1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM T.P. HỒ CHÍ MINH LÊ VĂN NHẤT
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH ĐẮK LẮK TRONG
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số chuyên ngành: 62.31.05.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ HỌC
các Cụm và Khu công nghiệp; các Khu du lịch quốc gia (Yok Đôn) và Điểm du lịch
quốc gia (Hồ Lắk), Cụm du lịch (Buôn Ma Thuột và phụ cận),
Mặc dù đã đạt đƣợc nhiều kết quả khả quan, nhƣng kinh tế Đắk Lắk đang đối
mặt với nhiều thách thức: nền kinh tế vẫn trông cậy nhiều vào nông, lâm nghiệp (tỉ
trọng cao thứ 2 ở vùng TN và thứ 3 cả nƣớc), khu vực công nghiệp còn nhỏ bé
(18,5% năm 2010), chuyển dịch CCKT còn chậm, cơ sở hạ tầng (CSHT) và cơ sở
vật chất (CSVC) kỹ thuật chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu CNH, HĐH; GDP/ngƣời còn
thấp (đứng thứ 4/5 tỉnh ở vùng TN và thứ 47/63 tỉnh, TP cả nƣớc. Tỉ lệ hộ nghèo,
nhất là hộ dân tộc ít ngƣời còn cao (chiếm 21,9% năm 2010, cao hơn mức trung
bình cả nƣớc 14,2%).
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lần thứ XV, nhiệm kỳ
2010- 2015 đã xác định phƣơng hƣớng chung: “…Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự
nghiệp CNH, HĐH; chuyển dịch CCKT theo hướng công nghiệp, dịch vụ gắn với
sản xuất nông nghiệp chất lượng cao, quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc
tế. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường sinh thái; thực
3
hiện tốt an sinh xã hội; đảm bảo quốc phòng - an ninh, giữ vững trật tự - an toàn xã
hội. Xây dựng Đắk Lắk trở thành trung tâm vùng Tây Nguyên và đóng vai trò quan
trọng đưa Tây Nguyên trở thành vùng kinh tế động lực của cả nước”.[80]
Để thực hiện thành công những mục tiêu trên ngoài sự nỗ lực to lớn của
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Đắk Lắk, việc phân tích, đánh giá đầy đủ và
toàn diện các nguồn lực sẵn có trên lãnh thổ và xác định CCKT hợp lý là rất quan
trọng và cần thiết.
Với mong muốn đƣợc vận dụng những lý luận vào thực tiễn nghiên cứu khoa
học, và góp một phần nhỏ bé vào thành công chung của sự phát triển bền vững nền
kinh tế của tỉnh, nơi đang sinh sống và công tác, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài:
“Phát triển kinh tế tỉnh Đắk Lắk trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
2.1. Trên thế giới
lựa chọn hợp lí về cơ cấu ngành tƣơng ứng với mỗi giai đoạn phát triển nhất định ở
mỗi quốc gia, địa phƣơng và cũng là những gợi ý quan trọng để nghiên cứu sinh
phân tích về CCKT và sự chuyển dịch CCKT ở tỉnh Đắk Lắk.
Học thuyết Keynes: do John Maynard Keynes (1883- 1946), nhà kinh tế học
ngƣời Anh trình bày trong tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền
tệ”, xuất bản năm 1936, trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng nền kinh tế thế giới
1929- 1933. Keynes cho rằng nền kinh tế của một quốc gia có thể đạt tới và duy trì
một sự cân đối ở một mức sản lƣợng nào đó, dƣới mức công ăn việc làm đầy đủ cho
mọi ngƣời, tại nơi mà những khoản chi tiêu mới cho đầu tƣ đƣợc hình thành từ các
khoản tiết kiệm đang đƣợc đƣa vào hệ thống. Ông cũng đánh giá cao vai trò của tiêu
dùng trong việc xác định sản lƣợng. Việc giảm xu hƣớng tiêu dùng sẽ làm cho cầu
tiêu dùng giảm và đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự trì
trệ trong hoạt động kinh tế. Trong tác phẩm của mình, Keynes cũng cho rằng, đầu
tƣ đóng vai trò quyết định đến quy mô việc làm. Ông sử dụng lí luận về việc làm và
sản lƣợng do cầu quyết định để giải thích mức sản lƣợng thấp và thất nghiệp cao
kéo dài trong những năm 30 ở hầu hết các nƣớc công nghiệp phƣơng Tây. Lý thuyết
này gọi là thuyết trọng cầu. Học thuyết Keynes có ảnh hƣởng rất lớn đến đƣờng lối
kinh tế của nhiều nƣớc TBCN phát triển, đặc biệt là nƣớc Mỹ. Các nƣớc đang phát
triển trong thời kì CNH, HĐH cũng đã vận dụng học thuyết Keynes ở những lí luận
về đảm bảo sự cân bằng cho nền kinh tế, ở những khuyến cáo phát triển nhiều hình
thức hoạt động để nâng cao tổng cầu và việc làm trong xã hội, ở vai trò của Chính
phủ đối với quá trình tăng trƣởng kinh tế nhƣ sử dụng ngân sách của Nhà nƣớc để
kích thích đầu tƣ, trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp…nhờ đó có thể hạn chế mức độ
lạm phát và thất nghiệp, tăng mức sản lƣợng tiềm năng…( J. M Keynes: Lý thuyết
tổng quan về việc làm, lãi suất và tiền tệ, 1995, Viện Nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ƣơng).
