Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn tỉnh Bình Dương trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa - Pdf 21


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_______________________________
Nguyễn Thị Ngọc Anh
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH BÌNH
DƯƠNG TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP
HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số: 60 31 95 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐẶNG VĂN PHAN

Nguyễn Thị Ngọc Anh

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CCKT : Cơ cấu kinh tế
CDCC : Chuyển dịch cơ cấu
CDCCKT : Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CNH : Công nghiệp hóa
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
LTTW3 : Lâm trường Trung ương 3
DTTN : Diện tích tự nhiên
GDP : Tổng sản phẩm quốc dân
GTSX : Giá trị sản xuất
HĐH : Hiện đại hóa
HTX : Hợp tác xã
KT - XH : Kinh tế - xã hội
L/s : Lít/giây
NN : Nông nghiệp
NN - NT : Nông nghiệp - nông thôn
NT : Nông thôn
Nxb : Nhà xuất bản
VAC : Vườn, ao, chuồng
RAC : Ruộng, ao, chuồng
SX
: Sản xuất
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nôn
g
thôn tỉnh Bình Dương trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa”.
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tổng quan những vấn đề lí luận, phương pháp luận và phương
pháp nghiên cứu về CCKT và CDCCKT NN - NT, đề tài bước đầu tìm hiểu hiện
trạng CDCCKT NN - NT tỉnh Bình Dương và cơ sở khoa học cho sự chuyển dịch
trong những năm tiếp theo. Đề ra những định hướng và giải pháp chuyển dịch cho
phù hợp với xu hướng CNH - HĐH của đất nước hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài cần thực hiện được
những nội dung nghiên cứu cơ bản sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản về CCKT nói chung và CCKT
NN - NT nói riêng làm cơ sở vận dụng và
o quá trình xem xét, phân tích CDCCKT
NN - NT Bình Dương.
- Đánh giá thực trạng CDCCKT NN - NT Bình Dương từ năm 1997 đến
2006. Từ đó rút ra những đặc trưng cơ bản của CCKT NN - NT và xu hướng
CDCCKT NN - NT Bình Dương.
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình CDCCKT NN -
NT Bình Dương diễn ra nhanh chóng theo hướng CNH - HĐH.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
CDCCKT NN - NT Bình Dương là một quá trình mang tính toàn diện, diễn
ra trên các mặt: cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần ki
nh tế, cơ cấu lãnh thổ và cả sự
thay đổi chất lượng cuộc sống dân cư. Quá trình chuyển dịch không chỉ ở cấp vĩ mô
mà còn cả ở cấp vi mô. Tuy nhiên, do hạn chế của bản thân, nguồn tư liệu và một số
yếu tố khách quan khác nên:
Về nội dung: trọng tâm của đề tài chủ yếu tập trung làm rõ sự CDCCKT

một số vùng trong cả nước như CDCCKT NT Bắc Tr
ung Bộ theo CNH - HĐH (TS.
Nguyễn Đăng Bằng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội năm 2002).
5. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Quan điểm nghiên cứu
5.1.1. Quan điểm hệ thống
CCKT NN - NT chính là một hệ thống hoàn chỉnh gồm nhiều tầng bậc, bản
thân nó là sự hợp thành của nhiều hệ thống khác nhau và đồng thời lại là bộ phận
của hệ thống lớn hơn. CCKT NN - NT tỉnh có mối quan hệ chặt chẽ với m
ôi trường
xung quanh, bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường KT - XH.
5.1.2. Quan điểm lãnh thổ
Cơ cấu lãnh thổ kinh tế NN - NT Bình Dương được coi như một thể tổng
hợp tương đối hoàn chỉnh, trong đó các yếu tố tự nhiên, KT - XH có mối quan hệ
chặt chẽ, tác động chi phối lẫn nhau. Đặc biệt, lĩnh vực NN Bình Dương là ngành
thu hút một lực lượng lao động cơ bản và địa bàn NT Bình Dương tập trung phần
lớn dân cư của toàn tỉnh. Do vậy, cần phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát
triển và CDCCKT NN - NT Bình Dương để từ đó đưa ra những định hướng phát
triển có tính tổng hợp nhằm khai thác tốt những tiềm năng của vùng.
5.1.
3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Vận dụng quan điểm vào trong nghiên cứu đề tài để thấy được nguồn gốc
nảy sinh, quá trình diễn biến của các yếu tố kinh tế trong từng giai đoạn, trong
những điều kiện thời gian và không gian cụ thể. Từ đó đánh giá chính xác các khả
năng phát triển của ngành kinh tế NN, của địa bàn NT Bình Dương.
5.2. Phương
pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu
Trong luận văn chúng tôi đã tiến hành thu thập các số liệu, tư liệu từ các
nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu là nguồn số liệu từ Niên giám thống kê của địa

