xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý phục vụ công tác quản lý đất đai và phát triển kinh tế xã hội tỉnh bắc kạn - Pdf 21

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội thông tin, thông tin địa lý giữ một vai trò rất quan trọng. Khi
cung cấp bất kỳ một thông tin gì hoặc sự kiện gì, nhà cung cấp thông tin cần phải cho
biết vật ấy, sự kiện ấy xảy ra ở đâu, khi nào. Đó chính là thông tin địa lý - Geographic
information [15].
Hệ thống thông tin địa lý- GIS (Geographic Information System) ra đời từ đầu
thập niên 60 ở Canada, được ứng dụng trong công tác quản lý tài nguyên với tên gọi
là “Canada Geographic Information System” bao gồm các thông tin về nông nghiệp,
lâm nghiệp, sử dụng đất và động vật hoang dã. Tuy nhiên thời gian đầu GIS cũng chỉ
được một vài cơ quan chính quyền ở khu vực Bắc Mỹ quan tâm, nghiên cứu. Mãi đến
đầu thập niên 80 của thế kỉ trước, khi phần cứng máy tính phát triển mạnh với tính
năng cao, giá rẻ, đồng thời với phát triển nhanh về lý thuyết và ứng dụng cơ sở dữ
liệu cùng với nhu cầu cần thiết về thông tin địa lý làm cho công nghệ GIS ngày càng
được quan tâm hơn [15].
Từ khi ra đời cho đến nay công nghệ GIS trên thế giới đã có sự phát triển nhảy
vọt về chất, trở thành một công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý và trợ giúp cho
việc ra quyết định của các nhà quản lý.
CSDL nền địa lý có thể được thành lập bằng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau:
Ảnh hàng không, ảnh viễn thám; Bản đồ địa chính dạng số; Bản đồ địa hình truyền
thống dạng số…
CSDL nền địa lý có vai trò rất lớn trong công tác quản lý đất đai và phát triển
kinh tế xã hội, cụ thể như:
+ Cung cấp thông tin nhanh và chuẩn xác, tăng cường năng lực quản lý đất đai và
tiết kiệm chi phí xây dựng dữ liệu thông qua việc chia sẻ và trao đổi tài nguyên dữ liệu.
+ Quản lý trong công tác quy hoạch sử dụng đất, thống kê đất đai, định giá đất.
+ Quản lý tài nguyên khoáng sản, nước, khí tượng thuỷ văn và giám sát, bảo
vệ môi trường.
+ Hỗ trợ nhanh việc xây dựng cơ sở hạ tầng dữ liệu không gian và giải pháp
triển khai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, trong đó phân công thực hiện cụ thể
theo kinh phí đầu tư và tiến độ ưu tiên thực hiện giữa các sở, ngành tại địa phương.

địa lý phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Giúp học viên củng cố những kiến thức đã
học trong nhà trường và bước đầu tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học.
- Ý nghĩa trong thực tiễn: Thành lập cơ sở dữ liệu địa lý, ứng dụng khai thác
cơ sở dữ liệu địa lý phục vụ phát triển kinh tế xã hội cho các ngành của địa phương.
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về hệ thông tin địa lý (GIS)
1.1.1. Định nghĩa GIS
• Hệ thống – Công nghệ máy tính và các hạ tầng hỗ trợ khác
• Thông tin – Dữ liệu và Thông tin
• Địa lý – Thế giới thực, các thực thể không gian
Giới thiệu một số định nghĩa về GIS của một số tác giả.
- GIS là một hệ thống tự động thu thập, lưu trữ, truy vấn, phân tích và hiển thị
dữ liệu không gian (Clarke, 1995) [15].
- GIS là một trường hợp đặc biệt của một hệ thống thông tin với CSDL gồm
những đối tượng, những hoạt động hay những sự kiện phân bố trong không gian được
biểu diễn như những điểm, đường, vùng trong hệ thống máy tính. Hệ thống địa lý xử
lý, truy vấn dữ liệu theo điểm, đường, vùng phục vụ cho những hỏi đáp đặc biệt
(Dueker, 1979) [15].
- Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống bao gồm bốn khả năng xử lý dữ
liệu địa lý là: (1) nhập dữ liệu, (2) quản lý dữ liệu (bao gồm lưu trữ và truy xuất), (3)
gia công và phân tích dữ liệu, (4) xuất dữ liệu (Stan Aronoff 1993)
- Công nghệ dựa trên máy tính và phương pháp để thu thập, quản lý, phân tích,
mô hình và mô tả dữ liệu địa lý cho các ứng dụng khác nhau
- Một hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu cho mục
đích thu thập, lưu trữ, phân tích và hiển thị dữ liệu không gian cho mục đích hỗ trợ ra
quyết định và nghiên cứu