5
Lý thuyết phát triển các điểm trung tâm của W. Christaller [dẫn theo 101]
Vào đầu những năm 1930, W. Christaller (Mỹ) đƣa ra lí thuyết phát triển các
điểm trung tâm (1933). Ông đã góp phần to lớn vào việc tìm ra quy luật phát triển
6
làm cho tất cả các lãnh thổ đều có đô thị hạt nhân, hay nói cách khác không để lãnh thổ nào
trống vắng đô thị.
Lý thuyết cực tăng trƣởng đƣợc áp dụng tƣơng đối rộng rãi ở châu Á, nhất là
các nƣớc ASEAN. Nhiều kinh nghiệm đã đƣợc tích lũy và có giá trị đối với các
quốc gia cần huy động vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Đây cũng là lý thuyết giải thích sự
cần thiết của việc PTKT theo lãnh thổ theo hƣớng phát triển có trọng điểm.
Lý thuyết phát triển phi cân đối: vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX,
ngƣời Trung Quốc đề xƣớng chủ trƣơng phát triển vùng ven biển để tạo động lực.
Đó là ý tƣởng của lý thuyết phát triển phi cân đối để lựa chọn không chỉ các ngành
mũi nhọn, mà còn nhằm lựa chọn những lãnh thổ có vai trò động lực để tập trung
đầu tƣ phát triển đối với chúng. Lý thuyết này cho rằng, đối với mỗi nền KT quốc
dân sẽ có những ngành, lĩnh vực có lợi thế phát triển thành những ngành, lĩnh vực
mũi nhọn; có những lãnh thổ do hội tụ đƣợc nhiều điều kiện thuận lợi, nếu tập trung
đầu tƣ sẽ trở thành lãnh thổ động lực làm đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung. Theo
quan điểm đầu tƣ tập trung có trọng tâm, trọng điểm trƣớc hết tập trung sức lực phát
triển những ngành, lĩnh vực, lãnh thổ có ý nghĩa động lực để tạo đột phá cho sự phát
triển chung [26, tr26].
Về hội nhập kinh tế quốc tế: trên thế giới ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế đã mở ra một thời kì mới cho sự phát triển. Các hoạt động KT không
còn đóng khung trong phạm vi một quốc gia, mà đã vƣợt ra khỏi những ranh giới
cứng nhắc, để lan tỏa thâm nhập vào nhau, chi phối ràng buộc lẫn nhau thông qua
các thể chế KT quốc tế song phƣơng và đa phƣơng. Hội nhập là xu thế tất yếu đã
đƣợc dự đoán và khái niệm hội nhập xuất phát từ phƣơng Tây, đƣợc sử dụng nhiều
từ giữa thập niên 90 trở lại đây.
Hội nhập KT đƣợc hiểu là sự gắn kết nền KT của một nƣớc vào các tổ chức
hợp tác KT khu vực và toàn cầu, trong đó các thành viên quan hệ với nhau theo
những quy định chung. Hiện nay, nội dung của hội nhập KT quốc tế gồm nhiều khía
cạnh khác nhau với nhiều hình thức đa dạng. Quá trình hội nhập diễn ra ở nhiều cấp
độ và một nƣớc có thể đồng thời tham gia nhiều hình thức từ tổ chức hợp tác song
nghiên cứu, hoàn thiện và đƣa ra các lý thuyết về tăng trƣởng và phát triển.