kết quả nghiên cứu đó kết hợp với những định hướng phát triển đề ra những giải
phá
p có tính khả thi nhất thúc đẩy quá trình chuyển dịch.
7. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài gồm 3 phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Trong đó phần nội dung có bố cục 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận CCKT và CDCCKT NN - NT.
Chương 2: Thực trạng quá trình CDCCKT NN - NT trong thời kì CNH -
HĐH tỉnh Bình Dương từ 1997 - 2006.

Chương 3: Định hướng và những giải pháp nhằm thúc đẩy CDCCKT NN -
NT tỉnh Bình Dương đến năm 2020.
Ngoài ra còn có phần phụ lục là những nội dung có liên quan đến các nội
dung nghiên cứu của đề tài do không có đủ điều kiện để trình bày hết trong đề tài. NỘI DUNG

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1.1. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu: là một khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một
hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững c
hắc các bộ
phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và tổng thể,

biểu hiện về lượng hay sự tăng trưởng của hệ thống, mà là những mối quan hệ bên
trong và bên ngoài của các yếu tố đó biểu hiện về chất hay sự phát triển của hệ
thống [35, tr.11]. Mối quan hệ giữa lượng và chất trong cơ cấu của nền ki
nh tế thực
chất là những biểu hiện về tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đó. Mặt khác,
nền kinh tế quốc dân được phân chia theo nhiều cách thức và ở nhiều cấp độ khác
nhau mới có thể thấy hết được các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của nền kinh
tế đó và nhìn chung người ta thường xem xét từ các góc độ chủ yếu sau:
Cơ cấu ngành kinh tế: phản á
nh sự phân công lao động theo hướng chuyên
môn hóa SX, được hình thành dựa trên mối quan hệ giữa các đối tượng khác nhau
của nền SX, SX càng phát triển thì tập hợp ngành kinh tế càng đa dạng. Cho đến
nay, trên thế giới về cơ bản có hai hệ thống phân ngành kinh tế, đó là hệ thống SX
vật chất (Material Production System - MPS), được áp dụng đối với nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung và hệ thống tài khoản quốc
gia (System of National Accounts -
SNA), được áp dụng đối với nền kinh tế thị trường.
Theo hệ thống tài khoản quốc gia, nền kinh tế thường được phân thành ba
khu vực: khu vực I gồm các ngành hoạt động nhằm khai thác các của cải từ thiên
nhiên (nông, lâm, thuỷ sản và khai khoáng); khu vực II gồm các ngành hoạt động
nhằm làm thay đổi hình thái của những của cải vật chất (công nghiệp chế tạo, chế
biến, xây dựng); khu vực III gồm các
ngành nhằm cung ứng những dịch vụ có ích
cho nhu cầu SX và tiêu dùng của xã hội (thương nghiệp, bưu điện, vận tải, bảo
hiểm, các dịch vụ đời sống, dịch vụ quản lý Nhà nước, hoạt động đoàn thể, từ thiện,
tôn giáo) [2, tr.18]. Trong mỗi khu vực được phân thành các ngành kinh tế cấp 1 và
dưới cấp 1 được phân thành các ngành cấp 2, cấp 3, cấp 4,...
Sự phân chia các ngành như trên không phải là cách làm duy nhất mà có sự
khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, trình độ phát triển của nền kinh tế và cơ chế
quản lý của mỗi nước, nhưng có thể tìm được một cách thức duy trì một cơ cấu hợp