con người cần phải có những quyết định chính xác và kịp thời. Những quyết định đó
phải được thực hiện sau khi thu thập thông tin, dữ liệu từ thế giới thực và phân tích
xử lý nó theo một quan điểm nào đó. Những quyết định này tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp trở lại thế giới thực theo khuynh hướng của người xử lý và ra quyết định.
Nếu quyết định đó mang lại hiệu quả tích cực thì được đánh giá là tốt, và ngược lại.
Có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của GIS trong việc
quản lý, xử lý các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường,…Vì vậy, các phần mềm GIS
được bán rất nhanh mặc dù người sử dụng vẫn còn gặp phải một số vấn đề về việc
không tương thích với nhau vì chưa có một tiêu chuẩn thống nhất. Và đặc biệt các
chương trình giảng dạy cũng càng được phổ biến và chuẩn hoá [14].
1.1.3. Các chức năng của hệ thống thông tin địa lý GIS
Một hệ thống thông tin địa lý có các chức năng cơ bản sau:
+ Nhập dữ liệu
+ Thao tác dữ liệu
4
+ Quản lý dữ liệu
+ Truy vấn và phân tích
+ Hiển thị
Nhập dữ liệu: Trước khi dữ liệu địa lý có thể được dùng cho GIS, dữ liệu này
phải được chuyển sang dạng số thích hợp. Quá trình chuyển dữ liệu từ bản đồ giấy
sang các file dữ liệu dạng số được gọi là quá trình số hoá.
Công nghệ GIS hiện đại có thể thực hiện tự động hoàn toàn quá trình này với
công nghệ quét ảnh cho các đối tượng lớn; những đối tượng nhỏ hơn đòi hỏi một số
quá trình số hoá thủ công. Ngày nay, nhiều dạng dữ liệu địa lý thực sự có các định
dạng tương thích GIS. Những dữ liệu này có thể thu được từ các nhà cung cấp dữ liệu
và được nhập trực tiếp vào GIS.
Thao tác dữ liệu: Có những trường hợp các dạng dữ liệu đòi hỏi được chuyển
dạng và thao tác theo một số cách để có thể tương thích với một hệ thống nhất định.
Ví dụ, các thông tin địa lý có giá trị biểu diễn khác nhau tại các tỷ lệ khác nhau (hệ
thống đờng phố được chi tiết hoá trong file về giao thông, kém chi tiết hơn trong file