Giáo trình Kinh tế phát triển do GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng chủ biên [50] đã làm
rõ những vấn đề lí luận đã đƣợc áp dụng cho hoạt động kinh tế ở Việt Nam, những sáng
tạo của Việt Nam trong việc lựa chọn đƣờng lối PTKT phù hợp với điều kiện thực tế của
đất nƣớc và môi trƣờng kinh tế quốc tế. Đặc biệt trong giáo trình này, các tác giả đã phân
tích các mô hình, lí thuyết tăng trƣởng và PTKT. Đây là cơ sở quan trọng giúp tác giả
nắm vững và vận dụng vào nghiên cứu PTKT ở tỉnh Đắk Lắk.
8
Nhóm tác giả PGS. TS Ngô Doãn Vịnh (chủ biên), TS. Nguyễn Xuân Thu,
TS. Nguyễn Văn Thành trong cuốn sách "Bàn về PTKT (Nghiên cứu con đường dẫn
tới giàu sang)" [103] đã đề cập đến các tƣ tƣởng, lý thuyết, quan điểm cơ bản về
TTKT, những vấn đề cốt lõi trong nghiên cứu TTKT của nƣớc ta, mối quan hệ giữa
TTKT với phát triển bền vững và cơ cấu của nền kinh tế. Ngoài ra, cuốn sách còn
đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển con ngƣời và nguồn nhân
lực để phát triển đất nƣớc trong điều kiện hội nhập quốc tế, giới thiệu các vấn đề cơ
bản về tổ chức không gian KT - XH nhằm phát triển đất nƣớc một cách có hiệu quả,
bền vững cho Việt Nam khi bƣớc vào thế kỷ XXI.
Cùng tác giả, cuốn “Phát triển: điều kỳ diệu và bí ẩn” [102] đã tuyển chọn
các công trình nghiên cứu về phát triển KT - XH ở nƣớc ta, với những vấn đề mang
tính tổng quan, lý luận nhƣ chiến lƣợc phát triển, chủ thuyết phát triển, tƣ duy chiến
lƣợc và những vấn đề gắn với mô hình phát triển, phát triển chất lƣợng, quan hệ
giữa đổi mới, ổn định và phát triển Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến một số định
hƣớng phát triển cụ thể của đất nƣớc nhƣ phát triển đội ngũ trí thức, PTKT biển
Cuốn “Bối cảnh trong nước, quốc tế và việc nghiên cứu xây dựng chiến lược
2011-2020’’ của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ [6] đã tổng kết, đánh giá việc thực hiện các
mục tiêu của hai thời kỳ Chiến lƣợc (1991- 2000 và 2001- 2010) đã qua; nhận định,
phân tích, dự báo tình hình trong nƣớc và quốc tế trong thời kỳ thực hiện chiến lƣợc
tới. Đây cũng là cơ sở để nhận diện những cơ hội, thách thức, từ đó xác định nội
dung và những yêu cầu đặt ra trong việc xây dựng chiến lƣợc phát triển KT - XH
nghiên cứu sự PTKT xã hội của các vùng và các ngành của nƣớc ta.
“Địa lí các vùng kinh tế Việt Nam”, (2009), Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên)
[86] và “Việt Nam- các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm” do Lê Thông và
Nguyễn Quý Thao (đồng chủ biên) (2012) [74], đã cụ thể hóa thực tế PTKT theo 7
vùng và 4 vùng kinh tế trọng điểm của nƣớc ta. Các vùng này đƣợc trình bày theo
một cấu trúc thống nhất với các chủ đề về nguồn lực, thực trạng phát triển KT - XH
và định hƣớng phát triển. Cuốn sách này đã đem lại nhiều thông tin khoa học hữu
ích và cập nhật về các vùng kinh tế của nƣớc nhà và là tƣ liệu hữu ích cho nghiên
cứu sinh khi nghiên cứu về Tây Nguyên.
“Địa lí kinh tế- xã hội Việt Nam thời kì hội nhập”, năm 2006, của Đặng Văn
Phan và Nguyễn Kim Hồng [45] trình bày các nguồn lực phát triển KT - XH Việt
Nam; Địa lí một số ngành kinh tế của Việt Nam cũng nhƣ các vấn đề phát triển KT
- XH của các vùng, giúp tác giả có cách nhìn nhận về cách tổ chức không gian
kinh tế, nghiên cứu chiến lƣợc PTKT vùng trong xu thế hội nhập hiện nay.
Đối với vùng Tây Nguyên (TN), cũng có một số công trình khoa học nghiên
cứu các khía cạnh khác nhau của vùng, nhƣ: “Quy hoạch tổng thể phát triển KT -
10
XH vùng TN đến năm 2010 (1995) và đến năm 2020” ( 2012) của Bộ Kế hoạch và
Đầu tƣ [3],[8], của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm 1996’’.