ngày càng đa dạng. Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu là thành phần kinh tế. Tuy
nhiên, ngày nay giữa các hình thức sở hữu có sự đan xen lẫn nhau tùy thuộc vào sự
phát triển của các nền kinh tế, dẫn đến sự phân chia nền kinh tế theo các thành phần
kinh tế ngày càng phức tạp. Từ mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong quá
trình vận động người ta có thể thấy được xu hướng phát triển và vai trò của từng
thành phần kinh tế để từ đó có t
hể đưa ra các giải pháp tác động phù hợp với yêu
cầu phát triển chung của nền kinh tế.
Cơ cấu vùng kinh tế: phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không
gian địa lí. Thực chất của việc phân chia này là để làm cơ sở cho hoạch định chiến
lược, xây dựng kế hoạch phát triển, thực thi chính sách phù hợp với đặc điểm của
từng vùng nhằm đạt h
iệu quả cao trên từng vùng và toàn lãnh thổ.
Tùy theo mục đích quản lý mà có thể phân chia lãnh thổ của một quốc gia
thành các vùng với những đặc trưng về mặt kinh tế khác nhau và trong NN, cách
phân chia lãnh thổ thành các vùng sinh thái NN mang một ý nghĩa cực kì quan
trọng, vì từ đó có thể xác lập được các cơ cấu cây trồng - vật nuôi hợp lý, vừa khai
thác được lợi thế của mỗi vùng, vừa khắc phục tình trạng phát triển dà
n trải, thiếu
tập trung để có thể hình thành được các vùng SX chuyên canh có khối lượng hàng
hóa lớn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường và thúc đẩy CDCCKT.
CCKT theo ngành, theo thành phần và theo vùng kinh tế là sự biểu hiện về
bản chất ở những khía cạnh khác nhau của một nền kinh tế, giữa chúng có quan hệ
tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cơ cấu theo ngành giữ vai trò chủ đạo trong toàn
bộ quá trình phát triển, cơ cấu theo thành phần ki
nh tế giữ vai trò quan trọng để thực
hiện cơ cấu ngành, cơ cấu theo vùng là cơ sở cho các ngành, các thành phần kinh tế
phân bố hợp lý các nguồn lực, tạo sự phát triển đồng bộ, cân đối, đạt hiệu quả cao
giữa các ngành, giữa các thành phần kinh tế của một nền kinh tế.
NN: là một ngành SX vật chất cơ bản, là một bộ phận cấu thành quan trọng

y trồng - vật nuôi, đất đai, khí
hậu, nguồn nước,…
- Kinh tế NT mang tính bền vững cao, mọi sự thay đổi đều nằm trong khuôn
khổ của tự nhiên, lịch sử, truyền thống.
Về CCKT NT còn nhiều quan niệm khác nhau, tổng quát có thể hiểu:
CCKT NT: là tổng thể các quan hệ kinh tế trong khu vực NT (bao gồm cơ
cấu các ngành nông - lâm - thuỷ sản, công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ, kể cả
hoạt động văn hóa - giáo dục - y tế được phát triển tại vùng NT), chúng có mối quan
hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỉ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt
chẽ về mặt chất; chúng tác động qua lại lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất
định, phù hợp với điều kiện KT - XH nhất định, tạo thành một hệ thống kinh tế NT,
một bộ phận hợp thành không thể tách rời của hệ thống kinh tế quốc dân [4, tr.35]
.
CCKT NT cũng là một bộ phận của CCKT quốc dân, do đó CCKT NT cũng
có những đặc trưng cơ bản của CCKT nói chung, bên cạnh đó CCKT NT cũng có
những đặc trưng riêng biệt:
- CCKT NT mang tính khách quan, được hình thành trên cơ sở phát triển của
lực lượng SX và phân công lao động xã hội. Với trình độ phát triển nhất định của
lực lượng SX và phân công lao động xã hội thì sẽ có một CCKT cụ thể thích ứng.

