BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
ĐINH VIỆT TIẾN
HUY ĐỘNG VỐN
ĐỂ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH ĐỒNG NAI TRONG TIẾN TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA –HIỆN ĐẠI HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
ĐINH VIỆT TIẾN
HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG NAI TRONG TIẾN TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA –HIỆN ĐẠI HÓA
Chuyên ngành : Kinh tế Tài chính – Ngân hàng
Mã s
ố : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “ Huy động vốn để đầu tư phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Đồng Nai trong tiến trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa” là
công trình nghiên c
ứu của bản thân. Các số liệu, kết quả trình bày trong luận
văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước
đây.
Tác giả
Đinh Việt Tiến
Trang
trong thời gian qua
33
2.2.1 Khái quát t́nh h́nh huyđộng vốn đầu tư giai đoạn 2001 - 2008 33
2.2.2 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2001 - 2008 34
2,3
Tác động vốn đầu tư xă hội đối với quá tŕnh phát triển kinh tế - xă hội ở tỉnh
Đồng Nai
39
2,4
Đánh giá chung về những kết quả và tồn tại trong việc huy động vốn cho phát
triển kinh tế - xă hội ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua
48
2.4.1 Những kết quả đạt được 48
2.4.2 Những tồn tại cần khắc phục 49
GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
XĂ HỘI TỈNH ĐỒNG NAI ĐẾN NĂM 2020
3,1 Định hướng phát triển kinh tế - xă hội của tỉnh Đồng Nai 52
3.1.1 Mục tiêu phát triển 52
3.1.2 Một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xă hội 53
3.1.3 Tiềm năng và thách thức 54
3,2 Dự báo nhu cầu vốn đầu tư 57
3,3 Quan điểm huy động vốn 58
MỤC LỤC
Chương 2
Chương 3
Chương 1
3,4 Đánh giá khả năng huy động vốn đầu tư trong thời gian tới 59
3.4.1 Nguồn vốn trong nước 59
3.4.2 Nguồn vốn nước ngoài 60
3,5
2
CNH – HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
3
TCTD
Tổ chức tín dụng
4
TTCK
Thị trường chứng khoán
5
HĐND
Hội đồng Nhân dân
6
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
7
KTTĐPN
Kinh tế trọng điểm phía Nam
8
KCN
Khu công nghiệp
9
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
10
BOT
Build – Operate – Transfer
Xây d
ựng – Khai thác – Chuyển giao
11
Internation Monetary Fund
Qu
ỹ Tiền tệ Quốc tế
18
WB
World Bank
Ngân hàng Th
ế giới
19
ADB
Asian Development Bank
Ngân hàng Phát tri
ển Châu Á
20
ICOR
Incremental Capital Output Rate
H
ệ số sử dụng vốn
- 2 -
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đồng Nai thuộc khu vực Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam (KTTĐPN). Nằm ở cửa ng
õ phía Bắc; Đồng thời là một trung tâm
công nghiệp và đô thị của vùng, Tỉnh có vị trí, vai trò rất quan trọng về phát
triển kinh tế - xã hội, giao lưu thương mại và an ninh quốc phòng của vùng
KTTĐPN. Thời gian vừa qua, sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh
có những bước tiến mạnh mẽ, tạo được bước ngoặc trong thực hiện CNH –
HĐH nền kinh tế và đóng góp tích cực v
ào quá trình phát triển chung của
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG NAI TRONG
TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA “ làm luận văn tốt
nghiệp của mình. Trên cơ sở đó, có một phần hy vọng đây là những đề xuất
thiết thực sẽ được thực hiện vào thực tiễn của tỉnh Đồng Nai.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên c
ứu tổng quan về huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế -
xã h
ội và kinh nghiệm của một số nước trong việc huy động vốn đầu tư.
- Phân tích và đánh giá thực trạng huy động vốn để đầu tư phát triển
kinh tế - xã hội ở tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 - 2008. Rút ra những thành
t
ựu và tồn tại cần hoàn thiện.
- Từ đó, đề xuất các giải pháp cụ thể, đồng bộ, phù hợp với điều kiện
thực tế của tỉnh Đồng Nai nhằm huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế -
xã h
ội trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế - xã
h
ội của tỉnh Đồng Nai.
