng số 35187,3 35588,4 36579,6 37783,8 38643,1
% 100% 100% 100% 100% 100%
15-24 9131,6 8798,7 8492,5 8577,6 8443,5
% 26,0% 24,7% 23,2% 22,7% 21,8%
25-34 10495,1 10652,7 10706,6 10600,8 10895,8
% 29,8% 29,9% 29,3% 28,1% 28,2%
35-44 8549,8 9101,2 9873,9 10393,9 10895,9
% 24,3% 25,6% 27,0% 27,5% 28,2%
45-54 4006,4 4402,9 4919,8 5565,3 5823,4
% 11,4% 12,4% 13,4% 14,7% 15,1%
55-59 1372,9 1237,2 1253,6 1267,1 1225,6
% 3,9% 3,5% 3,4% 3,4% 3,2%
>60 1631,5 1395,7 1333,2 1379,1 1358,9
% 4,6% 3,9% 3,6% 3,6% 3,5%
Nguồn: Số liệu thống kê lao động và việc làm ở Việt nam 1996 - 2000
Do kết quả giảm tỷ lệ sinh đã đạt được từ khi bước vào những năm 1980,
số thanh niên mới bước vào tuổi lao động đang có xu thế ổn định trong khi số
người ra khỏi tuổi lao động bắt đầu tăng dần, nên có ảnh hưởng nhất định đến
Thành phố 1156724 1174465 709318 586978 341529
% 2,4% 2,4% 1,4% 1,1% 0,6%
Nông thôn 1154982 534756 1266707 1173632 876600
% 2,4% 1,1% 2,5% 2,2% 1,6%
Nguồn: Số liệu thống kê lao động việc làm ở Việt nam 1996 - 2000
Qua biểu 2 cho thấy lao động thành thị chiếm 23,2%-25,5% số người
trong tuổi lao động có khả năng lao đông và tăng dần trong khoảng thời gian từ
năm1996-2000, còn lao động nông thôn chiếm 76,8-74,5%% số người trong
tuổi có khả năng lao động và có xu hướng giảm dần. Bởi vì, trong những năm
gần đây có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến xu hướng ngày càng nhiều
người di chuyển từ nông thôn vào làm ăn sinh sống tại thành phố, các khu công
nghiệp.
2. Cơ cấu lao động chuyên môn kỹ thuật.
2.1. Trình độ học vấn của dân cư.
Trình độ văn hoá là khả năng về tri thức và kỹ năng của người lao động
để có thể tiếp thu được những kiến thức cơ bản thực hiện những việc cơ bản để
duy trì cuộc sống. Trong những năm vừa qua chất lượng nguồn nhân lực đã
tăng lên đáng kể trước hết là do trình độ học vấn của lực lượng lao động được
nâng thêm một bước thể hiện ở chỗ giảm khá nhanh số lượng tuyệt đối và tỷ
trọng nhóm người có trình độ học vấn thấp cụ thể: năm 1996 số người không
biết chữ và chưa tốt nghiệp cấp I chiếm 5,7% và 20,7% số lao động hoạt động
kinh tế thường xuyuên, nhưng đến năm 2000 thì số này giảm chỉ còn 4,0% và
16,5%. Số người và tỷ trọng nhóm dân cư có trình độ học vấn cao, năm 1996 số
người đã tốt nghiệp cấp 3 chiếm 13,8%, nhưng đến năm 2000 chiếm 17,2% số
lao động hoạt động kinh tế thường xuyên. Điều đó được thể hiện rõ qua biểu 3.
Tuy nhiên tỷ lệ lao động có trình độ cấp II, cấp III của ta còn rất thấp mới chỉ
có 45,9% vào năm 1996 và 50,2% vào năm 2000. Trong khi đó, các nước trong
khu vực, nhất là các nước Đông Á, khi họ bước vào công nghiệp hoá đất nước
thì đã phổ cập giáo dục ít nhất là cấp II.
Biểu 3: Cơ cấu lao động hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo trình độ