Phân tích liền kề:
Ví dụ như có câu hỏi:
+ Tổng số khách hàng trong bán kính 10 km khu hàng?
+ Những lô đất trong khoảng 60 m từ mặt đường?
Để trả lời những câu hỏi này, GIS sử dụng phương pháp vùng đệm để xác định
mối quan hệ liền kề giữa các đối tượng.
Phân tích chồng xếp: Chồng xếp là quá trình tích hợp các lớp thông tin khác
nhau. Các thao tác phân tích đòi hỏi một hoặc nhiều lớp dữ liệu phải được liên kết vật
lý. Sự chồng xếp này, hay liên kết không gian, có thể là sự kết hợp dữ liệu về đất, độ
dốc, thảm thực vật hoặc sở hữu đất với định giá thuế.
Hiển thị: Với nhiều thao tác trên dữ liệu địa lý, kết quả cuối cùng được hiển
thị tốt nhất dưới dạng bản đồ hoặc biểu đồ. Bản đồ khá hiệu quả trong lưu giữ và trao
đổi thông tin địa lý. GIS cung cấp nhiều công cụ mới và thú vị để mở rộng tính nghệ
thuật và khoa học của ngành bản đồ. Bản đồ hiển thị có thể được kết hợp với các bản
báo cáo, hình ảnh ba chiều, ảnh chụp và những dữ liệu khác (đa phương tiện).
1.2. Cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý
1.2.1. Khái niệm về CSDL nền thông tin địa lý
CSDL nền thông tin địa lý là một sản phẩm được xây dựng từ đối tượng địa lý
dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định (ví dụ: OGC, W3C, ISO TC211,
OPENGIS ), có khả năng mã hoá, cập nhật và trao đổi qua các dịch vụ truyền tin
hiện đại. Định dạng mở, không phụ thuộc vào phần mềm gia công dữ liệu. [19]
6
CSDL nền thông tin địa lý bao gồm những thông tin mô tả thế giới thực ở mức
cơ sở, có độ chi tiết và độ chính xác đảm bảo để làm nền cho các mục đích xây dựng
các hệ thống thông tin địa lý chuyên đề khác nhau. Mỗi khu vực địa lý cần được mô
tả bởi loại dữ liệu “cơ sở” phù hợp sao cho mức độ khái lược và thu nhỏ mô hình
thực địa là ít nhất, cho phép đủ phục vụ đa mục đích. Theo đó, tuỳ thuộc và mô hình
quản lý, khai thác ứng dụng, cập nhật sản phẩm dữ liệu địa lý để định hướng cho
công tác đo đạc xây dựng CSDL nền trên phạm vi cả nước hoặc theo khu vực địa lý
phục vụ đa mục đích (Ví dụ CSDL nền địa lý ở tỷ lệ 1/10.000 bao trùm toàn bộ lãnh

các quan hệ về không gian, cũng như thời gian
- Các thao tác: là các hành vi của đối tượng địa lý tại một số điều kiện nhất định
1.2.3. Nguồn dữ liệu để xây dựng dữ liệu địa lý
Khi xây dựng dữ liệu địa lý thì việc đầu tiên phải quan tâm là: dữ liệu sẽ được
xây dựng từ nguồn nào, chất lượng nguồn dữ liệu ra sao…Có rất nhiều nguồn dữ liệu
để có thể xây dựng dữ liệu địa lý.
- Ảnh hàng không, ảnh viễn thám
- Bản đồ địa chính dạng số
- Bản đồ địa hình truyền thống dạng số
- Sản phẩm công nghệ Lidar và chụp ảnh số.
Tùy thuộc vào khả năng, điều kiện và yêu cầu sản phẩm dữ liệu có thể có
nhiều nguồn đầu khác nhau và với mỗi loại nguồn thông tin đầu vào thì sẽ có chất
lượng dữ liệu tương ứng. [4]
1.3. Ứng dụng của GIS ở các nước trên thế giới và Việt Nam
GIS có khả năng ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực kinh tế kỹ thuật khác nhau
như: địa chất, thổ nhưỡng, môi trường, lâm nghiệp, thuỷ lợi, dầu khí, an ninh, quy
hoạch đô thị, quy hoạch giao thông…
Ứng dụng cơ sở dữ liệu thông tin địa lý GIS phục vụ phát triển kinh tế xã hội
trên địa bàn tỉnh có khả năng ứng dụng rộng lớn và có kết quả cao:
- Ứng dụng trong quản lý đường địa giới các cấp trên địa bàn tỉnh, hỏi đáp
thông tin, cập nhật dữ liệu…
- Ứng dụng trong quản lý dữ liệu cơ sở đo đạc trên địa bàn tỉnh.
- Ứng dụng trong việc quản lý, quy hoạch, xây dựng khu vực dân cư, cơ sở hạ tầng.
- Ứng dụng trong xây dựng nền địa hình và mô hình số độ cao.
- Ứng dụng trong xây dựng, quy hoạch giao thông, thuỷ lợi
1.3.1. Tình hình ứng dụng GIS trên thế giới
GIS bắt đầu được xây dựng ở Canada từ những năm 60 của thế kỉ 20 và được
ứng dụng ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau trên toàn thế giới. Sau khi vệ tinh quan sát
trái đất Landsat đầu tiên được phóng vào năm 1972, các dữ liệu viễn thám được xem
8