- Phạm vi nghiên cứu: tình hình huy động vốn đề đầu tư phát triển kinh
tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001 – 2008.
4
. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng kết hợp các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích,
diễn dịch quy nạp để đánh giá nhận xét hiện thực khách quan, dự báo về khả
năng và đưa ra các giải pháp có tính khả thi, ph
ù hợp với thực tiễn của tỉnh
đồng thời
không ngừng tăng thêm khối lượng tài sản quốc gia. Để tạo ra khối
lượng
tài sản mới, phải đầu tư tất cả các yếu tố cần thiết cho hoạt động sản
xuất như: máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, lao động, công nghệ .v.v tất cả
các yếu tố đó được xem là nguồn vốn đầu tư để tạo ra thu nhập, tài sản cho
quốc gia.
Vốn hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ nguồn lực đưa vào hoạt động của
nền kinh tế nhằm mục đích sinh lợi. Do đó, vốn đầu tư không những bao gồm
tiền vốn, máy móc thiết bị, vật tư hàng hóa, lao động, cơ sở hạ tầng, đất đai,
sông, biển …. được con người khai thác và sử dụng; mà vốn đầu tư còn bao
g
ồm cả giá trị những tài sản vô hình như vị trí địa lý, thành tựu khoa học và
công ngh
ệ, phát minh sáng chế …. được sử dụng vào quá trình đầu tư cho nền
kinh tế.
Vốn được hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lực được thể hiện bằng tiền
của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và của quốc gia được vận động với mục đích
sinh lợi.
- 6 -
1.1.2 Vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế - xã hội
Trong một quá trình đầu tư để tạo sự tăng trưởng và phát triển thì yếu
t
ố vật chất có tính tiền đều không thể thiếu được đó là vốn. Chính từ sự phát
tri
ển của các nước cho thấy vốn là một nhân tố đặc biệt quan trọng, là chìa
khóa c
ủa sự thành công về tăng trưởng và phát triển kinh tế, thể hiện:
- V
ốn là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất - kinh doanh:
ột trong những điều kiện cơ bản đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng và
phát triển là đòi hỏi phải đảm bảo sự cân bằng kinh tế vĩ mô, trong đó giữa
ti
ết kiệm và đầu tư phải có sự cân đối để nền kinh tế vừa có đủ vốn cho đầu tư
phát triển, vừa tiêu hóa số tiền tiết kiệm một cách hiệu quả. Vốn chính là hiện
- 7 -
thân của sự kết hợp giữa tiết kiệm và đầu tư. Số tiền tiết kiệm được gọi là vốn
khi
được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định để đưa vào đầu tư. Nền
kinh t
ế có tiết kiệm mới có cơ hội tăng thêm số vốn hiện hữu, qua đó mở rộng
quy mô
đầu tư. Thế nhưng, trong nền kinh tế thị trường, tiết kiệm và đầu tư
đượ
c thực hiện bởi các chủ thể khác nhau. Công chúng quyết định tiết kiệm
bao nhiêu trong thu nh
ập của mình và doanh nghiệp quyết định mở rộng quy
mô
đầu tư ở mức độ nào, tất cả đều là những biến cố độc lập. Vì vậy, giữa tiết
ki
ệm và đầu tư khó ăn khớp với nhau, nên dễ dẫn đến tình trạng nền kinh tế bị
thừa hoặc thiếu vốn làm cho sự phát triển không ổn định, tăng trưởng thấp,
th
ất nghiệp gia tăng … Vì vậy, để vực dậy nền kinh tế và thiết lập sự cân bằng
gi
ữa tiết kiệm và đầu tư đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước trong việc
khuy
ến khích đầu tư nhằm tiêu hóa có hiệu quả số vốn từ tiết kiệm, đồng thời
kích c
ầu bằng những chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý. Ở những nền kinh tế
th
ường tương ứng với sự gia tăng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Vì vậy, muốn
phát tri
ển kinh tế, nền kinh tế nhất thiết phải có vốn để tập trung đầu tư vào cơ
sở hạ tầng. Khi nền kinh tế phát triển cao thì cơ sở hạ tầng cần phải phù hợp
v
ới sự tiến triển của nhu cầu.
