Một số giải pháp & kiến nghị giải quyết vấn đề lao động, việc làm ở nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa - Pdf 12

Ch ơng i
cơ sở lý luận về lao động việc làm và chuyển dịch cơ cấu
lao động trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá
I/ những vấn đề lý luận cơ bản về lao động, việc làm
1. Lao động và thị tr ờng lao động
1.1. Lao động
Lao động là hành động của con ngời diễn ra giữa ngời với tự nhiên. Trong quá
trình lao động, con ngời vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể tác động vào giới tự
nhiên chiếm giữ những vật chất trong giới tự nhiên, biến đổi những vật chất đó làm cho
chúng trở nên có ích cho đời sống của mình.
Ngày nay, khái niệm lao động đã đợc mở rộng. Lao động là hoạt động có mục
đích, có ích cho con ngời tác động lên giới tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật
chất cho bản thân và cho xã hội. Lao động là điều kiện không thể thiếu đợc của đời sông
con ngời, làm cho con ngời ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn. Lao động làm cho
con ngời mang tính sáng tạo ngày càng cao.
Bất kỳ một xã hội nào muốn tồn tại và phát triển đều phải không ngừng phát triển
sản xuất. Điều đó có nghĩa là lao động mãi mãi là nguồn gốc và động lực phát triển xã
hội. Không có lao động thì không thể có sự tồn tại của đời sống cá nhân cũng nh xã hội
loài ngời nói chung. Bởi vậy xã hội càng văn minh thì tính chất, hình thức và phơng
pháp tổ chức lao động càng tiến bộ.
Đối với Việt Nam, khi đất nớc đang ở trong thời kỳ công nghiệp hoá-hiện đại hoá
và nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc thì lý luận lao
động đợc đánh giá ở nhiều khía cạnh, cụ thể là:
Trớc hết, lao động vẫn đợc coi là phơng thức tồn tại của con ngời, nhng vấn đề
đặt ra là lợi ích con ngời phải đợc coi trọng. Lợi ích đó không chỉ bao hàm lợi ích vật
chất mà còn cả lợi ích tinh thần. Bởi vì lao động là biểu hiện bản chất của con ngời, còn
1
lợi ích lao động là vấn đề nhạy cảm nhất nhất của con ngời, là nhân tố thấm sâu, phức
tạp trong quan hệ giữa con ngời với con ngời, giữa cá nhân với xã hội.
Thứ hai, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị tr-
ờng theo định hớng XHCN thì lao động đợc xem xét dới dạng năng suất, chất lợng và

1.3. Thị tr ờng lao động
Theo Adam Smith: thị trờng lao động là biểu hiện quan hệ trao đổi diễn ra giữa
một bên là ngời lao động với một bên là ngơì muốn sử dụng lao động dựa trên nguyên
tắc thoả thuận mua và bán sức lao động thông qua hợp đồng lao động. Nh vậy, có thể
coi lao động nh hàng hoá và dịch vụ khác đợc mua bán trên thị trờng. Các nhà kinh tế
cho rằng thị trờng hoàn hảo là thị trờng mà ở đó các hàng hoá đợc phân phối một cách
có hiệu quả thông qua giá cả. Nhng ở mọi nơi, nhất là ở những nớc đang phát triển, thị
trờng lao động đều cha hoàn hảo.
Nói đến thị trờng lao động tức là đề cập đến toàn bộ các quan hệ về lao động diễn
ra trong nền kinh tế, bao gồm trao đổi (hay mua bán, thuê mớn) giữa ngời lao động tự
do và ngời sử dụng lao động dựa trên cơ sở các quy định ràng buộc nh tiền công, tiền l-
ơng, thời gian lao động, điều kiện lao động, thoả thuận về quyền lợi của hai bên. Về cơ
bản thị trờng lao động đợc tạo thành từ ba bộ phận chính đó là cung , cầu của thị trờng
lao động và giá cả sức lao động hay mức tiền công, tiền lơng mà tại đó ngời sở hữu sức
lao động đồng ý làm việc. Trên thực tế, sự vận động của thị trờng lao động diển ra rất
phức tạp và việc phân tích ba bộ phận trên đây đặc biệt cần thiết cho việc xây dựng
chính sách thị trờng lao động.