- CCKT NT mang tính lịch sử, xã hội nhất định: là tổng hợp các mối quan hệ
kinh tế được xác lập theo những tỉ lệ nhất định về mặt lượng trong thời gian cụ thể.
- CCKT NT không ngừng vận động phát triển ngày càng hoàn thiện, hợp lí
và có hiệu quả hơn. Quá trình phát triển và biến đổi CCKT NT luôn gắn bó chặt chẽ
với sự biến đổi của các yếu tố về lực lượng S
X và phân công lao động xã hội.
- CDCCKT NT là một quá trình và cũng không thể có một cơ cấu hoàn
chỉnh, bất biến.
CCKT NT nước ta hiện nay đang hình và biến đổi gắn với sự ra đời và phát
triển của nền NN SX hàng hóa. Để khắc phục dần tính thuần nông, tự cung tự cấp

trọt, chăn nuôi đã tách ra làm dịch vụ thương mại “đầu vào”, “đầu r
a”. Dịch vụ
NT bao gồm các hoạt động:
+ Dịch vụ mua bán hàng hóa, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm;
+ Dịch vụ kinh tế, tài chính, tín dụng ngân hàng;
+ Dịch vụ phục vụ sinh hoạt như điện nước, vệ sinh, văn hóa, pháp luật;
+ Dịch vụ giao thông vận tải, thuỷ lợi, bảo vệ thực vật.
Khi
nền SX chuyển từ tự cung tự cấp sang SX hàng hóa, tỉ trọng công
nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng lên trong CCKT NT.
CCKT theo thành phần kinh tế: là mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế
tại NT, dựa trên những quan hệ sở hữu khác nhau về tự liệu SX và trình độ phát
triển khác nhau của lực lượng SX. Nền kinh tế quốc dân có bao nhiêu thành phần kinh
tế thì kinh tế NT có bấy nhiêu thành phần. Tuy nhiên, sự biểu hiện của các thành phần
kinh tế NT có những đặc điểm riêng:
Kinh tế Nhà nước ở NT: được biểu hiện tập trung ở các hình thức doanh
nghiệp Nhà nước (nông trường, lâm trường, trạm, trại), ngân hàng, tín dụng, các cơ
sở nghiên cứu khoa học. Kinh tế Nhà nước ở NT giữ vai trò chủ đạo cả về mặt SX
và lưu thông phân phối.
Kinh tế tập thể: phát triển với nhiều hình thức đa dạng trong đó tiêu biểu là

các HTX kiểu mới, SX kinh doanh nhiều ngành nghề (HTX đa chức năng), tập hợp
liên kết các hộ SX với nhau cùng giải quyết những yêu cầu của SX.
Kinh tế cá thể - tiểu chủ: là hình thức kinh tế thích hợp và năng động nhất ở
NT, tồn tại dưới nhiều hình thức tổ chức kinh tế như kinh tế hộ,
kinh tế trang trại.
Đặc biệt kinh tế cá thể - tiểu chủ ở NT có ưu thế phát triển mạnh mẽ các hoạt động
dịch vụ SX và tiêu thụ.
Kinh tế tư bản Nhà nước: tồn tại dưới các hình thức liên doanh giữa kinh tế
Nhà nước và tư bản tư nhân trong và ngoài nước, các dự án có vốn đầu tư nước