M
ặt khác, để đạt được mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, đòi hỏi
nền kinh tế phải tạo ra bộ khung kinh tế cân đối hài hòa cả về cơ cấu ngành
l
ẫn cơ cấu vùng và lãnh thổ. Vốn chính là nhân tố đặc biệt quan trọng để khai
thác hi
ệu quả các nguồn lực tiềm năng, tạo ra động lực đẩy mạnh chuyển dịch
c
ơ cấu. Vì vậy tùy theo điều kiện phát triển trong từng thời kỳ, mỗi nền kinh
t
ế xác lập cơ cấu kinh tế hợp lý, thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước
để đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng và phát triển.
1.2 Các hình th
ức đầu tư và nhu cầu vốn đầu tư:
1.2.1 Các hình thức đầu tư
Hoạt động đầu tư là việc sử dụng vốn để phục hồi và tạo ra năng lực
sản xuất kinh doanh mới. Đó là quá trình chuyển hóa vốn thành các yếu tố
phục vụ cho quá trình sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ để làm tăng tài sản
quốc gia.
Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới hai hình thức:
Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực
tiếp vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư
cũng như phương thức hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra. Hoạt động
Các nước hầu hết thường dành một phần rất lớn từ NSNN để chi cho
giáo dục, đào tạo. Cùng với sự đầu tư của Chính phủ, các nước còn cho phép
huy động thêm các nguồn đầu tư khác của tư nhân, viện trợ của các tổ chức
phi chính phủ …. để phát triển giáo dục – đào tạo.
- Nhu cầu đầu tư cho tiến bộ kỹ thuật, khoa học – công nghệ:
Khoa h
ọc – công nghệ đóng vai trò nền tảng, động lực trong quá trình
CNH -
HĐH. Việc đầu tư vốn cho khoa học – công nghệ sẽ tạo ra cơ sở vật
chất kỹ thuật cho sự phát triển nhanh và bền vững.
- 10 -
Phát triển khoa học – công nghệ là một hoạt động đòi hỏi phải đầu tư
lớn, lâu dài, phải có đủ vốn và phải chấp nhận rủi ro trong quá trình nghiên
c
ứu, áp dụng.
- Nhu cầu đầu tư vốn cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế:
Đầu tư của các doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc cung
c
ấp hàng hóa và dịch vụ cho xã hội, tạo nguồn thu cho ngân sách, tạo công ăn
vi
ệc làm. Trong sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp thường xuyên đầu tư
xây dựng thêm nhà xưởng và trang thiết bị, máy móc công nghệ mới để nắm
l
ấy những cơ hội có lợi, mở rộng sản xuất. Để đạt được các mục tiêu phát
tri
ển kinh tế, các nước rất coi trọng việc thu hút vốn đầu tư cho các doanh
nghi
ệp.
1.3 Các hình th
+ Ti
ết kiệm của NSNN: là chênh lệch dương giữa tổng các khoản thu
mang tính không hoàn l
ại (chủ yếu là thuế) với tổng chi tiêu dùng của ngân
sách. Ti
ết kiệm ở khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn đầu tư của
nhà n
ước. Nghĩa là, số thu nhập tài chính mà ngân sách tập trung được không
th
ể xem ngay đó là nguồn vốn đầu tư của nhà nước, điều này còn tùy thuộc
vào chính sách chi tiêu dùng của ngân sách. Nếu quy mô chi tiêu dùng vượt
quá s
ố thu nhập tập trung thì nhà nước không có nguồn để tạo vốn cho đầu tư.
Đối với các nước đang phát triển, do tiết kiệm của nền kinh tế bị hạn
ch
ế bởi yếu tố về thu nhập bình quân đầu người. Cho nên, để duy trì sự tăng
tr
ưởng kinh tế và mở rộng đầu tư đòi hỏi nhà nước phải gia tăng tiết kiệm
NSNN trên c
ơ sở kết hợp chính sách thuế và chi tiêu.
+ Ti
ết kiệm của doanh nghiệp: là số lãi ròng có được từ kết quả kinh
doanh.