thống tưới tiêu; tính toán sự xói mòn/bồi lắng trong hồ chứa nước; nghiên cứu đánh giá
ngập lũ); Kinh tế nông nghiệp (điều tra dân số/nông hộ; thống kê; khảo sát kỹ thuật
canh tác; xu thế thị trường của cây trồng); Phân tích khí hậu (hạn hán; các yếu tố thời
9
tiết; thống kê); Mô hình hoá nông nghiệp (ước lượng/tiên đoán năng suất cây trồng);
Chăn nuôi gia súc/gia cầm (thống kê; phân bố; khảo sát và theo dõi diễn biến ). [19]
1.3.2. Tình hình ứng dụng GIS ở Việt Nam
Hiện nay GIS đã từng bước được áp dụng và phổ biến ở Việt Nam, các trường
đại học, các viện nghiên cứu đã tiến hành áp dụng GIS trong việc thực thi các kế
hoạch và dự án của mình. Tuy nhiên việc xây dựng và bảo trì các số liệu GIS ở các cơ
quan, đơn vị chủ yếu phục vụ cho mục đích riêng của mình. Do vậy giữa các cơ quan,
các hệ thống thu thập và biên tập số liệu là khác nhau, dẫn đến việc trao đổi liên kết
dữ liệu gặp nhiều khó khăn phức tạp. Trong khi đó việc phát triển hệ thống thông tin
địa lý đòi hỏi phải mang tính chất liên ngành, liên quốc gia, do vậy vấn đề chuyển
hoá dữ liệu là yêu cầu khách quan và cần phải giải quyết để có thể áp dụng rộng rãi
vào các ngành, lĩnh vực kinh tế hiện nay. [19]
Việc nghiên cứu ứng dụng GIS đã được thực hiện ở các cơ quan:
- Cục bản đồ Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng;
- Bộ tài nguyên – môi trường;
- Viện điều tra quy hoạch –Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn;
- Trung tâm viễn thám và GEOMATIC;
- Trường Đại học Mỏ- Địa Chất;
Ứng dụng GIS trong đánh giá đất đai ở Việt Nam được thực hiện năm 1990
với sự trợ giúp của FAO trong dự án nhằm xây dựng “Bản đồ vùng sinh thái Đồng
bằng sông Hồng” tỷ lệ 1:25000, trong đó các yếu tố về đất, địa hình, thuỷ văn, khí
hậu, sử dụng đất được kết hợp và phân tích bằng kỹ thuật GIS.
Ngoài ra công nghệ GIS đã được nghiên cứu ứng dụng trong công tác quản lý,
lưu trữ hồ sơ đất đai phục vụ cho công tác quản lý nguồn thông tin đất đai.
- Một số ứng dụng GIS ở Việt Nam vào công tác quy hoạch và quản lý đất đai: [28]
+ Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá môi trường chiến lược quy hoạch