“PTKT và vấn đề bảo vệ môi trường vùng TN trong tình hình mới” đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ của PGS. TS Nguyễn Minh Tuệ (2006) [88]. Trong nội
dung nghiên cứu, tác giả tổng quan cơ sở lý luận về PTKT và môi trƣờng để vận
dụng vào vùng TN; phân tích, đánh giá thực trạng PTKT Tây Nguyên và tác động
của nó đến môi trƣờng toàn vùng. Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khác:
Nghiên cứu sự biến động và chuyển đổi diện tích các cây công nghiệp lâu năm chủ yếu ở
tỉnh Lâm Đồng, [52] Luận án Tiến sĩ địa lí, Trƣờng ĐHSP Hà Nội của tác giả Mai Hà
Phƣơng; Nghiên cứu nội dung hợp lý tài nguyên đất và nước để phát triển nông nghiệp
bền vững ở Tây Nguyên, [84] Luận án Tiến sĩ nông nghiệp, ĐH Nông nghiệp Hà Nôi của
tác giả Đào Trọng Tứ…
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về PTKT để làm căn cứ khoa học cho
việc đánh giá tiềm năng, phân tích thực trạng PTKT trong quá trình CNH, HĐH,
cũng nhƣ các định hƣớng và giải pháp PTKT ở tỉnh Đắk Lắk dƣới góc độ địa lí học.
3.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan có cơ sở lý luận và thực tiễn PTKT, CNH, HĐH và vận dụng
nghiên cứu vào tỉnh Đắk Lắk.
- Đánh giá các nhân tố tác động đến PTKT ở tỉnh Đắk Lắk trong quá trình
CNH, HĐH.
- Phân tích thực trạng PTKT ở Đắk Lắk giai đoạn 2004- 2011 dƣới góc độ
địa lí học.
- Đề xuất định hƣớng và giải pháp phát triển ổn định, bền vững nền kinh tế
tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020 và định hƣớng 2030.
3.3. Giới hạn nghiên cứu
3.3.1. Về nội dung:
- Tập trung đánh giá các nhân tố tác động đến PTKT ở tỉnh Đắk Lắk
- Đề tài giới hạn nghiên cứu PTKT theo ngành và theo lãnh thổ ở tỉnh Đắk Lắk
dƣới góc độ địa lí học:
+ Về PTKT theo ngành, tập trung phân tích theo 3 nhóm ngành (Nông – Lâm
- Thủy sản; Công nghiệp - Xây dựng; Dịch vụ), trong đó đi sâu vào 2 ngành thế
mạnh là nông nghiệp và lâm nghiệp (của nhóm ngành Nông – Lâm - Thủy sản);
công nghiệp (của nhóm ngành Công nghiệp - Xây dựng) và thƣơng mại, du lịch
(của nhóm ngành Dịch vụ)
+ Về PTKT theo lãnh thổ, đề tài tập trung nghiên cứu một số hình thức của
TCLT theo ngành: trang trại, vùng chuyên canh (Nông- Lâm- Thủy sản); cụm công
12
nghiệp, khu công nghiệp (công nghiệp); điểm du lịch, tuyến du lịch (Dịch vụ) và
các tiểu vùng kinh tế.
3.3.2. Về phạm vi lãnh thổ:
Luận án nghiên cứu trên toàn bộ lãnh thổ tỉnh Đắk Lắk, có đi sâu tới các TP
13
không hoạt động đơn lẻ mà có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau và có quan hệ
với các hệ thống khác và ngày càng đƣợc mở rộng trong quá trình phân công và hợp
tác lao động. Bất cứ một thành tố nào của hệ thống thay đổi đều ảnh hƣởng đến các
thành tố còn lại và làm thay đổi cả hệ thống. Khi một ngành, một lĩnh vực thay đổi,
nó sẽ kéo theo sự thay đổi của hệ thống các ngành kinh tế khác.
Nhƣ vậy, mặc dù luận án nghiên cứu về sự PTKT của tỉnh Đắk Lắk chủ yếu
tập trung vào việc phân tích thực trạng PTKT theo ngành và theo lãnh thổ, nhƣng
căn cứ vào quan điểm hệ thống, nó lại đƣợc đặt trong quan hệ hệ thống với các
ngành kinh tế và với các lãnh thổ xung quanh.