Đây là nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư
phát triển theo chiều rộng và chiều sâu. Quy mô tiết kiệm của doanh nghiệp
phụ thuộc vào các yếu tố trực tiếp như: hiệu quả kinh doanh, chính sách thuế,
s
ự ổn định kinh tế vĩ mô …
+ Tiết kiệm của các hộ gia đình và tổ chức đoàn thể xã hội (khu vực
dân c
Tóm l
ại, tiết kiệm là quá trình nền kinh tế dành ra một phần thu nhập
ở hiện tại để tạo ra nguồn vốn cung ứng cho đầu tư phát triển, qua đó nâng
cao h
ơn nữa nhu cầu tiêu dùng trong tương lai. Tuy vậy, đối với những nền
kinh t
ế đang chuyển đổi, bước đầu thực hiện chính sách công nghiệp hóa do
ngu
ồn tiết kiệm trong nước thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu vốn nên cần phải
huy
động nguồn vốn nước ngoài để tạo ra cú hích cho phát triển kinh tế - xã
hội.
- Huy
động vốn nước ngoài: Nguồn vốn nước ngoài có ưu thế mang
l
ại ngoại tệ cho nền kinh tế. Tuy vậy, trong nó luôn chứa ẩn những nhân tố
tiềm tàng gây bất lợi cho nền kinh tế, đó là sự lệ thuộc, nguy cơ khủng hoảng
nợ, sự tháo chạy đầu tư, sự gia tăng tiêu dùng và giảm tiết kiệm trong nước …
Như vậy, vấn đề huy động vốn nước ngoài đặt ra những thử thách không nhỏ
trong chính sách huy động vốn của các nền kinh tế đang chuyển đổi, đó là:
m
ột mặt, phải ra sức huy động vốn nước ngoài để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn
cho công nghiệp hóa; mặt khác, phải kiểm soát chặt chẽ sự động vốn nước
ngoài
để ngăn chặn khủng hoảng.
- 13 -
Nguồn vốn nước ngoài cũng được hình thành từ tiết kiệm của các chủ
thể kinh tế nước ngoài và được huy động thông qua các hình thức cơ bản sau:
+ Vi
ện trợ phát triển chính thức (ODA):
trực tiếp bằng việc tạo ra những doanh nghiệp. FDI đã và đang trở thành hình
thức huy động vốn nước ngoài phổ biến của nhiều nước đang phát triển khi
mà các lu
ồng dịch chuyển vốn từ các nước phát triển đi tìm cơ hội đầu tư ở
nước ngoài để gia tăng khai thác về lợi thế so sánh.
- 14 -
Khác với nguồn vốn ODA, FDI không chỉ đơn thuần đưa vốn ngoại tệ
vào các nước sở tại, mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản
lý tiên ti
ến và khả năng tiếp cận thị trường thế giới … Tiếp nhận FDI là lợi
th
ế hiển nhiên, mà thời đại tạo ra cho các nước đang phát triển. Song, điều
quan tr
ọng đặt ra cho các nước tiếp nhận là phải biết khai thác triệt để các lợi
th
ế có được của nguồn vốn này nhằm đạt được tổng thể cao về kinh tế. Tuy
nhiên FDI c
ũng có mặt trái của nó, vì nguồn vốn FDI thực chất cũng là những
kho
ản nợ, trước sau nó vẫn không thuộc quyền sở hữu và chi phối của các
nước sở tại, chủ đầu tư bao giờ cũng mưu cầu lợi nhuận tối đa. Ngày hôm nay
nhà
ĐTNN đưa vốn vào đầu tư và khi hết hạn họ lại rút vốn ra giống như các
kho
ản nợ - có vay có trả. Hơn nữa, trong các khoản vay nợ, thông thường
m
ức lãi suất do hai bên thỏa thuận trước, còn trong đầu tư trực tiếp, chủ đầu
t
ư bao giờ cũng mưu cầu lợi nhuận tối đa. Mặt khác, các nước tiếp nhận còn
có th
ư: huấn luyện những người làm công tác bảo vệ sức khỏe, thiết lập các dự
án tín dụng, cung cấp nước sạch nông thôn, ….