kinh tế - xã hội gắn liền với thông tin bản đồ để làm CSDL địa lý dùng chung và
cùng với các kênh thông tin khác như: CSDL nền địa lý, tài nguyên môi trường, giao
thông góp phần hỗ trợ lãnh đạo khi cần ra quyết định lập dự án đầu tư.
- Hỗ trợ các ứng dụng GIS trong quản lý chuyên môn đặc biệt là việc tổng hợp
thông tin để hỗ trợ ra quyết định đối với các bài toán QHPTKTXH, góp phần đầu tư
có hiệu quả, hạn chế chồng chéo lãng phí.
- Các ứng dụng GIS được áp dụng vào các nghiệp vụ hàng ngày tại các sở,
ban, ngành của tỉnh hoặc có những hỗ trợ đáng kể để dần tiến tới thay đổi cải tiến
theo hướng tự động hoá trong nghiệp vụ.
- CSDL địa lý GISHue cung cấp hiện trạng dữ liệu nền địa lý tự nhiên, kinh tế xã
hội với nội dung và cấu trúc theo niên giám thống kê mới nhất tại thời điểm xây dựng dữ
11
liệu. Tạo một công cụ thuận tiện để sở, ban, ngành của tỉnh có thể cập nhật thông tin mới
nhất theo các số liệu của các bộ phận tác nghiệp để đáp ứng các nhiệm vụ theo dõi báo
cáo và tham mưu cho lãnh đạo tỉnh trong việc đầu tư phát triển KT - XH
- Độ chính xác về không gian của đối tượng địa lý; độ chính xác CSDL và
mức độ thông tin của dữ liệu thuộc tính hoàn toàn phụ thuộc và tuân theo nguồn tài
liệu do các ngành cung cấp.
- Nội dung thông tin và các ứng dụng GIS phải có khả năng đáp ứng các yêu
cầu tác nghiệp một cách tốt nhất trong việc thực thi các nhiệm vụ hiện đang được
triển khai tại các đơn vị như: Hỗ trợ lãnh đạo tỉnh kịp thời và đúng đắn trong các
quyết định đầu tư, quy hoạch phát triển kinh tế, ổn định đời sống văn hoá – xã hội
góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Để đảm bảo yêu cầu này phân hệ GIS
QHPTKTXH đòi hỏi phải có khả năng kết nối, chồng xếp thông tin thuộc các phân hệ
khác trong toàn bộ hệ thống GISHue như: Điều kiện tự nhiên tài nguyên môi trường,
giao thông, du lịch, thông tin kinh tế - xã hội (nếu trung tâm tích hợp GISHue có thể
kết nối được).
- Hệ thống phải có khả năng cho phép cập nhật thông tin theo định kỳ, cho
phép tiếp tục hoàn thiện, nâng cấp để phát triển bền vững. Phần mềm ứng dụng xây
dựng CSDL tỉnh TT.Huế được xây dựng phải sát với các hoạt động chuyên môn và

dạng: “Hồ sơ”, “Thửa đất”, “Chủ sử dụng” theo nhiều thông tin chính xác theo yêu cầu.
Ứng dụng GIS trong quản lý đất đai cụ thể tại tỉnh Tiền Giang
Tạo ra công cụ hiện đại trong việc vận hành và khai thác CSDL về tài nguyên
đất đai, cung cấp thông tin nhanh và chuẩn xác, tăng cường năng lực quản lý đất đai
và tiết kiệm chi phí xây dựng dữ liệu thông qua việc chia sẻ và trao đổi tài nguyên dữ
liệu. Ngoài ra, ứng dụng công nghệ GIS cũng đem lại tiết kiệm rất lớn về thời gian và
nhân lực trong lĩnh vực quản lý tài nguyên và giám sát môi trường.
Ứng dụng GIS trong quản lý đất đai của tỉnh góp phần tạo giải pháp mở rộng
triển khai ứng dụng GIS thích hợp cho công tác quản lý và phát triển kinh tế xã hội
bền vũng, trong đó cơ sở dữ liệu nền và dùng chung được chia sẻ phục vụ trong phát
triển KT-XH như sau:
- Hỗ trợ nhanh việc xây dựng cơ sở hạ tầng dữ liệu không gian và giải pháp
triển khai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, trong đó phân công thực hiện cụ thể
theo kinh phí đầu tư và tiến độ ưu tiên thực hiện giữa các sở, ngành, địa phương.
- Tận dụng và khai thác các dữ liệu không gian GIS hiện có của tỉnh (từ các
đơn vị đã triển khai trước hoặc các đề tài đã thực hiện) dữ liệu đã được chuyển đổi
theo hệ tham chiếu thống nhất, tạo cơ sở để phát triển nhiều ứng dụng tiếp theo cho
các đơn vị có liên quan.
- Các dữ liệu này có thể được cập nhật nhanh chóng bởi ảnh vệ tinh độ phân
giải cao, xu hướng tích hợp công nghệ sẽ nhanh chóng được phổ biến.
13
- Góp phần triển khai nhanh các dự án ứng dụng GIS trong quản lý đô thị, giao
thông, công nghiệp, du lịch, tài nguyên khoáng sản, nuôi trồng thuỷ sản,… nhằm
nhanh chóng đem lại hiệu quả đầu tư của việc ứng dụng GIS.
1.4. Giới thiệu một số phần mềm phục vụ cho công tác chuẩn hoá, xây dựng cơ
sở dữ liệu địa lý
1.4.1. Hệ thống phần mềm thành lập bản đồ, chuẩn hoá dữ liệu Mapping – Office
1.4.1.1. Microstation
Microstation là phần mềm trợ giúp thiết kế (CAD) và là môi trường đồ hoạ rất
mạnh cho phép xây dựng, quản lý các đối tượng đồ họa thể hiện các yếu tố bản đồ,