hì tỉ trọng dịch vụ sẽ tăng nhanh so với công nghiệp. Để lý giải
cho quá trình này, có hai lý do chính:
- Từ cuối thế kỷ XIX, E. Engel nhận thấy rằng, khi thu nhập của các gia đình
tăng lên, tỉ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm sẽ giảm xuống và cho sản
phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng, dẫn tới tỉ trọng của NN trong GNP giảm xuống.
- I. Fisher ( 1867 - 1947 ), tiến bộ kĩ thuật có tác động đến t
hay đổi phân bố lao
động vào ba khu vực của nền kinh tế, tạo điều kiện cho nông dân tăng năng suất lao
động. Kết quả là để bảo đảm lương thực, thực phẩm cho xã hội, không cần đến lượng
lao động như cũ và tỉ lệ lao động NN giảm dần.
Ngoài ra, còn có một lý do khác cũng làm cho tỉ trọng NN trong GDP giảm
sút, đó là các lợi thế tương đối trong NN, nhất là đất đai và lao động ở các quốc gia
phát triển mất dần so với các quốc gia có trình độ phát triển thấp hơn.
1.1.
3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thực chất là quá trình cải biến KT - XH từ lạc hậu, mang tính chất tự cấp, tự
túc bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kĩ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ
sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh c
ho nền kinh tế [3,
tr.535]. Quá trình chuyển dịch này không chỉ diễn ra giữa các ngành của nền kinh tế
mà bắt đầu từ nội bộ của từng ngành theo những xu hướng nhất định và trong NN,
quá trình CDCC các ngành ở hầu hết các quốc gia thường diễn ra theo xu hướng có
tính quy luật như sau:
- Trong dài hạn, cầu nông sản chịu tác động mạnh bởi thu nhập của dân cư
theo hướng là khi mức thu nhập thấp, cầu về các nông sản thông thường lớn hơn và
khi thu nhập tăng lên, cầu về các nông sản có chất lượng cao tăng lên.
- Một nghiên cứu khác cho rằng: thịt, trứng, sữa và thuỷ sản là loại thực
phẩm có tính vận động. Mức độ tiêu dùng các loại thực phẩm
này có quan hệ trực
tiếp đến bồi bổ sức khỏe và phát triển trí tuệ nhân loại, vì thế hầu hết các nước đều

nước cũng như từng địa phương.
- Khai thác có hiệu quả các tiềm năng NN như đất đai, khí hậu, nguồn nước,...
- CDCCKT
NN đảm bảo an toàn lương thực, thực phẩm góp phần tạo nên
khối lượng của cải vật chất ngày càng lớn, cơ cấu sản phẩm NN phải đa dạng và
phong phú.
- CDCC NN phải góp phần vào việc ổn định và phát triển KT - XH NT và
nâng cao đời sống nhân dân.
Các chỉ tiêu phản ánh CDCCKT NN:
Khi phân tích tác động của các nhân tố tới sự CDCCKT NN cần chú ý phân
tích cả những tha
y đổi về lượng (các quan hệ tỉ lệ) hay kết quả CDCC và những
thay đổi về chất hay hiệu quả chuyển dịch do các yếu tố tác động mang lại. Tuy
nhiên, việc xác định chỉ tiêu đo lường các kết quả này cho đến nay vẫn còn có
những quan điểm khác nhau, nhưng về cơ bản gồm có các nhóm chỉ tiêu chủ yếu:
- Nhóm chỉ tiêu phản á
nh kết quả, hiệu quả CDCCKT NN: phản ánh sự
thay đổi CCKT NN trên 3 mặt cơ bản, gồm: cơ cấu GDP hoặc cơ cấu GTSX, cơ cấu
lao động và cơ cấu hàng xuất khẩu của các ngành trong NN.
Cơ cấu GDP hoặc GTSX NN: là một trong những thước đo khái quát nhất,
phổ biến nhất để đo lường, đánh giá trạng thái, xu hướng và mức độ thành công của
quá trình C
DCCKT NN. Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá:
- GDP và tỉ trọng GDP NN trong GDP nền kinh tế (3 khu vực);
- GTSX và tỉ trọng GTSX các ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản;
- GTSX và tỉ trọng GTSX nội bộ ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản;
- Tăng trưởng GDP và GTSX của các ngành trong NN;
- GDP và GTSX của các ngành trong NN bình quân đầu người.
Thông qua kết quả của các chỉ tiêu có thể rút ra những nhận định về trạng thái
CDCCKT có ổn định hay không ổn định, xu hướng chuyển dịch nhanh hay chậm và