ở nớc ta thị trờng lao động đang trong quá trình hình thành và mang những đặc
điểm về thị trờng lao động của một nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch tập trung sang
kinh tế thị trờng. Luật lao động ban hành năm 1994 là một bớc tiến lớn trong việc xây
dựng thị trờng lao động trong quá trình chuyển đổi kinh tế. Bộ luật này đã đề cập đến
các vấn đề cơ bản của thị trờng lao động nh tiền công, tiền lơng tối thiểu, các quan hệ
lao động, tự do lựa chọn nghề nghiệp và nơi làm việc, xoá bỏ dần t tởng củ chỉ làm
3
việc trong khu vực nhà nớc... Ngoài ra rất nhiều văn bản liên quan đến quan hệ lao động
cũng đã đợc ban hành nhằm bảo vệ ngời lao động. Trớc yêu cầu của việc hoạt động
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, việc phát triển thị trờng lao động là một nhiệm
vụ quan trọng.
Về cung của thị trờng lao động: trong nền kinh tế thị trờng, cung về lao động và
khả năng đáp ứng nhu cầu mà thị trờng lao động đặt ra về số lợng và chất lợng trong

ứng nhu cầu và cơ cấu ngành nghề mà nền kinh tế cần hay không. Tuy nhiên, thực tế
cho thấy cha có sự gắn kết giữa ngành nghề đào tạo và cầu về ngành nghề nền kinh tế
đòi hỏi, dẫn đến tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao động có đào tạo. Sự bất hợp lý về cơ
cấu trình độ chuyên môn, cơ cấu ngành nghề trong những năm qua đã ảnh hởng lớn tới
sự vận hành của thị trờng lao động mới hình thành và thực hiện mục tiêu chiến lợc phát
triển kinh tế - xã hộ ở nớc ta.
Các phân tích rất khái quát trên đây cho thấy cung về lao động có tầm quan trọng
đặc biệt không chỉ theo nghĩa hẹp của thị trờng lao động mà nó còn ảnh hởng tới toàn
bộ nền kinh tế. Chính vì vậy, từ giữa thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của lý thuyết
tăng trởng kinh tế mới, phát triển nguồn nhân lực là một trong các mục tiêu hàng đầu
của các quốc gia. Để đánh giá sự phát triển nguồn lực con ngời của một nớc, trên thế
giới hiện nay đang sử dụng chỉ số phát triển nguồn nhân lực ( HDI ). Chỉ số này đợc xác
định dựa trên 4 chỉ số sau đây: 1)Tuổi thọ trung bình; 2)Tỉ lệ ngời biết chữ; 3)Tỉ lệ học
sinh đến trờng các cấp; 4)GDP thực tế trên đầu ngời tính theo phơng pháp PPP. Hai
trong bốn chỉ số trên là tỉ lệ ngời biết chữ và tỉ lệ học sinh đến trờng các cấp có liên
quan đến cung của thị trờng lao động. Theo báo cáo phát triển nguồn nhân lực của ch-
ơng trình phát triển của liên hợp quốc, giá trị HDI của Việt Nam năm 1998 là 0,664 xếp
thứ 110 trong số 174 nớc trên thế giới, mặc dù đã có những tiến bộ nhng vẫn còn khác
xa các nớc trong khu vực nh Inđônêxia (xếp thứ 105), Philipin (77), Thái Lan (65),
Malaixia (56), Brunây(25), Xingapo (22). Qua chỉ số HDI chúng ta cũng phần nào đánh
5
giá đợc cung về thị trờng lao động của nớc ta trong sự so sánh với các nớc trong khu vực
và các nớc trên thế giới.
Về cầu của thị trờng lao động là đòi hỏi đặt ra đối với thị trờng lao động về số và
chất lợng lao động trong điều kiện một mức giá sức lao động nhất định. Cầu về lao động
phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh: nguồn tài nguyên của một nớc, quy mô, trình độ công
nghệ, cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế , mức tiền công (tiền lơng), phong tục tập
quán, tôn giáo... và phụ thuộc vào chính sách phát triển kinh tế. Đối với các nớc đang
phát triển nhu cầu về lao động thực sự không lớn do quy mô của nên kinh tế nhỏ, vì vậy
nhìn chung thừa lao động. Nớc ta lại đang trong tình trạng quá trình chuyển đổi, bên

và cầu lao động, nhng chú trọng hơn tới biện pháp giảI quyết việc làm. đIều này thể
hiện tính cấp bách tạo công ăn việc làm và thu nhập cho ngời lao động. Tuy nhiên cùng
với quá trình đổi mới nền kinh tế, nếu cứ tiếp tục cách tiếp cận nh trên sẽ không đáp ứng
đợc nhu cầu lao động cho phát triển kinh tế ở nớc ta trong giai đoạn tới. Vì vậy, trong
thời gian tới, một mặt cần tạo việc làm cho ngời lao động nhng cũng đồng thời cần nâng
cao chất lợng của nguồn lao động.