1.4.1.7. EkConvert: Là phần mềm của công ty EK, được sử dụng để chuyển đổi
định dạng dữ liệu từ DGN sang Geodatabase (cấu trúc dữ liệu chuẩn) để quản
lý trên hệ thống dữ liệu địa lý.
1.4.2. Phần mềm ArcGIS
ArcGIS là phần mềm của Viện nghiên cứu môi trường Mỹ (ESRI –
Environmental Systems Research Institute). ArcGIS mang lại cho người sử dụng khả
năng quản lý, truy vấn và phân tích dữ liệu một cách nhanh chóng, rất thuận tiện
trong việc thao tác, ứng dụng.
ArcGIS là một phần mềm GIS có thể đồng thời quản lý cả dữ liệu không gian
và dữ liệu thuộc tính. ArcGIS có thể trao đổi dữ liệu đồ họa với các phần mềm đồ họa
khác, ngoài ra ArcGIS còn được sử dụng để nắn ảnh, số hoá các đối tượng trên nền
ảnh (Raster), sửa chữa, biên tập dữ liệu và trình bày bản đồ.
Hệ thống ArcGIS là một bộ tích hợp các sản phẩm phần mềm với mục tiêu
xây dựng một hệ thống thông tin địa lý (GIS) hoàn chỉnh. Hệ thống này có thể thực
hiện các chức năng về GIS trên máy trạm, server, dịch vụ web hay thiết bị di động.
Các kỹ thuật này cho phép người dùng có được các công cụ quản lý một hệ thống
GIS phức tạp.
ArcGIS sử dụng những mô hình dữ liệu GIS thông minh cho trình bày dữ liệu
địa lý và cung cấp tất cả những công cụ cần thiết để tạo ra và làm việc với dữ liệu địa
lý như: biên tập và tự động hoá dữ liệu, quản lý dữ liệu, quản lý siêu dữ liệu, phát
triển dữ liệu và ứng dụng nó trên mạng Internet…….
Những ưu điểm nổi trội của ArcGIS:
- Tính tương thích cao
- Là hệ thống đa chức năng
- Tính mềm dẻo
- Tạo ứng dụng thông qua giao diện Web
- Hỗ trợ các nhà phát triển hệ thống
- Quản lý dữ liệu tích hợp và môi trường làm việc cộng tác.
15
Hình 1.1 Hệ thống ArcGIS