Bởi vì nếu xét trên hệ thống lớn hơn, thì tỉnh Đắk Lắk đƣợc coi là một bộ
phận của vùng TN và không gian kinh tế TN- DHNTB. Nếu xét cấp thấp hơn thì
Đắk Lắk là một tập hợp bao gồm các hệ thống con (các huyện, thị xã TP) có mối
quan hệ tƣơng tác mật thiết với nhau. Vì vậy, luận án đã nghiên cứu, tìm hiểu các
mối quan hệ qua lại, các tác động ảnh hƣởng giữa các yếu tố trong một hệ thống và
giữa các hệ thống để đánh giá chính xác vấn đề cần nghiên cứu đó là những tiềm
năng và thực trạng PTKT của tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
4.1.3. Quan điểm lịch sử- viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tƣợng địa lý dù lớn, nhỏ đều có sự phát sinh, phát triển riêng
của nó. Sự PTKT luôn luôn thay đổi trong các thời kỳ và luôn luôn ở trạng thái vận
động, biến động không ngừng theo sự phát triển của LLSX và quan hệ sản xuất.
Vận dụng quan điểm lịch sử vào nghiên cứu luận án để thấy đƣợc những biến đổi
của các yếu tố kinh tế qua từng giai đoạn phát triển kinh tế của tỉnh, từ đó đánh giá
chính xác các triển vọng phát triển của các ngành kinh tế cũng nhƣ sự phân hóa lãnh
thổ sản xuất. Vận dụng quan điểm này cho ta thấy đƣợc quá trình hình thành và phát
triển của các ngành kinh tế trong quá khứ, hiện tại cũng nhƣ đề xuất những giải
pháp mới nhằm mục đích PTKT bền vững và khai thác lãnh thổ có hiệu quả hơn
trong tƣơng lai.
4.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm phát triển bền vững hiện nay đang là một quan điểm bao trùm
trƣơng, chính sách liên quan đến PTKT trong thời kỳ CNH, HĐH định hƣớng đến
năm 2020.
4.2.3. Phương pháp bản đồ và GIS
Sử dụng phần mềm Map Info để thành lập cơ sở dữ liệu địa lý và xây dựng
các bản đồ chuyên đề để mô tả các nhân tố ảnh hƣởng đến PTKT, phân tích thực
trạng PTKT, sự phân bố các hiện tƣợng kinh tế, mối liên quan đến không gian lãnh
thổ và xu hƣớng PTKT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa; định hƣớng
đến năm 2020 và tầm nhìn sau 2020. Một số bản đồ đƣợc biên vẽ :
15
Bản đồ hành chính tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ các nhân tố tự nhiên ảnh hƣởng đến PTKT tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ đất tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ các nhân tố KT – XH ảnh hƣởng đến PTKT tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ phát triển và phân bố nông- lâm- thủy sản tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ phát triển và phân bố công nghiệp tỉnh Đắk Lắk
Bản đồ phát triển và phân bố dịch vụ tỉnh Đắk Lắk
4.2.4. Phương pháp phân tích thống kê
Tác giả đã dùng phƣơng pháp này thông qua các bảng số liệu để phân tích các
dãy số biến động theo thời gian và không gian; các loại biểu đồ, đồ thị…nhằm nêu lên
một cách tổng hợp bản chất và tính quy luật của các hiện tƣợng và quá trình KT- XH trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập đƣợc tác giả đã tính toán
các chỉ tiêu cần thiết, so sánh và rút ra những nhận định và kết luận đáp ứng mục đích
nghiên cứu và từ đó đề xuất một số biện pháp giải quyết.
4.2.5. Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tiến hành gặp gỡ, trao đổi ý kiến
với các nhà khoa học trong các lĩnh vực địa lí học, kinh tế học, lãnh đạo các Sở, ban
ngành của tỉnh Đắk Lắk, các chuyên gia của Sở Khoa học Công nghệ, Sở Công
thƣơng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tƣ. Từ đó có
TTKT là một trong những nội dung cơ bản của PTKT và là một trong những
vấn đề hấp dẫn nhất trong nghiên cứu kinh tế phát triển nói chung và Địa lí học
(KT-XH) nói riêng.
TTKT là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian
nhất định (thƣờng là một năm). Sự gia tăng thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô
tăng trƣởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trƣởng đƣợc sử dụng
với ý nghĩa so sánh tƣơng đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của các thời
kỳ [50, tr21].
Nếu sản lƣợng hàng hóa và dịch vụ trong một quốc gia năm sau tăng hơn so
với năm trƣớc thì quốc gia đó đƣợc coi là có sự TTKT.