2. Việc làm
Dân số đông tạo nguồn lao động dồi dào biểu hiện một tiềm năng phong phú, có
thể huy động vào việc thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển. Nhng mặt khác, nguồn
lao động dông đảo có thể gây nên tình trạng cản trở cho sự phát triển kinh tế.
Khi nguồn lao động đợc huy động, sử dụng hiệu quả thì tình trạng thiếu việc làm
sẽ xảy ra, dẫn đến thu nhập ngời lao động thấp, giảm mức sống con ngời. Đồng thời đó
cũng là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội, thậm chí tạo ra các xung đột gây rối
loạn về mặt an ninh chính trị... Chính vì vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm, nâng cao mức
sống, xoá đói giảm nghèo trở nên có ý nghĩa to lớn, đợc quan tâm trong các mô hình
phát triển hiện nay ở mọi quốc gia, đặc biệt là ở các nớc đang phát triển.
7
Để giải quyết vấn đề này cần phải hiểu rõ về vấn đề việc làm. Tuỳ theo cách tiếp
cận mà ngời ta có những định nghĩa khác nhau về việc làm.
ở Việt Nam Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 đã xác định: Mọi hoạt động
tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đợc thừa nhận là việc làm. Với khái
niêm về việc làm nh vậy thì hoạt động đợc xác định là việc làm bao gồm:
+ Làm các công việc đợc trả công dới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.
+ Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho
gia đình mình nhng không đợc trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho công việc đó.
Nh vậy để có việc làm, không nhất thiết chỉ vào cơ quan xí nghiệp Nhà nớc mà có
thể tìm việc làm trong mọi tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan thuộc mọi thành phần kinh tế
hoặc do chính bản thân từng ngời lao động tạo ra để có thu nhập.
Khái niệm việc làm có liên quan chặt chẽ với khái niệm lao động nhng không
hoàn toàn giống nhau. Việc làm thể hiện mối quan hệ của con ngời với những chỗ làm

hoặc thành thị không chính thức nhng việc làm đó có năng suất rất thấp, những ngời này
đóng góp rất ít hoặc không đáng kể vào phát triển sản xuất.
Tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao sẽ có ảnh hởng không tốt đến cả tình hình kinh tế và
xã hội.
Về mặt kinh tế, khi mức thất nghiệp cao, một bộ phận ngời lao động và tài
nguyên sẽ bị lãng phí vì không kết hợp đợc hài hoà giữa sức lao động và tài nguyên
thiên nhiên. Do đó ảnh hởng đến sự tăng trởng và phát triển của nền kinh tế, thu nhập
quốc dân và thu nhập của các tầng lớp dân c trong xã hội tăng chậm, thậm chí giảm sút.
Về mặt xã hội, khi mức thất nghiệp cao sẽ làm tăng các tệ nạn xã hội, cuộc sống
tinh thần của con ngời luôn ở trạng thái căng thẳng, làm xói mòn nếp sống lành mạnh,
có thể phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống, gây tổn thơng về tâm lý và niềm tin của
nhiều ngời.
Trong nền kinh tế thất nghiệp là hiện tợng kinh tế khách quan, ngời ta chỉ có thể
hạn chế tỷ lệ thất nghiệp chứ không loại bỏ đợc nó.
9
Vì vậy, trong chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2005 Đảng ta
đã xác định: Giải quyết việc làm, sử dụng tối đa nguồn lực lao động xã hội là mục tiêu
quan trọng hàng đầu của chiến lợc, là một tiêu chuẩn để định hớng cơ cấu kinh tế và lựa
chọn công nghệ ở nớc ta hiện nay.
II/ một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu lao động - mô
hình hai khu vực và di c từ nông thôn ra thành thị
1. M ô hình của Lewis - Fei - Ranis
Mô hình Lewis - Fei - Ranis cho rằng một nền kinh tế kém phát triển bao gồm
hai khu vực: một khu vực nông nghiệp tự cung tự cấp truyền thống đợc đặc trng bởi lao
động thừa có năng suaats lao động bằng không hoặc rất thấp và một khu vực công
nghiệp thành thị hiện đại có năng suất lao động cao mà lao động ở khu vực nông
nghiệpdần dần chuyển sang đó.