này là khả năng chạy đồng thời các sản phẩm ArcGIS mở rộng trên các phần mềm
ArcGIS Desktop.
ArcGIS Desktop bao gồm một hệ kết hợp với ba ứng dụng chính: ArcMap,
ArcCatalog và ArcToolbox.
*. ArcCatolog
- ArcCatalog: dùng để lưu trữ, quản lý hoặc tạo mới các dữ liệu địa lý
+ Tạo mới một cơ sở dữ liệu
+ Explore và tìm kiếm dữ liệu
+ Xác định hệ thống toạ độ cho cơ sở dữ liệu
*. ArcMap
ArcMap để xây dựng , hiển thị, xử lý và phân tích các bản đồ, tạo các bản đồ từ rất
nhiều dữ liệu các dữ liệu khác nhau, thêm trường dữ liệu thông tin, truy vấn dữ liệu
* Để bắt đầu với ArcGIS vào Starst\Progam\ArcGIS\ArcMap. Xuất hiện bảng sau:
Hình 1.5 Thao tác với ArcMap
Có 3 sự lựa chọn:
18
- A new empty map: Mở bản đồ mới
- A template: Mở bản đồ mẫu có sẵn
- An existing map: Mở bản đồ đã có
* Nhập dữ liệu : Để nhập dữ liệu vào phần mềm ArcMap nhấp chuột vào biểu
tượng trên thanh Standard. Mỗi một file nhập vào sẽ ứng với một Layer trong Arcmap.
* Layer
Trong Table of contents (TOC) thể hiện tất cả các layer trên bản đồ. Hộp
bên cạnh mỗi layer cho biết layer nào đang được được hiển thị trong Dataframe. Thứ
tự sắp xếp các layer trong TOC cũng là thứ tự hiển thị trên dưới của các đối tượng đồ
hoạ trên bản đồ.
Hình 1.6 Thao tác mở các lớp thông tin CSDL

19
DataFrame:

ArcGIS Desktop là phần mềm tương đối mềm dẻo tương thích với các phần
mềm đồ hoạ khác trong quá trình nhập và xuất dữ liệu cũng như từ các nguồn dữ liệu
bản đồ giấy hay ảnh. ArcGIS Desktop có thể làm việc với các nguồn dữ liệu sau:
- Nhập dữ liệu từ các phần mềm khác như phần mềm Microstation, Map info,
Autocad, Excel,…Các dữ liệu này có thể hiển thị như chức năng tham khảo hoặc
chuyển sang định dạng của ArcGIS để tiến hành biên tập.
- Số liệu nhập trực tiếp dựa trên nền ảnh: Trong trường hợp dữ liệu đầu vào là
file ảnh như ảnh quýét bản đồ, ảnh hàng không ta cần phải tiến hành số hoá đối tượng
bằng các công cụ trong ArcGIS để chuyển về file dữ liệu dạng vectơ.
- File text chứa toạ độ X, Y của các đối tượng dạng điểm
1.4.2.4. Khuôn dạng dữ liệu
Dữ liệu lưu trữ trong ArcGIS được lưu trữ ở 3 dạng: shapefile, coverages,
geodatabase.
- Shape files: lưu trữ cả dữ liệu khụng gian lẫn dữ liệu thuộc tính. Tuỳ thuộc
vào các loại đối tượng không gian mà nó lưu trữ, Shape files sẽ được hiển thị trong
ArcCatolog bằng 1 trong 3 biểu tượng sau: điểm, đường và vùng.
Về thực chất shape file không phải là 1 file mà là 5-6 file có tên giống nhau
nhưng đuôi khác nhau. 4 file quan trong nhất của shape file là các file có đuôi:
*.shp – chứa các đối tượng không gian (Geometry)
*.dbf – bảng thuộc tính
*.shx – chỉ số để liên kết đối tượng với bảng thuộc tính
21
*.prj – xác định hệ quy chiếu của shape file
- Coverages: lưu trữ cỏc dữ liệu khụng gian, thuộc tính và topology. Các dữ
liệu không gian được hiển thị ở dạng điểm, đường, vùng và ghi chú.
- GeoDatabase: là một CSDL được chứa trong một file có đuôi là *.mdb. Khác
với shape file, GeoDatabase cho phép lưu giữ topology của các đối tượng. Cấu trúc
của GeoDatabase như sau:
Hình 1.8 Cấu trúc GeoDatabase
Trong GeoDatabase có 1 hay nhiều Feature Dataset. Feature Dataset là một