Bản chất của TTKT là sự thay đổi về lƣợng của nền KT. Ngày nay, yêu cầu
TTKT gắn liền với tính bền vững hay đảm bảo chất lƣợng tăng trƣởng ngày càng cao,
tăng trƣởng kinh tế xanh, nghĩa là mô hình tăng trƣởng biến những hạn chế về nguồn lực
và ảnh hƣởng của thảm họa thiên nhiên thành những cơ hội kinh tế giúp nâng cao tăng
trƣởng và giảm tác động xấu tới môi trƣờng thông qua sử dụng hiệu quả nguồn tài
nguyên và tăng đầu tƣ vào vốn tự nhiên.
b. Phát triển kinh tế (PTKT)
PTKT là quá trình chuyển đổi kinh tế có liên quan đến việc chuyển biến
cơ cấu của nền kinh tế thông qua quá trình CNH, tổng sản phẩm trong nƣớc
và thu nhập bình quân đầu ngƣời. Nói chung, các nƣớc đang phát triển đƣợc
đặc trƣng bởi nền sản xuất tự cấp tự túc là chính, chủ yếu là nông nghiệp và
mức thu nhập bình quân đầu ngƣời thấp. Các nƣớc phát triển đƣợc đặc trƣng
bởi các ngành chế biến và dịch vụ lớn, mức thu nhập đầu ngƣời cao[42].
Theo[106] hiểu theo nghĩa chung nhất thì PTKT là một quá trình đƣợc
bao hàm trong sự tăng trƣởng và sự cải thiện một hệ thống kinh tế dƣới bất kỳ
hình thức nào. Trong Địa lí kinh tế và trong nghiên cứu về phát triển, thuật
18
ngữ này có ý nghĩa đặc thù hơn và áp dụng cho các hệ thống kinh tế vùng và các
thuộc tính riêng của chúng và các hệ thống này tƣơng tác ở tầm mức độ toàn cầu.
chuyển dịch CCKT theo đúng xu thế và hợp lí.
Cũng nhƣ TTKT xanh, PTKT xanh cũng đƣợc nhiều nƣớc áp dụng và đƣợc
coi là một xu hƣớng toàn cầu hiện nay. PTKT xanh là quá trình nâng cao đời sống
con ngƣời và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể những rủi ro
môi trƣờng, và những thiếu hụt sinh thái.
19
c. PTKT bền vững: từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, khi tăng trƣởng
kinh tế của nhiều nƣớc trên thế giới đã đạt đƣợc một tốc độ khá cao, ngƣời ta bắt
đầu có những lo nghĩ đến ảnh hƣởng tiêu cực của sự tăng trƣởng nhanh đó đến
tƣơng lai con ngƣời và vấn đề phát triển bền vững đƣợc đặt ra.
Năm 1987, trong Báo cáo “tƣơng lai của chúng ta” lần đầu tiên đã đƣa ra
định nghĩa “PTBV là sự phát triển đáp ứng đƣợc những yêu cầu của hiện tại, nhƣng
không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai”.
Sau đó, Hội nghị thƣợng đỉnh Trái đất về môi trƣờng và phát triển họp tại
Rio de Janeiro (Braxin, 1992) đã đƣa ra bản tuyên ngôn “về môi trƣờng và phát
triển” đã tái khẳng định khái niệm trên và cùng thỏa thuận một chƣơng trình nghị sự
PTBV, gọi là Agenda 21.
Năm 2002, tại Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới về PTBV tổ chức ở
Johanensburg (Cộng hòa Nam Phi) đã xác định: PTBV là quá trình phát triển có sự
kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, đó là PTKT, phát
triển xã hội và bảo vệ môi trƣờng.
PTBV về mặt kinh tế, đòi hỏi phải có CCKT hợp lí, phải sử dụng tối ƣu các
nguồn lực nhằm đảm bảo tăng trƣởng kinh tế lâu dài, ổn định và phải có chiến lƣợc
PTKT phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể.
d. CCKT và sự chuyển dịch CCKT
- CCKT là tổng thể những mối quan hệ về chất lƣợng và số lƣợng giữa các bộ
phận cấu thành nền kinh tế trong một thời gian và trong những điều kiện KT - XH nhất định.