Trọng tâm của mô hình Lewis - Fei - Ranis là quá trình thuyên chuyển lao động
và mức tăng công ăn việc làm trong khu vực hiện đại. Cả việc thuyên chuyển lao động
và mức tăng công ăn việc làm ở thành thị chính thức là kết quả của việc tăng sản lợng

số lao động ở khu vực hiện đại sẽ là OL
1
. Tiền lơng trả cho công nhân là OW. Khi đó
tổng số tiền lơng bằng diện tích OWFL
1
và sản lợng thặng d bằng diện tích WD
1
F, đây
11
L1 L2 L3
L
I
O
A
W
D1
D2
D3
Lợi nhuận
lương
D1(K1)
D2(K2)
D3(K3)
F H
S
G
Lương thực tế (và SP
biên của lao động)
Lao động
chính là lợi nhuận của nhà t bản. Vì ta giả định rằng toàn số lợi nhuận này sẽ đợc tái đầu

tăng mức sử dụng nhân công lên L
3
.
Quá trình tăng trởng và lấy thêm công nhân trong khu vực hiện đại đợc giả định
là sẽ tiếp tục tăng cho đến khi toàn bộ số lao động d thừa ở nông thôn đợc khu vực
công nghiệp thành thị hấp thụ hết. Sau đó đờng cung lao động sẽ dốc lên và cả mức lơng
thành thị lẫn số công nhân sẽ tiếp tục tăng. Đây là thời điểm hoàn tất công cuộc chuyển
đổi cơ cấu của nền kinh tế và quá trình hiện đại hoá công nghiệp thống trị toàn bộ hoạt
động của nền kinh tế.
Mặc dù mô hình phát triển của Lewis - Fei - Ranis vừa đơn giản vừa tơng đối phù
hợp với thực tế trớc đây của công cuộc phát triển kinh tế ỏ phơng Tây nhng nó có ba giả
định then chốt khác biệt so với tình trạng thấp kém phát triển hâù hết ở các nớc thuộc
thế giới thứ ba:
Thứ nhất, mô hình này ngầm giả định rằng, tốc độ thuyên chuyển lao động và
công ăn việc làm tỷ lệ thuận với tốc độ tích luỹ vốn. Vấn đề là nếu các khoản lợi nhuận,
thặng d, t bản lại không tái đầu t vào trang thiết bị, tiết kiệm sức lao động tinh, chứ
không đơn thuần chỉ bổ sung thêm vào số vốn hiện có nh mô hình ngầm định.
Thứ hai, mô hình này giả định rằng lao động ở vùng nông thôn là d thừa. Trong
khi đó có sự toàn dụng nhân công ở khu vực thành thị. Thực tế lại gần nh ngợc lại với
các nớc thuộc thế giới thứ ba, đó là nhiều thất nghiệp ở khu vực thành thị trong khi
không có d thừa lao động ở khu vực nông thôn. Quy luật này cũng có ngoại lệ về địa lý
và mùa vụ, nhng thực tế quy luật này đúng hơn giả định của Lewis - Fei - Ranis.
12
Giả định thứ ba khác với thực tế là quan niệm về sự không đổi của mức lơng thực
tế của khu vực thành thị cho đến khi nguồn cung cấp lao động ở nông là cạn kiệt. Tuy
nhiên một trong những nét nổi bật của tình hình lơng ở thành thị tại hầu hết ở các nớc
đang phát triển là xu hớng mức lơng tăng lên, xét cả về mặt tuyệt đối lẫn tơng đối khi so
sánh với mức thu nhập bình quân ở nông thôn ngay cả khi mức thu nhập công khai tăng
lên. Tuy nhiên, mô hình cũng có giá trị phân tích nhất định ở chỗ nó nhấn mạnh đến hai
yếu tố chủ yếu của vấn đề công ăn việc làm: những sự khác biệt về cơ cấu kinh tế giữa

nhiêu thì tỷ lệ có việc làm ở thành thị Eu/Lu càng phải thấp bấy nhiêu để chấm dứt tình
trạng số ngời di c vợt quá số cơ hội công ăn việc làm.