23
+ Lớp mạng lưới thủy văn
Mạng lưới thủy văn bao gồm hệ thống sông suối tự nhiên, kênh mương, đê
điều, hồ, đầm, ao, các công trình liên quan (đập, cống thông dòng, bờ kè, trạm bơm )
và hệ thống thoát nước… Khi biểu hiện trên bản đồ phải kèm theo tên gọi và hướng
dòng chảy. Đường bờ nước cao nhất hoặc mực nước tại thời điểm điều tra. Khi đo vẽ
khu dân cư cần thể hiện chính xác các tuyến cống thoát nước. Các tuyến thủy văn có
chiều rộng lớn hơn 0.1mm trên bản đồ thì vẽ hai nét, còn với chiều rộng nhỏ hơn thì
vẽ một nét dọc theo trục chính.
+ Lớp địa giới hành chính
Biểu thị chính xác đơn vị hành chính, các đường địa giới quốc gia, tỉnh,
huyện, xã, các mốc địa giới và các điểm ngoặt của các đường địa giới. Các đường địa
giới phải phù hợp hồ sơ lưu trữ về địa giới hành chính các cấp. Ngoài ra, phải có các
thông tin về tên, diện tích của các đơn vị hành chính, thông tin về chiều dài, các đơn
vị hành chính liền kề, hiện trạng pháp lý (xác định hay không xác định) của đường
địa giới…Ta cũng có thể tách riêng thành từng lớp địa giới hành chính cho từng cấp
hành chính: lớp địa giới tỉnh, lớp địa giới huyện, lớp địa giới xã.
+ Lớp hạ tầng dân cư
Nhóm đối tượng hạ tầng dân cư bao gồm tất cả các yếu tố liên quan đến dân cư,
kinh tế, xã hội như: các khu dân cư, trường học, bệnh viện, các công trình kiến trúc đặc
biệt, doanh trại quân đội, ủy ban nhân dân các cấp, nghĩa trang, các di tích lịch sử, văn
hóa, đền, chùa, các nhà máy, xí nghiệp… Các vùng dân cư là một yếu tố quan trọng
trong cơ sở dữ liệu, nó ảnh hưởng đến công tác quản lý, quy hoạch các dự án. Việc xây
dựng cơ sở dữ liệu phải thu thập đầy đủ các thông tin về sự phân bố dân cư, quy mô
dân số, các thông tin dữ báo về dân cư, loại hình dân cư (đô thị hay nông thôn)… Đối
với các yếu tố phải thu thập các thông tin liên quan cần thiết như tên, địa chỉ…
+ Lớp thông tin hiện trạng sử dụng đất.
Đây là các thông tin về diện tích sử dụng đất của các công trình công cộng,
diên tích đất công nghiệp, diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất giao thông, đất ở…
Ta cũng cần thể hiển rõ ranh giới các loại loại phủ bề mặt và diện tích của từng loại

dụng cho đa mục đích, đa người sử dụng như cơ sở dữ liệu lưới điện phân phối, cơ sở
dữ liệu cấp, thoát nước…
Chuẩn về khuôn dạng dữ liệu bao gồm:
- Chuẩn về dạng file
- Chuẩn về khuôn dạng file vật lý sử dụng trao đổi và phân phối thông tin
Thông tin dữ liệu thường được lưu dưới dạng DXF hoặc DGN. Hai file này
đã được chuẩn hóa do Nhà nước ban hành.
+ Chuẩn về mô hình dữ liệu
25

Trích đoạn Nội dung các bước trong quy trình Phương pháp nghiên cứu Các bước chuẩn hoá cơ sở dữ liệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status