Theo C. Mác [dẫn theo 89] “CCKT của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất
phù hợp với quá trình phát triển nhất định của LLSX vật chất. Cơ cấu là một sự phân
trình sản xuất, là đối tƣợng lao động. Nếu không có ĐKTN và tài nguyên thiên
nhiên, thì không có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của con ngƣời. Tuy nhiên,
đối với việc PTKT, ĐKTN và tài nguyên thiên nhiên chỉ là điều kiện cần nhƣng
chƣa đủ, chúng chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con ngƣời biết khai thác và sử
dụng một cách hợp lý và hiệu quả. Thực tế trên thế giới, có nhiều quốc gia rất giàu
tài nguyên thiên nhiên (ví dụ: nhiều nƣớc ở châu Phi) nhƣng vẫn là các nƣớc nghèo,
chậm phát triển. Ngƣợc lại, nhiều quốc gia nhƣ Nhật Bản, các nƣớc Tây Âu, không
nhiều tài nguyên, nhƣng lại trở thành những nƣớc công nghiệp phát triển hàng đầu
thế giới.
ĐKTN và tài nguyên thiên nhiên là tài sản quốc gia, là nhân tố không thể
thiếu đƣợc trong quá trình sản xuất, tạo ra của cải phục vụ đời sống con ngƣời. Tài
nguyên thiên nhiên có giới hạn, mà nhu cầu của con ngƣời thì vô hạn với số dân
ngày càng tăng. Do đó, để đảm bảo phát triển bền vững thì cần bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên và môi trƣờng sinh thái.
21
c. Kinh tế- xã hội: có vai trò hết sức quan trọng trong việc lựa chọn chiến
lƣợc phát triển và phân bố các ngành kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể của đất
nƣớc trong từng giai đoạn.
- Dân cư và nguồn lao động là nhân tố quan trọng, quyết định việc sử dụng
các nguồn lực khác trong quá trình PTKT. Vai trò của dân cƣ, nguồn lao động đối
với việc PTKT và phân bố sản xuất thể hiện ở hai mặt. Một mặt, đó là yếu tố đầu
vào của hoạt động kinh tế, là LLSX trực tiếp tạo ra sản phẩm, tạo ra sự tăng trƣởng
cho các ngành kinh tế. Mặt khác, dân cƣ và nguồn lao động là lực lƣợng tiêu thụ các
sản phẩm, dịch vụ tham gia tạo cầu cho nền kinh tế. Quy mô và cơ cấu tiêu dùng
góp phần quan trọng thúc đẩy TTKT. Sự tác động của dân cƣ, nguồn lao động thể
hiện ở quy mô, tốc độ gia tăng dân số và lao động, cơ cấu dân số, chất lƣợng nguồn
lao động về mặt thể chất, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, khả năng tiếp thu khoa học
kỹ thuật mới, thói quen và thái độ lao động.
Trong thời hiện đại ngày nay, khoa học công nghệ đã trở thành bộ phận trực
+ CSVC kỹ thuật là nền tảng cho PTKT. Nơi nào có hệ thống CSVC kỹ thuật tốt
(nhƣ hệ thống thủy nông, các trạm giống thú y, các xí nghiệp chế biến sản phẩm nông
nghiệp đối với nông nghiệp,…) thì nền kinh tế sẽ đạt hiệu quả cao, và ngƣợc lại.
- Khoa học và công nghệ là những thành tựu đƣợc chuyển giao ứng dụng vào
các lĩnh vực sản xuất, trở thành LLSX quan trọng có tính quyết định tới năng suất,
chất lƣợng và hiệu quả của các ngành và nền kinh tế. Nhân tố khoa học công nghệ
góp phần mở rộng khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nhân tố khác. Tạo ra
những khả năng sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển các ngành kinh tế. Sự
phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học và công nghệ còn làm cho sự phân
công xã hội trở nên sâu sắc, phân hóa thành nhiều ngành hơn, xuất hiện thêm nhiều
ngành mới, dẫn tới sự thay đổi cơ cấu, vị trí giữa các ngành. Sự thay đổi này dẫn
đến kết quả là làm chuyển dịch CCKT theo hƣớng giảm tỷ trọng ngành công nghiệp,
tăng tỷ trọng ngành dịch vụ trong GDP, góp phần thúc đẩy tăng trƣởng và PTKT.
- Đường lối chính sách: bao gồm thể chế chính trị, cơ chế chính sách, đƣờng
lối xây dựng kinh tế, xu thế hội nhập và phát triển của khu vực và thế giới… là
những nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trƣởng và PTKT.
Đƣờng lối chính sách là nhân tố mang tính quyết định đến sự thành công hay
không của chiến lƣợc, mục đích PTKT của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ. Thực tế
trên thế giới, ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm đều có đƣờng lối chính sách phát triển
KT - XH khác nhau.