Vậy có thể kết luận việc cho phép lơng ở thành thị tăng với tốc độ cao hơn so với
mức thu nhập trung bình ở nông thôn sẽ khuyến khích thêm việc di c từ nông thôn ra
thành thị bất chấp tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị ngày càng tăng. Dòng ngời di c đông đảo
này không những là nguyên nhân của nhiều vấn đề kinh tế xã hội ở thành phố mà cũng
có thể tạo ra tình trạng thiếu lao động ở nông thôn đặc biệt là vào mùa vụ.
Tạo công ăn việc làm cho thành thị là một giải pháp cha đầy đủ cho vấn đề thất
nghiệp ở thành thị. Giải pháp kinh tế truyền thống (theo kiểu Keynes) cho rằng vấn đề
thất nghiệp ở thành thị mà không cải thiện thu nhập và các cơ hội công ăn việc làm ở
nông thôn có thể dẫn đến một tình thế nghịch lý trong đó nhiều công việc ở thành thị
hơn sẽ dẫn đến mức thất nghiệp ở thành thị và nông thôn cao hơn. Theo giả thiết, tỷ lệ di
c tăng lên theo cả mức lơng và số cơ hội công ăn việc làm ở thành thị cho nên đối với
bất kỳ một mức chênh lệch về lơng giữa nông thôn và thành thị, số công ăn việc làm ở
thành thị tăng lên sẽ mở rộng mức chênh lệch dự kiến và còn kích thích nhiều ngời dời
nông thôn ra thành thị. Mỗi công việc mới tạo thêm lại có thể hấp dẫn hai đến ba ngời di
c trớc đó tham gia vào quá trình sản xuất ở nông thôn. Do đó, một chính sách đợc hoạch
định làm giảm thất nghiệp sẽ không chỉ dẫn đến mức thất nghiệp ở thành thị cao hơn mà
còn làm giảm sản lợng nông nghiệp và số công việc ở nông thôn.
14
Lơng và giá cả: Các khoản trợ giá lơng bổng và hình thức trợ giá truyền thống
theo nhân tố khan hiếm có thể có tác dụng tiêu cực vì mức lơng thực tế ở thành thị thờng
vợt quá mức lơng chính xác hay mức lơng theo thị trờng do một số nhân tố khác nhau
về thể chế gây ra kể cả quy luật định mức lơng tối thiểu nên ngời ta lập luận rằng việc
loại trừ những sự bóp méo về lơng thông qua biện pháp điều chỉnh giá hoặc một hệ
thống trợ giá sẽ khuến khích những phơng thức sản xuất sử dụng nhiều lao động hơn.
Mặc dù những chính sách ấy có thể tạo thêm công ăn việc làm ở thành thị nhng chúng
có thể làm cho tình trạng thất nghiệp trở nên trầm trọng theo lập luận trên về hiện tợng
di c. Tác động của chính sách cắt giảm lơng tơng đối khi đã tính đến cả khu vực nông
thôn lẫn thành thị đối với phúc lợi xã hội trớc mắt là cha rõ ràng. Phần lớn sẽ phụ thuộc

nông nhàn bằng cách tăng vụ, đa dạng hoá các loại cây trồng... Trong giai đoạn này,
nông nghiệp cần có sự hỗ trợ nhất định về giáo dục, giao thông, tín dụng, thuỷ lợi nhng
không cần đầu t nhiều. Kết quả làm tăng sản lợng trong nông nghiệp dẫn đến tăng thu
nhập của nông dân từ đó tăng nhu cầu về hàng tiêu dùng và là điều kiện bớc đầu phát
triển công nghiệp hàng tiêu dùng.
Bớc hai giải quyết việc làm trong nông thôn bằng cách phát triển thủ công mỹ
nghệ, dịch vụ nông thôn, chế biến...Sự phát triển này đòi hỏi có sự phát triển đồng bộ:
sản xuất - vận chuyển - tiêu thụ. Bên cạnh đó khu vực nông nghiệp tiếp tục sản xuất, họ
có nhu cầu cao về phân bón và các công cụ lao động bắt đầu có sự di chuyển lao động
nông nghiệp ra thành thị phục vụ cho phát triển công nghiệp, dịch vụ. Đây là một giai
đoạn dài sự di chuyển dần dần đến khi thị trờng lao động bị thu hẹp.
Bớc ba giai đoạn có việc làm đầy đủ. Khi lao động nông nghiệp chuyển dần ra
thành phố đồng thời với thu nhập trong nông thôn tăng lên có nhu cầu cơ giới hoá nông
nghiệp và việc cơ giới hoá này cho phép giải phóng một lợng lớn lao động nông nghiệp.
