phát triển kinh tế xã hội tỉnh bắc kạn trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN PHÚC LONG VÂN
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH BẮC KẠN
TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ

Mã ngành: 60 31 95 LUẬN VĂN KHOA HỌC THẠC SĨ ĐỊA LÝ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phí Hùng Cường
Thái Nguyên – 2010 Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1
MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý các
nguồn lực tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, các nguồn lực kinh tế, xã hội đã
và đang là những vấn đề quan trọng có ý nghĩa bức thiết ở Việt Nam nói
chung và ở từng khu vực lãnh thổ của nƣớc ta nói riêng, đây là vấn đề đã
nhiều năm nay đƣợc sự quan tâm sâu sắc của Nhà nƣớc, của các cấp chính
quyền từ TW đến địa phƣơng cũng nhƣ của các nhà khoa học trong các lĩnh

tỉnh Bắc Kạn trong thời kỳ CNH, HĐH.
3. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế - xã
hội, quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam.
- Phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn.
- Đề xuất một số định hƣớng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Bắc Kạn.
4. Giới hạn nghiên cứu
- Về mặt nội dụng: Đề tài nghiên cứu về tiềm năng, thực trạng và giải
pháp phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn trong thời kỳ CNH, HĐH.
- Về mặt thời gian: Đề tài sử dụng hệ thống số liệu của cơ quan Thống
kê và qua các tài liệu liên quan từ năm 1997 đến 2009.
- Về mặt không gian: nghiên cứu trên phạm vi tỉnh Bắc Kạn.
5. Các quan điểm nghiên cứu đề tài
5.1 Quan điểm hệ thống
Giữa việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững và bảo vệ môi trƣờng luôn
có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng ta không nên chỉ chú trọng phát
triển kinh tế - xã hội mà bỏ quên việc phải bảo vệ môi trƣờng hoặc ngƣợc lại.
Vì tất cả các yếu tố trên đều nằm trong một hệ thống hài hòa, bền chặt.
5.2 Quan điểm tổng hợp
Đây là một quan điểm rất quan trọng và cần thiết. Quan điểm này đòi hỏi
việc phân tích đối tƣợng nghiên cứu trong sự vận động và biến đổi, trên cơ sở
mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố cấu thành chúng và với các hệ thống
khác. Vì vậy khi nghiên cứu việc xác lập cơ sở khoa học và đề xuất các giải
pháp phát triển kinh tế - xã hội bền vững và bảo vệ môi trƣờng cần quan tâm
đến tất cả các yếu tố về kinh tế, xã hội và môi trƣờng.
Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân

6.4 Phƣơng pháp thực địa
Phƣơng pháp thực địa: Thực địa là phần không thể thiếu đƣợc trong học
tập và nghiên cứu địa lý, do vậy trong quá trình nghiên cứu đề tài cần phải
điều tra khảo sát thực tế về tự nhiên cũng nhƣ về các mặt kinh tế - xã hội tỉnh
Bắc Kạn.

Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
7. Đóng góp của đề tài
Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế - xã
hội tỉnh Bắc Kạn nói riêng và của cả nƣớc nói chung.
Đánh giá đƣợc sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn trong
những năm gần đây.
Qua sự phân tích về các nguồn lực ảnh hƣởng đến sự phát triển kinh tế -
xã hội tỉnh Bắc Kạn, từ đó cho ta thấy đƣợc những mặt mạnh và mặt hạn chế
của tỉnh Bắc Kạn.
Đề xuất một số định hƣớng và giải pháp hợp lý cho sự phát triển kinh tế
- xã hội tỉnh Bắc Kạn trong thời kỳ CNH, HĐH.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài
đƣợc bố cục thành 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Các nguồn lực tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Bắc Kạn
Chƣơng 3: Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn
Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc
Kạn đến năm 2020

bản các vấn đề kinh tế xã hội bức bách, mỗi quốc gia phải xác định đƣợc cơ
cấu kinh tế hợp lý, trang bị kỹ thuật hiện đại và ứng dụng rộng rãi các
phƣơng pháp sản xuất tiên tiến cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Quá
trình ấy gắn với quá trình công nghiệp hoá, sự gắn bó ở đây là gắn bó hữu
cơ, chặt chẽ. Trong thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về phạm trù công
nghiệp hoá. Ta có thể rút ra nhận xét về công nghiệp hoá nhƣ sau:
- Quá trình công nghiệp hoá nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu

Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
chứ không phải nhằm mục tiêu kinh tế - kỹ thuật. Nội dung của quá trình
công nghiệp hoá là đƣa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, thực hiện cách mạng
khoa học công nghệ và phân công lại lao động xã hội. Do vậy, nó động
chạm đến tất cả các ngành kinh tế quốc dân chứ không chỉ riêng công
nghiệp.
- Xét trong quan hệ với xây dựng xã hội chủ nghĩa, quá trình công
nghiệp hoá gắn liền với thời kỳ quá độ nên khi kết thúc thời kỳ quá độ
nhiệm vụ trọng tâm của phát triển kinh tế sẽ thay đổi. Tuy rằng các quốc gia
cùng thực hiện công nghiệp hoá nhƣng mục tiêu và quá trình thực hiện các
quốc gia sẽ không giống nhau do điều kiện kinh tế - xã hội và quan điểm
công nghiệp hoá khác nhau. [9]
1.1.1.3. Bản chất công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Việc định nghĩa về công nghiệp hoá một cách khái quát không phải là
điều dễ. Bởi thế chúng ta cần hiểu một cách thống nhất bản chất của quá
trình công nghiệp hoá, trên cơ sở vận dụng phù hợp với điều kiện thực tế
của mỗi quốc gia. Bản chất công nghiệp hoá bao hàm những mặt sau:
* Thứ nhất: Công nghiệp hoá là nhiệm vụ tất yếu, một quy luật có

những mục tiêu và nội dung cơ bản ở trên cần có những bƣớc đi điều kiện,
giải pháp thích ứng. [9]
1.1.1.4. Cơ sở khoa học việc thực hiện công nghiệp hoá
Ngày nay có nhiều học thuyết khác nhau về thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, muốn hoạch định chính sách, chiến lƣợc chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế theo hƣớng CNH, HĐH cần nghiên cứu vận dụng nhiều học
thuyết kinh tế khác nhau. Có thể các học thuyết tiêu biểu là:
- Học thuyết Mác - Lênin
- Thuyết cất cánh của W.Rostow
- Học thuyết Keynes [9]
1.1.2. Lý luận về phát triển kinh tế xã hội
1.1.2.1 . Quan niệm về phát triển kinh tế
Khái niệm phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá
trình lớn lên (hay tăng tiến) mọi mặt về kinh tế trong một thời điểm nhất định.
Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự
tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội [11]
Hiện nay mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải qua
một thời gian, khái niệm về phát triển đã dần đi đến thống nhất. Phát triển
kinh tế đƣợc hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Phát triển
kinh tế đƣợc xem nhƣ là quá trình biến đổi cả về lƣợng và chất; nó là sự kết
hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội
ở mỗi quốc gia. Theo cách hiểu nhƣ vậy, nội dung của phát triển kinh tế đƣợc
khái quát theo ba tiêu thức: Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền
kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên mỗi đầu ngƣời. Đây là tiêu
thức thể hiện quá trình biến đổi về lƣợng của nền kinh tế, là điều kiện cần để

Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Nhƣ vây:

Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9
. Tiếp cận từ chi tiêu, GDP là tổng chi cho tiêu dùng cuối cùng của các
hộ gia đình (C), chi tiêu của chính phủ (G), đầu tƣ tích lũy tài sản (I) và chi
tiêu qua thƣơng mại quốc tế, tức là giá trị kim ngạch xuất khẩu trừ kim ngạch
nhập khẩu (X - M)
GDP = C + I + G + (X - M)
. Tiếp cận từ thu nhập, GDP đƣợc xác định trên cơ sở các khoản hình
thành thu nhập và phân phối thu nhập lần đầu, bao gồm: thu nhập của ngƣời
có sức lao động dƣới hình thức tiền công và tiền lƣơng (W); thu nhập của
ngƣời có đất cho thuê (R); thu nhập của ngƣời có tiền cho vay (In); thu nhập
của ngƣời có vốn (Pr); khấu hao vốn cố định (Dp) và cuối cùng là thuế kinh
doanh (TI)
GDP = W + R + In + Pr + Dp + TI
+ Tổng thu nhập quốc dân (GNI – Gross national income)
GNI là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do công
dân của một nƣớc tạo nên trong một khoảng thời gian nhất định. Chỉ tiêu này
bao gồm các khoản hình thành thu nhập và phân phối lại thu nhập lần đầu có
tính đến cả các khoản nhận từ nƣớc ngoài về và chuyển ra nƣớc ngoài. Nhƣ
vậy, GNI hình thành từ GDP tiếp cận theo góc độ thu nhập và đƣợc điều
chỉnh theo con số chênh lệch thu nhập với nhân tố nƣớc ngoài.
GNI = GDP + chênh lệch thu nhập nhân tố với nƣớc ngoài
+ Thu nhập quốc dân (NI – National income)
Là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mới sáng tạo ra trong một
khoảng thời gian nhất định. NI chính là GNI sau khi đã trừ đi khấu hao vốn cố

+T
d
) + S
d

Mục đích đƣa ra các thƣớc đo là để tiếp cận tới các trạng thái phát
triển của nền kinh tế, mỗi thƣớc đo đều có ý nghĩa nhất định và đƣợc sử
dụng tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu. Mặc dù đó là các thƣớc đo phổ
biến nhất hiện nay, nhƣng đó chỉ là những con số xấp xỉ về các trạng thái
và tốc độ biến đối trong phát triển kinh tế, vì bản thân các thƣớc đo đó
chƣa thể phản ánh hết đƣợc các sự kiện phát triển cả mặt tốt lẫn mặt chƣa
tốt. Chẳng hạn nhƣ các sản phẩm tự túc, công việc nội trợ gia đình, thời
gian nghỉ ngơi, sự tự do, thoải mái trong đời sống sinh hoạt, sự tổn hại do
bị ô nhiễm môi trƣờng thì đƣợc tính bằng cách nào.
+ Thu nhập bình quân đầu ngƣời
Chỉ tiêu này phản ánh tăng trƣởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân
số. quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu ngƣời là những chỉ báo
quan trọng phản ánh và là tiền đề để nâng cao mức sống dân cƣ nói
chung. Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao của chỉ tiêu này là
dấu hiệu thể hiện sự tăng trƣởng bền vũng và nó còn đƣợc sử dụng trong
việc so sánh mức sống dân cƣ giữa các quốc gia với nhau.
Theo dõi chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu ngƣời có thể xác định
khoảng thời gian cần thiết để nâng cao mức thu nhập lên gấp hai lần dựa
vào tỉ lệ tăng trƣởng kinh tế theo dự báo. Dự báo mức tăng thu nhập bình
quân trên đầu ngƣời có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu xu hƣớng
chuyển biến thu nhập của các quốc gia từ nhóm này sang nhóm khác so
với mức bình quân toàn thế giới.
- Đánh giá cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế đƣợc hiểu là tƣơng quan giữa các bộ phận trong tổng thể
kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và có sự tác động qua lại cả về số lƣợng

Một xu hƣớng khá phổ biến ở các nƣớc đang phát triển là có một dòng di
dân từ nông thôn ra thành thị. Đó là kết quả của cả lực đẩy từ khu vực nông
thôn bởi sự nghèo khổ cũng nhƣ sự thiếu thốn đất đai ngày càng nhiều và cả
lực hút từ sự hấp của khu vực thành thị. Dòng di dân ngày càng lớn đã tạo ra
áp lực ngày càng mạnh với chính phủ các nƣớc đang phát triển. Mặt khác việc
thực hiện chính sách công nghiệp hóa nông thôn, đô thị hóa, phát triển hệ
thống công nghiệp, dịch vụ nông thôn làm cho tỉ trọng kinh tế thành thị ở các
nƣớc đang phát triển ngày càng tăng lên, tốc độ tăng dân số thành thị cao hơn,

Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
so với tốc độ tăng trƣởng dân số chung và đó chính là xu thế hợp lý trong quá
trình phát triển.
1.1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển xã hội
- Một số chỉ tiêu phản ánh nhu cầu cơ bản của con người
+ Các chỉ tiêu phản ánh mức sống : nhu cầu mức sống vật chất thể hiện ở
nhu cầu hấp thụ lƣợng calo tối thiểu bình quân trên một ngày đêm của con
ngƣời (2100- 2300 calo) đảm bảo khả năng sống và làm việc bình thƣờng, có
xét tới cơ cấu nam nữ, trọng lƣợng cơ thể cũng nhƣ điều kiện khí hậu, môi
trƣờng. Để đảm bảo nhu cầu hấp thụ caroli ở mức tối thiểu, con ngƣời cần
một khoản nhất định để chi tiêu cho lƣơng thực. Nhƣ vậy, chỉ tiêu mức
GNI/ngƣời là thƣớc đo chính thể hiện việc đảm bảo nhu cầu hao phí vật chất
cho dân cƣ. Chỉ tiêu GNI/ngƣời càng cao chứng tỏ khả năng lớn để nâng cao
mức sống vật chất cho con ngƣời.
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh giáo dục và trình độ dân trí: Tỷ lệ ngƣời lớn
biết chữ (từ 15 tuổi trở lên) phân theo giới tính, khu vực; tỷ lệ nhập học các
cấp; số năm đi học trung bình (từ 7 tuổi trở lên); tỷ lệ chi ngân sách cho giáo

Các chỉ tiêu thƣờng sử dụng để đánh giá nghèo đói và bất bình đẳng về
kinh tế gồm: tỷ lệ hộ nghèo trong xã hội có sự phân chia theo từng vùng, giới
tính, dân tộc và theo các tiêu chuẩn quy định hiện hành quốc tế hoặc theo
quốc gia; chỉ tiêu hệ số giãn cách thu nhập xác định mức thu nhập giữa các bộ
phận dân cƣ giàu và nghèo trong xã hội.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIẾN
1.2.1. Một số thành tựu phát triển kinh tế xã hội Việt Nam
Trong những năm qua dƣới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta đã tiến
hành CNH-HĐH nƣớc nhà và thu đƣợc rất nhiều thắng lợi trong đó phải kể
đến là:
1.2.1.1. Về kinh tế :
Từ năm 1996-2000, là bƣớc phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nƣớc. Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh
tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nƣớc ta
trƣớc những thử thách. Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì đƣợc tốc
độ tăng trƣởng tổng sản phẩm trong nƣớc 7%/năm.
Năm 2000-2005, nền kinh tế đạt đƣợc tốc độ tăng trƣởng cao, liên tục,
GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trƣởng đạt 8,4%,
GDP theo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu ngƣời đạt trên
10 triệu đồng, tƣơng đƣơng với 640 USD.

Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14
Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của
GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hƣớng tích cực. Đó là tỷ
trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống
24,5% năm 2000 và đến năm 2008 còn 20,6%. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã
15
dầu khí); đạt trên 35% giá trị sản xuất công nghiệp; thu hút hơn nửa triệu lao
động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp.
Thể chế kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa dần dần đƣợc
hình thành, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định.Chính sách và cơ chế vận hành của
nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa đƣợc xây dựng tƣơng đối
đồng bộ.
Tiềm lực tài chính ngày càng đƣợc tăng cƣờng, thu ngân sách tăng trên
18%/năm; chi cho đầu tƣ phát triển bình quân chiếm khoảng 30% tổng chi
ngân sách. Quan hệ tiền - hàng cơ bản hợp lý, bảo đảm hàng hoá thiết yếu cho
sản xuất và đời sống; giá tiêu dùng bình quân hàng năm tăng thấp hơn mức
tăng GDP.
Về hoạt động xuất nhập khẩu: Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm 2001 –
2005 đã đạt 111 tỉ USD, tăng bình quân 17,5%/năm (kế hoạch là 16%/năm),
khiến cho năm 2005, bình quân kim ngạch xuất khẩu/ngƣời đã đạt 390
USD/năm, gấp đôi năm 2000. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt
mức cao – 40 tỉ USD, tăng 24% so với năm 2005; năm 2007 đạt gần 50 tỉ
USD, tăng 21,5% so với năm 2006; năm 2008 đạt 62,9 tỉ USD tăng 25,8% so
với năm 2007, đƣa tỷ lệ xuất khẩu/GDP đạt khoảng 70%. Nhiều sản phẩm của
Việt Nam nhƣ gạo, cao su, may mặc, giày dép, hải sản… đã có sức cạnh tranh
cao trên thị trƣờng thế giới.
1.2.1.2. Văn hoá -xã hội
Trong lĩnh vực văn hóa – xã hội đã có những tiến bộ, đời sống nhân dân
đựơc cải thiện. Việt Nam đã xây dựng đƣợc một hệ thống giáo dục đầy đủ các
cấp học ở mọi vùng, miền với nhiều loại hình trƣờng lớp với số lƣợng học
sinh đến trƣờng ở các cấp ngày một tăng. Năm học 2008-2009, đã có hơn 17
triệu học sinh, sinh viên theo học trong hơn 37.000 cơ sở giáo dục - đào tạo.
Giáo dục đại học, cao đẳng cũng ngày càng đƣợc mở rộng về quy mô

cập tiểu học. Tỷ lệ biết chữ của số dân từ 15 tuổi trở lên tăng liên tục qua 3
cuộc tổng điều tra (năm 1989 là 88%, năm 1999 là 90%, và 93,5% vào năm
2009), số năm đi học trung bình của ngƣời dân đạt mức 7,3 năm. Việc dạy
chữ dân tộc đã đƣợc đẩy mạnh ở các địa phƣơng, nhờ đó tỷ lệ ngƣời dân tộc
thiểu số mù chữ giảm mạnh.
Việt Nam đƣợc đánh giá là có tiến bộ nhanh hơn so với phần lớn các
nƣớc có thu nhập thấp khác trên thế giới trong việc khắc phục những sự chênh
lệch về giới và về tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi.
Tỷ lệ học sinh tiểu học nhập học đúng độ tuổi đã tăng từ 90% trong thập
niên 1990 lên 96,63% trong năm học 2008-2009.

Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17
Không chỉ quan tâm tới việc phổ cập tiểu học mà Nhà nƣớc còn có sự
quan tâm đặc biệt tới giáo dục mầm non, bậc học tiền đề cho giáo dục tiểu
học. Những thay đổi trong chính sách đãi ngộ đối với giáo viên đã tạo nên sự
phát triển mạnh mẽ của bậc học này trong mấy năm gần đây.
Việc đầu tƣ cho đội ngũ giáo viên nói chung đƣợc chú trọng đặc biệt.
Mạng lƣới trƣờng sƣ phạm rộng khắp cả nƣớc với 10 trƣờng đại học sƣ phạm,
11 trƣờng đại học đa ngành đƣợc nâng cấp từ cao đẳng sƣ phạm (trong đó chủ
yếu là đào tạo sƣ phạm), trên 80 trƣờng cao đẳng tham gia đào tạo giáo viên.
Mạng lƣới y tế đƣợc củng cố và phát triển, y tế chuyên ngành đƣợc nâng
cấp, ứng dụng công nghệ tiên tiến; việc phòng chống các bệnh xã hội đƣợc
đẩy mạnh; tuổi thọ trung bình từ 68 tuổi năm 1999 nâng lên 74,3 tuổi vào
năm 2009.
Công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt, vƣợt
mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Từ năm 2000 đến năm