Tăng trƣởng và PTKT đòi hỏi phải có một thể chế chính trị xã hội ổn định
thể hiện qua đƣờng lối phát triển KT- XH đúng đắn phù hợp với các quy luật khách
quan, có khả năng thu hút mọi nguồn lực ở trong và ngoài nƣớc. Ngƣợc lại sự
khủng hoảng về chính trị tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái.
23
- Các mối quan hệ liên tỉnh, liên vùng: mỗi tỉnh hoặc vùng tuy là đơn vị độc
lập về hành chính nhƣng lại có mối quan hệ mật thiết với tỉnh khác, vùng khác. Các
hoạt động kinh tế thƣờng phải gắn với các mối liên kết kinh tế, kỹ thuật và liên kết
không gian sâu sắc. Việc liên kết giữa các tỉnh,vùng là hợp tác bổ sung cho nhau
Tốc độ tăng trƣởng GDP là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng, đƣợc dùng để
đánh giá tốc độ tăng trƣởng của nền kinh tế, là cơ sở để xây dựng mục tiêu, chiến
lƣợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH cấp quốc gia nói chung và từng tỉnh,
TP tƣơng đƣơng cấp tỉnh nói riêng.
Nguồn số liệu về tốc độ tăng trƣởng GDP qua các năm ở tỉnh dựa vào NGTK
của Việt Nam và của tỉnh các năm.
b. GDP/người
- GDP/ngƣời đƣợc tính bằng GDP chia cho dân số trung bình cùng thời kỳ
nghiên cứu. Chỉ tiêu này thƣờng đƣợc tính hàng năm trên phạm vi cả nƣớc và từng
tỉnh, TP. GDP/ngƣời tính theo giá thực tế, tính theo nội tệ hoặc ngoại tệ.
GDP/ngƣời là chỉ tiêu quan trọng dùng để so sánh, đánh giá trình độ PTKT
và mức sống dân cƣ giữa các quốc gia, hoặc giữa các tỉnh, TP và các vùng.
c. Cơ cấu GDP và xu hướng chuyển dịch CCKT theo nhóm ngành:
- Cơ cấu GDP:
Trong đánh giá sự PTKT thì cơ cấu GDP theo nhóm ngành và ngành là một
trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh xu hƣớng vận động và mức độ thành công
của chính sách và chiến lƣợc CNH, HĐH. Cơ cấu GDP là tỷ trọng của các bộ phận
cấu thành so với GDP, tính theo giá thực tế.
Cơ cấu GDP theo 3 khu vực (nhóm ngành) kinh tế: Khu vực I (nông- lâm-
thủy sản); khu vực II (công nghiệp – xây dựng); khu vực III (dịch vụ). Đây là một
trong những tiêu chí hàng đầu đƣợc dùng để đánh giá cơ cấu và quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH.
- Tốc độ và xu hƣớng chuyển dịch cơ cấu GDP theo nhóm ngành và ngành
theo hƣớng các ngành kinh tế truyền thống (Nông- lâm- thủy sản), khai khoáng và
một bộ phận của lĩnh vực dịch vụ phục vụ nhu cầu dân sinh thông thƣờng sẽ ngày
càng giảm tỷ trọng trong GDP; đồng thời tỷ trọng của các ngành kinh tế dựa trên
công nghệ - kỹ thuật hiện đại, năng suất cao, trƣớc hết là các ngành công nghiệp chế
biến và dịch vụ ngày càng cao.
Đây là chỉ tiêu quan trọng, phản ánh vị trí, vai trò của từng bộ phận cấu thành
GDP (theo nhóm ngành và ngành); là cơ sở quan trọng để phân tích, đánh giá cơ
, đơn vị
tính là % hay là số lần tăng. Từ chỉ tiêu này có thể thấy đƣợc mức độ phát triển về
NSLĐ, giá trị tăng thêm, công nghiệp hóa trong nông nghiệp và chất lƣợng lao
động cũng nhƣ là việc mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm. Cách thức tính tƣơng
tự nhƣ tính tốc độ tăng trƣởng GDP và sử dụng giá so sánh.
- Cơ cấu GTSX nông, lâm, thủy sản: là chỉ tiêu trực tiếp và chủ yếu phản ánh
mối tƣơng quan về GTSX giữa các ngành sản xuất, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và
tác động qua lại cả về số lƣợng và chất lƣợng giữa các bộ phận với nhau, đƣợc tính
theo giá thực tế.