Giai đoạn này về phía khu vực công nghiệp đã tăng quy mô sản xuất, tích luỹ vốn, kinh
nghiệm sản xuất, có khả năng sản xuất sản phẩm nên tiếp tục có nhu cầu lao động. Giai
đoạn này dịch vụ phát triển nhanh và nhu cầu lao động cũng tăng nhanh.
16
Đây là mô hình phù hợp với thực tiễn của các nớc đang phát triển đặc biệt là đối
với nớc ta.
Qua các mô hình nêu trên, chúng ta có thể tóm tắt ý kiến của các nhà kinh tế về
thuyên chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị nhằm giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn nh sau:
- Tạo một sự cân bằng phù hợp về kinh tế và các cơ hội khác giữa nông thôn và
thành thị.
- Mở rộng các ngành nghề sản xuất quy mô nhỏ, sử dụng nhiều lao động ở khu
vực nông thôn.
- Lựa chọn công nghệ sản xuất phù hợp sử dụng nhiều lao động.
- Điều chỉnh mối liên hệ trực tiếp giữa giáo dục và công ăn việc làm.
- Điều chỉnh vấn đề dân số.

dung chủ yếu của nó là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội ở nông thôn gắn liền với
đổi mới công nghệ theo hớng công nghiệp và dịch vụ - là những ngành kinh tế ngày
càng chiếm vị trí quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong kinh tế nông thôn.
Hiện đại hoá nông thôn có nghĩa là nói về tiến bộ kỹ thuật, công nghệ trong sản
xuất và văn minh tiến bộ trong đời sống vật chất tinh thần cũng nh lối sống ở nông thôn.
Công nghệ tiến bộ hơn về chất và công nghệ đó có trình độ hiện đại hơn so với công
nghệ hiện có, đời sống và lối sống đợc nâng cao và văn minh hơn thì đó chính là quá
trình hiện đại hoá. Với ý nghĩa nh vậy: công nghiệp hoá sẽ gắn liền với hiện đại hoá và
hiện đại hoá chỉ tiến hành thực hiện đợc khi tiến hành công nghiệp hoá.
1.2. Mục tiêu của công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở nông thôn.
+ Giải quyết việc làm cho lao động d thừa ở nông thôn, nâng cao thu nhập và
mức sống cho dân c nông thôn.
+ Đa dạng hoá nền kinh tế nông thôn, đa dạng hoá ngành nghề lao động ở nông
thôn trên cơ sở thị trờngạo ra ngành nghề mới.
18
+ Sử dụng lao động d thừa tại chổ trên địa bàn nông thôn, vừa là ruộng vừa làm
nghề khác nh công nghiệp và dịch vụ nông thôn hay phơng thức làm nghề khác nh làm
ở các doanh nghiệp công nghiệp, dịch vụ nông thôn ở làng xã, thị trấn huyện lỵ (nhng
vẫn sinh sống ở làng) đi đôi với hiện đại hoá nông nghiệp và đô thị hoá nông thôn.
2. Vai trò của giải quyết vấn đề lao động việc làm ở nông thôn Việt Nam
trong thời kỳ công nghiệp hoá-hiện đại hoá.
2.1. Về mặt kinh tế
Sau hơn 10 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt đợc nhiều thành tựu kinh tế đáng kể.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại không ít khó khăn cản trở sự phát triển của nền kinh
tế mà thất nghiệp đợc xem là một trong những khó khăn lớn nhất.
Vấn đề giải quyết thất nghiệp ngày càng bức xúc hơn khi đất nớc bớc vào giai
đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Vì vậy, việc giải quyết việc làm cho lao
động trong cả nớc nói chung và ở nông thôn Việt Nam nói riêng có ý nghĩa to lớn đối
với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc. Để thấy rõ ý nghĩa về mặt kinh tế
của vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn cần xem xét trên hai mặt của lao

của nền kinh tế tăng lên kích thích sự phát triển của sản xuất từ đó thúc đẩy sự tăng tr-
ởng của nền kinh tế.
2.2. Về mặt xã hội
Bên cạnh những cản trở gây ra cho nền kinh tế, thất nghiệp đồng thời là nguyên
nhân của các tệ nạn xã hội. Số lao động tăng thêm khoảng trên 1 triệu ngời/năm, số ngời
thất nghiệp hoàn toàn cha đợc giải quyết. Trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá,
do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sắp xếp lại các doanh nghiệp, số lao động dôi ra
phải timf việc làm mới khoảng 3 triệu ngời.