Dƣơng APEC, trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thƣơng mại thế
giới WTO. Tăng cƣờng quan hệ với các nƣớc đang phát triển, các tổ chức
quốc tế và khu vực. Có quan hệ thƣơng mại với hơn Việt Nam đã có quan
hệ thƣơng mại với 165 nƣớc và vùng lãnh thổ. Trong tổ chức Liên Hiệp
Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp
hành UNDP, UNFPA và UPU, có quan hệ đầu tƣ với 70 quốc gia và vùng
lãnh thổ. Chính phủ liên tục cải thiện môi trƣờng đầu tƣ, tạo thuận lợi cho các
doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc, trong đó đặc biệt coi trọng việc triển khai
chƣơng trình xây dựng pháp luật.
Các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nhƣ đầu tƣ trực tiếp từ nƣớc ngoài
(FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) cũng đều tăng trƣởng khả quan,
đặc biệt là vốn FDI đã có bƣớc phát triển tích cực, tăng mạnh từ năm 2004
đến nay. Năm 2004: 4,5 tỉ USD; 2005: 6,8 tỉ USD; 2006: 10,2 tỉ USD; và năm
2007 nƣớc ta liên tục nhận đƣợc các nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp từ nƣớc ngoài
(FDI) đạt con số kỷ lục: 20,3 tỉ USD. Năm 2008, tuy kinh tế toàn cầu có nhiều
khó khăn lớn trong xu thế suy thoái, song đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đăng ký
tại Việt Nam đạt 64,011 tỉ USD, tăng gấp đôi năm 2007. Giải ngân vốn ODA
đƣợc 2,2 tỉ USD, vƣợt chỉ tiêu kế hoạch đề ra và cao hơn mức năm 2007
(2,176 tỉ USD).
Hoạt động đầu tƣ của Việt Nam ra nƣớc ngoài đã bƣớc đầu đƣợc triển
khai. Các doanh nghiệp Việt Nam đã có một số dự án đầu tƣ ra nƣớc ngoài
nhƣ khai thác dầu ở An-giê-ri, Xin-ga-po, Vê-nê-du-ê-la; trồng cao su ở Lào.
Trong 5 năm qua, khu vực này đóng góp gần 1 tỷ USD/năm vào ngân sách
Nhà nƣớc, tạo việc làm cho gần 800.000 lao động trực tiếp và gần 2 triệu lao
động gián tiếp.

Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
cấu kinh tế, các tiêu chí đánh giá sự phát triển xã hội. Về cơ sở thực tiễn ta nhìn vào
những thành tựu của đất nƣớc và vùng… trong quá trình đổi mới mà Bắc Kạn là
một bộ phận lãnh thổ. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn đó giúp cho việc nghiên cứu
tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn chính xác hơn từ đó có thể đƣa ra
đƣợc những giải pháp và định hƣớng phát triển hợp lý

Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20
CHƢƠNG II: CÁC NGUỒN LỰC TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH BẮC KẠN
2.1. CÁC NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN
2.1.1. Vị trí địa lý
Bắc Kạn là tỉnh miền núi, có tọa độ địa lý 21°48 đến 22°44 độ vĩ Bắc,
105°26 đến 106°15 độ kinh Đông. Phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây
giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên và phía Bắc giáp
tỉnh Cao Bằng.
Thị xã Bắc Kạn cách Thủ đô Hà Nội 170 km về phía Bắc. Quốc lộ 3 nối
từ Hà Nội qua Thị xã Bắc Kạn đến Cao Bằng ra các cửa khẩu biên giới với
Trung Quốc là tuyến giao thông quan trọng để giao lƣu kinh tế, xã hội của
Bắc Kạn với Hà Nội và các tỉnh khác trong vùng.
Bắc Kạn nằm trên đƣờng vành đai 2 với quốc lộ 279 từ Hạ Long (Quảng
Ninh), qua Đồng Mỏ về Bình Gia (Lạng Sơn) đến Chợ Rã (Bắc Kạn) đến
Tuyên Quang rồi kéo dài qua Yên Bái, Lai Châu và Điện Biên Phủ đến cửa
khẩu Tây Trang tỉnh Điện Biên. Đây là tuyến nối Bắc Kạn với các tỉnh trong
vùng Trung du miền núi Bắc Bộ.
Vị trí địa lý của Bắc Kạn ở vào thế khó khăn so với nhiều tỉnh khác trong
vùng, xa trung tâm phát triển kinh tế của vùng, lại không có cửa khẩu biên