bình quân/1 ha đất NN, diện tích đất canh tác bình quân/1 lao động), khoa học và
công nghệ (tỉ lệ diện tích hoặc tỉ lệ hộ sử dụng giống mới, chi phí sử dụng hay thuê
mướn máy móc, thiết bị bình quân/1 ha, tỉ lệ diện tích tưới tiêu chủ động, tỉ lệ diện
tích áp dụng kĩ thuật canh tác tiên tiến).
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tác động của các nhân tố đến tổng cầu: một số
chỉ tiêu phổ biến sử dụng: tỉ trọng giá trị nông sản hàng hóa tiêu dùng trong nước, tỉ
trọng giá trị nông sản xuất khẩu so với GTSX, tỉ lệ nông sản hàng hóa tiêu thụ
thông qua hợp đồng.
Các
chỉ tiêu trên được tính cho toàn ngành và từng ngành trong NN để làm
cơ sở cho việc phân tích, đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố đến CDCCKT
NN. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ phân tích, đánh giá nêu trên thì chỉ có
thể thấy được mức độ tác động riêng rẽ của từng yếu tố, chưa xác định được mức độ
tác động và mối qua
n hệ giữa các yếu tố trong quá trình tác động đến CDCCKT
NN. Do đó, cần phải có một mô hình kiểm nghiệm thực tế phù hợp với mục đích,
yêu cầu phân tích, đánh giá và khả năng nguồn số liệu có được.
1.1.3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông t
hôn
CDCCKT NT: là quá trình làm tăng dần các hoạt động công nghiệp và dịch
vụ; và quá trình làm thay đổi phương pháp, công cụ và công nghệ SX chủ yếu là thủ
công, tập quán lạc hậu cổ truyền ở NT bằng các phương pháp, công cụ, công nghệ
SX tiên tiến, hiện đại, đạt hiệu quả cao [23, tr.19].
CDCC ngành trong NT: là sự đổi mới quan hệ tương quan của mỗi ngành so
với tổng thể các ngành trong NT. Sự thay đổi đó do một trong hai yếu tố là số lượng
các tiểu ngành tr
ong NT thay đổi và mối tương quan tốc độ phát triển giữa các
ngành có sự thay đổi hoặc đồng thời cả hai yếu tố.
CDCCKT NT theo thành phần kinh tế: là sự thay đổi tỉ lệ SX kinh doanh