Vấn đề tệ nạn xã hội nảy sinh từ nhiều nguyên nhân, song một nguyên nhân
không kém phần quan trọng đó là do thất nghiệp. Bởi vì trong lực lợng lao động, tầng
lớp thanh niên chiếm một tỷ lệ cao mà đối tợng này dễ bị ảnh hởng bởi ngoại cảnh nên
20
dễ dàng sa đà vào các tệ nạn xã hội, làm rối loạn trật tự an ninh xã hội, tha hoá nhân
phẩm ngời lao động, làm cản trở sự phát triển của đất nớc.
Mặt khác, trong thời gian qua với sự d thừa lao động quá nhiều ở nông thôn đã
tạo ra sức ép di dân rất lớn từ nông thôn ra thành thị và giữa các vùng không kiểm soát
đợc. Đặc điểm của lao động di c thờng là lao động trẻ, có sức khoẻ nhng trình độ
chuyên môn thấp. Việc di dân này đã bổ sung một lợng đáng kể cho lao động ở các đô
thị, góp phần tích cực vào việc sử dụng đầy đủ và hiệu quả hơn nguồn lao động nông
thôn, đồng thời góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho bản thân ngời lao động
và các thành viên trong gia đình họ ở nông thôn.
Song bên cạnh những mặt tích cực đó cũng tạo nên sức ép quá lớn cho đô thị về
nhà cửa, điện nớc sinh hoạt, y tế, thậm chí gây ra cả những rối loạn về mặt xã hội. Do
đó nếu giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ngay tại chổ sẽ làm giảm đáng kể
sức ép di dân tự do nh tình trạng hiện nay.
Hơn nữa khi ngời lao động ở nông thôn đợc giải quyết việc làm sẽ làm cho thu
nhập tăng lên, trong chừng mực nào đó sẽ nâng cao hiểu biết của ngời dân. Bởi vì khi
thu nhập tăng thì việc chi cho giáo dục đào tạo, cho đời sống tính thần sẽ cao hơn. Họ sẽ
nhận thức đợc về nguyên nhân, hậu quả của việc gia tăng dân số, từ đó có ý thức làm
giảm tốc đọ này. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thất nghiệp nh hiện

Loan, năm 1993, có trên 700.000 xí nghiệp vừa và nhỏ chiếm 98% tổng số xí nghiệp và
60% tổng số lao động của ngành công nghiệp. ậ các làng xã Đài Loan, các ngành nghề
tiểu thủ công nghiệp đợc mở mang. Các xí nghiệp gia đình cũng đợc hình thành. Kinh tế
dịch vụ hàng tiêu dùng, vật t kỹ thuật cho nông nghiệp cũng rất phát triển .
Trong qúa trình công nghiệp hoá nông thôn, công nghiệp chế biến nông sản, thực
phẩm vừa đáp ứng yêu cầu phục vụ nông nghiệp tại chỗ vừa thu hút lao động địa phơng
22
tạo thêm việc làm mới. Trong vòng bốn thập kỷ từ 1951 đến 1990 cơ cấu ngành của
Đài Loan đã có sự cải biến sâu sắc triệt để. Ngành nông nghiệp từ 35,5% trong GDP
giảm xuống còn 4,2%. Điều đó chứng tỏ nông thôn nông nghiệp cũng cải biến một cách
sâu sắc triệt để.
Công nghiệp hoá nông thôn ở Đài Loan đã thu đợc những thành tựu quan trọng.
Thu nhập hộ nông dân năm 1972 tăng lên hai lần so với năm 1952. Năm 1952, bình
quân thu nhập đầu ngời ở nông thôn nông nghiệp chỉ là 122 USD thì đến năm 1990 là
5648 USD, tức là trong vòng ba thập kỷ, Đài Loan đã nâng thu nhập bình quân đầu ngời
trong lĩnh vực nông thôn nông nghiệp lên 42,29 lần. Sự tăng thu nhập chủ yếu do nguồn
thu nhập ngoài nông nghiệp: năm 1952 chiếm 13%, năm 1966 chiếm 34%, năm 1979
chiếm 69%. Công nghiệp hoá nông thôn thúc đẩy sự hình thành các liên hiệp nông -
công nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp nâng cao giá
trị nông sản, thực phẩm. Công nghiệp hoá nông thôn đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu
lao động xã hội. Năm 1952, ở Đài Loan lao động nông nghiệp chiếm 56%, lao động
công nghiệp chiếm 16,9%, lao động dịch vụ chiếm 27%. Đến năm 1992, lao động nông
nghiệp giảm còn 12,8%, lao động công nghiệp tăng lên 40,2%, lao động dịch vụ tăng
lên 46,9%.