tháng nóng nhất là tháng 6 có nhiệt độ khoảng 28°C. Do địa hình phức tạp
nên đã hình thành các vùng tiểu khí hậu khác nhau, nhìn chung khí hậu của
Bắc Kạn tƣơng đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng.
Bắc Kạn chịu ảnh hƣởng của gió Đông Nam về mùa hè và gió mùa Đông
Bắc về mùa Đông. Tổng lƣợng mƣa trung bình hàng năm khoảng 1400-1900
mm, cao nhất vào tháng 7 và thấp nhất vào tháng 2, mùa mƣa từ tháng 2 đến
tháng 9 chiểm khoảng 75-80% tổng lƣợng mƣa trong năm. Độ ẩm không khí
trung bình 82-85%.
2.1.2.3. Tài nguyên đất
Diện tích đất tự nhiên của Bắc Kạn là 486.841 ha (2008), trong đó đất
nông nghiệp (bao gồm cả đất lâm nghiệp) là 371.767 ha chiếm 76,4%, đất phi
nông nghiệp là 18.582 ha chiếm 3,8% và đất chƣa sử dụng là 96.492 ha chiếm
19,8%. [13] Nhìn chung đất đai trong tỉnh Bắc Kạn tƣơng đối màu mỡ, nhiều
nơi tầng đất dầy, có lƣợng bùn cao, thích hợp cho sản xuất nông, lâm nghiệp.
Tuy nhiên ở một số nơi nhƣ Ngân Sơn, Bạch Thông do lớp thảm thực vật bị
mất trong nhiều năm nên đất bị sói mòn, thoái hoá làm cho tầng đất mỏng,
nghèo dinh dƣỡng, khô cằn.
Những loại đất chính nhƣ sau:

Luận văn thạc sỹ Địa lý học Nguyễn Phúc Long Vân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22
- Đất phù sa sông: có diện tích khoảng 761 ha đƣợc phân bố ở ven sông
Cầu, sông Năng, sông Bắc Kạn và tại các huyện Chợ Mới, Na Rì, Ba Bể, thị
xã Bắc Kạn. Loại đất này giàu hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng, rất thuận lợi
trong phát triển nông nghiệp thâm canh.
- Đất phù sa ngòi, suối: có 10.067 ha phân bố dọc theo các triền suối
thuộc lƣu vực sông Năng, sông Cầu và sông Bắc Kạn. Đất có thành phần cơ


23
- Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá vôi: có diện tích 59.728 ha, phân
bố ở hầu khắp các huyện song nhiều nhất là Na Rì, Ba Bể, Bạch Thông. Tầng
đất mỏng nhƣng cấu tƣợng của đất tốt. Hàm lƣợng các nguyên tố vi lƣợng
trong loại đất này nhƣ Ca và Mg rất lớn.
- Đất Feralit vàng nhạt phát triển trên sa thạch: với diện tích 14.632 ha,
loại đất này phân bố chủ yếu ở Na Rì, Ba Bể, Ngân Sơn. Tầng đất trung bình,
thành phần cơ giới nhẹ, hàm lƣợng mùn và chất hữu cơ nghèo. Đất chua, rất
chua và dễ bị xói mòn, bị bạc màu.
- Đất Feralit mùn trên núi cao trên 700 m: loại đất này có diện tích
64.200 ha, phân bố ở các huyện Ngân Sơn, Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông và
Na Rì. Tầng đất mỏng nhƣng hàm lƣợng mùn khá cao do chất hữu cơ phân
giải, loại đất này rất thích nghi với một số loại cây trồng ôn đới.
Bảng 2.1 : Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất
Đơn vị tính: ha
Loại đất
Năm 2008
Tổng diện tích tự nhiên
486.841
I. Đất nông nghiệp
371.767
1. Đất sản xuất nông nghiệp
37.798
2. Đất lâm nghiệp
333.059
3. Đất nuôi trồng thuỷ sản
860
4. Đất nông nghiệp khác
50


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status