NT, biểu hiện xu thế chuyển dịch trong quá trình phâ
n công lao động theo ngành. Tỉ
trọng lao động các ngành nghề trong CCKT NT mang tính đặc trưng của từng thời
kì, từng địa phương.
Chỉ tiêu về giá trị đầu tư: cơ cấu đầu tư là tỉ lệ nguồn đầu tư vào từng ngành,
từng vùng và hiệu quả của quá trình đầu tư đó.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả, tính hợp lí của CDCCKT NT: vì mục
đích cuối cù
ng của CDCCKT NT là tăng trưởng kinh tế cao và nâng cao chất lượng
cuộc sống cho dân cư NT nên khi đánh giá hiệu quả chuyển dịch cần sử dụng các
chỉ tiêu: hiệu quả sử dụng các nguồn lực (tài nguyên, lao động, vốn, khoa học công
nghệ); tác động giữa các ngành, vùng, khu vực kinh tế; chỉ tiêu phản ánh việc làm,
thu nhập, đời sống của nông dân, khả năng xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội;
chỉ tiêu nâng cao tiềm lực kinh tế (GTSX, giá trị xuất nhập khẩu, tốc độ tăng trưởng
kinh tế, mức lương nội bộ, khả năng cạnh tranh); chỉ tiêu bảo vệ môi trường sinh
thái, tạo lập môi trường phát triển bền vững.
1.2. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN
Xu
hướng có tính quy luật cho tất cả các nước là tỉ trọng của khu vực NN
ngày một giảm trong cơ cấu GDP nhưng kết quả ở mỗi nước sẽ không giống nha
u.
Điều này phụ thuộc vào mức độ tác động của các nhân tố hình thành nên CCKT của
nước đó [35, tr.45].
Trong thực tế, có nhiều nhân tố tác động đến quá trình hình thành và biến đổi
cơ cấu của một nền kinh tế nói chung và cơ cấu của một ngành kinh tế nói riêng,
nhưng hầu như các nhà kinh tế học cơ bản thống nhất phân thành hai nhóm nhân tố
với tính chất và nội dung tác động khác nhau, đó là nhóm các nhân tố kinh tế và
nhóm các nhân tố phi kinh tế.
1.2.

Các chỉ tiêu chủ yếu sử dụng phổ biến để đánh giá tình hình sử dụng đất NN, gồm:
quy mô đất SXNN bình quân nhân khẩu hoặc nhân khẩu NN, hệ số sử dụng đất
SXNN và hiệu quả sử dụng đất NN (năng suất ruộng đất tính bằng hiện vật hoặc giá
trị, lợi nhuận và thu nhập bình quâ
n/1 ha đất NN).
Lao động NN: là toàn bộ những người tham gia vào các hoạt động SXNN.
Các chỉ tiêu chủ yếu sử dụng phổ biến để phân tích tình hình sử dụng lao động NN,
gồm: tỉ suất sử dụng lao động NN (để đánh giá mức độ sử dụng nguồn la
o động
NN, xác định điểm ngoặt để dự báo thời điểm mà tại đó tốc độ tăng trưởng số lượng
lao động NN bằng zero), năng suất lao động NN (thường được tính bằng giá trị sản
lượng NN theo giá cố định bình quân 1 lao động NN).
Khoa học và công nghệ trong NN: nội dung chủ yếu của cách mạng khoa học
và công nghệ trong NN hiện nay tập trung vào 4 lĩnh vực cơ bản l
à thuỷ lợi hóa, cơ
giới hóa, hóa học hóa và sinh học hóa. Mỗi lĩnh vực có vai trò tác động đến
CDCCKT NN theo các khía cạnh và mức độ khác nhau. Các chỉ tiêu thường được
sử dụng để đánh giá trình độ: thuỷ lợi hóa (tổng diện tích và tỉ trọng diện tích được
tưới tiêu chủ động), trình độ cơ giới hóa (tổng diện tích và tỉ lệ diện tích được cơ
giới hóa trong các khâu của quy trình SXNN, mức độ trang bị máy móc/1 đơn vị
diện tích đất NN), trình độ hóa học (mức đầu tư phân bón hóa học và nông dược/1
ha gie
o trồng hoặc trên 1 tấn sản phẩm), trình độ sinh học hóa (tỉ lệ diện tích gieo
trồng hoặc đầu gia súc, gia cầm áp dụng các thành tựu về công nghệ sinh học và
sinh thái như giống mới, phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM)).
Các nhân tố tác động đến tổng cầu: trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, có 4
yếu tố cơ bản đư
ợc xem là tác động trực tiếp đến tổng cầu, gồm: chi tiêu cho cá
nhân, chi tiêu của Chính phủ, chi tiêu cho đầu tư và chi tiêu qua thương mại quốc tế
hay giá trị kim ngạch xuất khẩu ròng. Đối với ngành NN, tác động của các nhân tố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status