2. Thái Lan
Nếu so với Đài Loan thì công nghiệp hoá nông thôn ở Thái Lan còn nhiều hạn
chế. Về điều kiện tự nhiên trong nông nghiệp, Thái Lan có nhiều thuận lợi. Diện tích
canh tác bình quân đầu ngời cao nhất so với các nớc vùng Đông Nam á.
Những năm 50,60 Thái Lan thực hiện công nghiệp hoá tập trung vào đô thị, nhng
công nghiệp phát triển không hiệu quả, nông nghiệp vẫn trong tình trạng trì trệ. Do vậy,

ời thất nghiệp từ thành thị đổ về nông thôn làm cho số hộ ở nông thôn tăng lên nhanh
chóng. Trớc năm 1945, số hộ ở nông thôn khoảng 5,5 triệu, năm 1960 là 6,18 triệu hộ.
24
Nhật Bản đã có chính sách và biện pháp nhằm thực hiện công nghiệp hoá nông thôn vừa
biến nền nông nghiệp cổ truyền kiểu Châu á thành nền nông nghiệp tiên tiến, vừa phát
triển công nghiệp nông thôn theo hớng đa dạng nhằm giải quyết việc làm ở nông thôn.
Hiện đại hoá nông nghiệp Nhật Bản, các loại máy đơn giản, rẻ tiền đợc trang bị
và sử dụng theo từng hộ gia đình, còn các loại máy phức tạp, đắt tiền (máy gặt đập, máy
kéo lúa,...) đợc trang bị sử dụng chung. Đến những năm 1990, nông dân Nhật Bản đã đủ
máy móc thiết bị để cơ giới hoá đồng bộ trong canh tác. Cơ giới hoá đạt 98%-100%
khâu làm đất, tới tiêu 100%, gặt đập 99%, sấy thóc 95%. Do vây, chi phí sản xuất ra
một tạ thóc giảm từ 60 giờ công xuống còn 8 giờ công. Giá trị sản phẩm nông nghiệp
của Nhật năm 1990 tăng 30 lần so với năm 1960. Do năng suất lao động tăng nên chi
phí lao động giảm, hàng chục triệu lao động từ nông nghiệp đã đợc chuyển sang công
nghiệp. Tỷ trọng lao động công nghiệp đã giảm đi nhanh chóng, năm 1950 là 45%, năm
1990 còn 6,3% trong tổng số lao động toàn xã hội. Cơ cấu kinh tế của các trại gia đình ở
Nhật Bản đã chuyển dịch từ thuần nông sang nông công nghiệp .
Công nghiệp nông thôn cũng đợc chú trọng phát triển, xí nghiệp quy mô vừa và
nhỏ cũng có nhiều cơ sở. Công nghiệp ra đời có vai trò vô cùng quan trọng với kinh tế
nông thôn, xí nghiệp gia đình thờng làm nhiệm vụ gia công chi tiết máy đơn giản. Ngời
lao động không đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, chỉ cần đào tạo bồi dỡng trong thời gian
ngắn là có đủ kiến thức đảm nhận các công việc chế tạo đơn giản. Do đó, một bộ phận
lớn lao động nông thôn đã đợc giải quyết việc làm , đồng thời di chuyển dần lao động từ
nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền
thống cũng đợc khuyến khích phát triển. Vào những năm 1970, tỉnh OITA (Tây nam
Nhật Bản) đã có phong trào mỗi thôn làng một sản phẩm nhằm khai thác các ngành
nghề cổ truyền ở nông thôn. Ngay năm đầu tiên họ đã tạo ra 143 loại sản phẩm thu đợc
250 triệu USD. Đến năm 1992 tăng lên 1,2 tỷ USD. Phong trào phục hồi ngành nghề
tiểu thủ công nghiệp truyền thống lan rộng ra cả nớc, Nhật Bản đã giải quyết việc làm
cho hàng triệu lao động ở nông thôn và làm tăng mức sống cũng nh tốc độ đô thị hoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status