- Huy động thông qua thị trường vốn:
+ Phát hành ch
ứng khoán trên TTCK trong nước. Với sự chuyên môn
hóa về mua bán các loại chứng khoán, TTCK được xem như một cơ sở hạ
tầng tài chính để huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi của công chúng trong và
ngoài n
ước, tạo nên nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn cho nền kinh tế. TTCK
có nh
ững ưu điểm là huy động vốn với phạm vi rộng rãi và linh hoạt, có thể
đá
p ứng nhanh chóng những nhu cầu khác nhau của người cần vốn, đảm bảo
hi
ệu quả và thời gian lựa chọn. Còn đối với các nhà đầu tư, trên TTCK, các
hình th
ức bỏ vốn của họ trở nên linh hoạt, vì vậy có thể hạn chế tối đa những
r
ủi ro trong đầu tư… Ngày nay, TTCK đã trở thành một kênh huy động vốn
n
ước ngoài rất hiệu quả; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế
trong nước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới.
+ Phát hành ch
ứng khoán trên thị trường tài chính quốc tế: Ưu điểm
c
ủa phương thức này là huy động vốn trực tiếp, không phải thông qua các tổ
chức tài chính trung gian nên chi phí sử dụng vốn thấp hơn các khoản vay tín
dụng. Người đi vay có thể là doanh nghiệp và chính phủ. Tuy vậy, việc tìm
ki
ếm vốn trên thị trường tài chính quốc tế vẫn còn nhiều khó khăn thử thách,
Từ đẳng thức (1) ở trên chúng ta thấy rằng, khi đầu tư I tăng lên thì
tr
ực tiếp làm cho thu nhập quốc dân Y tăng lên.
Theo lý thuyết Kenyes: khi đầu tư tăng lên một đơn vị thì làm cho Y
t
ăng hơn một đơn vị. Thật vậy, khi thay thế C = a+bY và M = u + vY làm
hàm tiêu dùng và hàm nh
ập khẩu biểu diễn theo Y thì đẳng thức (1) có dạng:
Y = (a + I + G + X - u)/(1- b + v) (2)
Vì b là h
ệ số biến thiên hướng tiêu dùng biên (marginal presensity to
consume), bao g
ồm tiêu dùng trong nước và tiêu dùng nhập khẩu (marginal
presensity to import). Do
đó, (b - v) sẽ lớn hơn 0 và (1- b + v) sẽ nhỏ hơn 1,
t
ức là 1/(1- b + v) sẽ lớn hơn 1.
Từ đẳng thức (2) cho thấy: với các điều kiện khác không đổi thì khi
đầu tư I gia tăng 1 đơn vị thì thu nhập Y sẽ gia tăng hơn 1 đơn vị. Ảnh hưởng
trên g
ọi là ảnh hưởng hệ số nhân (Multiplier effect).
- 17 -
Trong thực tế thì mức độ của ảnh hưởng trên còn tùy thuộc vào năng
lực cung của nền kinh tế. Nếu năng lực cung mà hạn chế thì việc gia tăng tổng
cầu, dù với bất cứ lý do nào, chủ yếu chỉ làm tăng giá cả mà thôi, còn sản
lượng thực tế th
ì không tăng lên bao nhiêu.
Ngược lại, nếu năng lực cung m
à dồi dào thì việc gia tăng tổng cầu
thật sự làm tăng sản lượng như lý thuyết Keynes đã đưa ra ở trên. Năng lực
ột ngành, cho thấy cần thêm bao nhiêu đồng cho đầu tư để tăng thêm một
đơn vị sản lượng. Theo phương trình Harrod – Domar:
- 18 -
∆ Vốn đầu tư
ICOR =
∆ GDP
Suy ra:
∆ Vốn đầu tư
Mức tăng GDP =
ICOR
Công th
ức trên cho thấy mối tương quan tỷ lệ nghịch giữa hệ số
ICOR và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Với tỷ lệ đầu tư/GDP giống nhau, nước
nào có h
ệ số ICOR thấp hơn thì sẽ tạo ra một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
h
ơn. Thực tế từ các nước cho thấy sự khác biệt trong hệ số ICOR giữa các
n
ước đóng vai trò lớn trong việc giải thích sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng
gi
ữa các nước.
Nh
ư vậy hệ số ICOR càng thấp thì chứng tỏ là đầu tư càng hiệu quả.
Hệ số ICOR thấp hơn có nghĩa là cần một tỷ lệ đầu tư GDP thấp hơn để duy
trì cùng m
ột tốc độ tăng trưởng. Tuy nhiên, theo quy luật về lợi tức biên giảm
d
ần (diminishing marginal return of capital) nên khi nền kinh tế càng phát
tri
ển (GDP/đầu người tăng lên) thì hệ số ICOR sẽ gia tăng, lúc này tiền lương
trong l
ĩnh vực phát triển công nghiệp nói riêng và trong toàn bộ nền kinh tế
nói chung. Đầu tư (một phần GDP) ở Đông Á đã tăng mạnh trong khoảng một
phần tư cuối thế kỷ trước, mức đầu tư vốn đã cao hơn các khu vực đang phát
tri
ển khác, nay lại còn cao hơn khoảng 50%. Phần đầu tư tư nhân ở Đông Á
trong t
ổng GDP là nhiều hơn 2/3 so với các khu vực đang phát triển khác.
Đầu tư tư nhân được khuyến khích bởi một môi trường kinh tế vĩ mô, nhìn
chung là tích c
ực và do nhà nước có đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Tư liệu sản
xu
ất nhập khẩu không bị đánh thuế cao cũng góp phần làm tăng nguồn đầu tư
trong nước.
H
ầu hết các nước Đông Nam Á đều coi trọng tiết kiệm theo nghĩa
r
ộng chứ không chỉ tiết kiệm trong chi tiêu hàng ngày. Các nước đó đề cao
tiết kiệm trước hết là trong thu chi ngân sách. Hầu hết các nước này đều thực
hi
ện một chính sách tài chính nghiêm ngặt, đề cao hiệu quả đầu tư, đặc biệt là
coi tr
ọng chính sách khu vực và cơ cấu thể chế, họ thường xuyên sửa đổi
chính sách v
ĩ mô khi những chính sách đó không còn tác dụng. Các Chính
phủ của các nước đó sẵn sàng cắt giảm các chi phí tài chính để kiềm chế lạm
phát t
ới mức cho phép nhằm tạo ra sự ổn định trong đầu tư.
Điều đặc biệt là lãi suất trả cho các dự án đầu tư của ngân hàng thế
giới và các nước Đông Nam Á muốn khích lệ các dự án đầu tư vào nước
Để hỗ trợ cho chiến lược công nghiệp hóa, chính sách tạo vốn mà
(NIC
S
) Châu Á đã thực hiện có những đặc điểm sau:
- Nâng cao tỷ lệ tiết kiệm, gia tăng nguồn vốn cho đầu tư: Ở Đài
Loan, trong thập niên 1950 mức tiết kiệm (so sánh với mức sản xuất của toàn
dân) còn ch
ưa tới 10%, mức đầu tư là 40% phải nhờ viện trợ Mỹ tiếp vốn.
Mu
ốn đột phá cái vòng luẩn quẩn của các quốc gia lạc hậu thu nhập thấp, tiết
ki
ệm ít, trưởng thành chậm. Để đạt mục tiêu tự lực trưởng thành, Chính phủ
Đài loan quyết định thực hiện chính sách lãi suất thực dương, giải thích kêu
g
ọi dân trong nước giảm mức sinh sản, bớt tiêu sài, tăng tiết kiệm. Một mặt
áp d
ụng chính sách đánh thuế cao trên sản phẩm cao cấp hạn chế tiêu phí; mặt
khác khai thác hi
ệu quả viện trợ Mỹ để tăng trưởng kinh tế, đồng thời lợi
dụng chính sách tiền tệ, sáng lập quỹ tiết kiệm, nâng cao lãi suất để khuyến
khích ti
ết kiệm và ưu tiên miễn thuế lợi tức cho số tiết kiệm. Vì vậy, quỹ tiết
ki
ệm gia tăng mạnh khắp trong nước. Đến năm 1972, lãi suất tiết kiệm đã