Một số giải pháp tạo việc làm cho người lao động nông thôn huyện Ba Bể trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Pdf 23

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hoàng Xuân Thế

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN HUYỆN BA BỂ TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


1.1. Cơ sở khoa học về lao động và việc làm
4
1.1.1. Cơ sở lý luận về lao động, việc làm
4
1.1.2. Kinh nghiệm sử dụng lao động và tạo việc làm ở một số
nước trên thế giới và Việt Nam
31
1.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
37
1.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu
37
1.2.2. Phương pháp xử lý, tổng hợp số liệu
38
1.2.3. Phương pháp phân tích số liệu
38
1.2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
39
Chƣơng II - THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM
NÔNG THÔN HUYỆN BA BỂ
40
2.1. Đặc điểm chung của huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn
40
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
40
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
45
2.2. Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
54
2.2.1. Khái quát về lao động và việc làm ở huyện Ba Bể
54

thôn
76
3.3. Một số giải pháp cụ thể trong giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn
78
3.3.1. Giải pháp chung tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Ba Bể
78
3.3.2. Giải pháp cụ thể tạo việc làm cho người lao động trên địa
bàn huyện Ba Bể
79
KẾT LUẬN
85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
86
PHỤ LỤC
88

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình tồn tại và phát
triển của mỗi địa phương, mỗi quốc gia, ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh
tế - xã hội. Giải quyết việc làm là vấn đề mang tính toàn cầu, là một thách
thức lớn đối với các nền kinh tế. Đối với những nước đang phát triển, nơi
nguồn lao động còn rất dồi dào và chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn thì

Ba Bể; nghiên cứu khó khăn, thuận lợi của lực lượng lao động để từ đó đề
xuất giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm và nâng cao chất lượng lao động
nông thôn huyện Ba Bể góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp
hóa – hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học về lao động, việc làm; thực tiễn vấn đề
việc làm trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm của lao động nông thôn trên
địa bàn huyện Ba Bể.
- Đề ra định hướng và giải pháp nhằm tạo việc làm và nâng cao chất
lượng lao động nông thôn trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến việc làm người lao động nông thôn huyện Ba Bể.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu vấn đề về việc làm lao động nông
thôn trên địa bàn huyện Ba Bể.
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu số liệu giai đoạn 2007 – 2011.
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn là công trình khóa học có ý nghĩa trong lý luận và thực tiễn, là tài
liệu giúp huyện Ba Bể xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân
lực, thực hiện hiệu quả chương tình phát triển kinh tế xã hôi, xóa đói giảm
nghèo. Luận văn nghiên cứu toàn diện về việc làm và lao động nông thôn trên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8

địa bàn huyện. Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm cho lao động
nông thôn phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của huyện

sống con người. Theo C.Mác: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra
giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính
mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ
và tự nhiên” [4]; [2].
Ph.Ăng-ghen viết: “Lao động là nguồn gốc cho mọi của cải. Lao động
đúng là như vậy, khi đii đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho
lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng
lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời
sống loài người và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta
phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài người” [2].
Như vậy có thể thấy lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của
con người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng
trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao
động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình. Nói cách khác, trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10

bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại
và phát triển của xã hội.
Vai trò của lao động trong quá trình sản xuất và tài sản xuất: Trong
quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối
tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người. Lao
động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự
tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội. Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá
trình sản xuất và tái sản xuất nào. Như vậy, động lực của quá trình triến kinh
tế, xã hội quy tụ lại là ở con người. Con người với lao động sáng tạo của họ
đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia, mỗi địa phương. Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai

quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình phát triển kinh tế
- xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực (nguồn lực con người), vật
lực (nguồn lực vật chất), tài lực (nguồn lực về tài chính) song chỉ có nguồn
lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác
muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người.
Ngay cả trong điều kiện đạt được tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại như hiện
nay thì cũng không thể tách rời nguồn lực con người, bởi lẽ: Chính con người
tạo ra máy móc thiết bị hiện đại, điều đó thể hiện mức độ hiểu biết và chế ngự
tự nhiên của con người. Nếu xem xét nguồn lực là tổng thể những năng lực
của con người tham gia vào quá trình sản xuất thì năng lực đó là nội lực của
con người. Trong phạm vi xã hội, đó là những nguồn nội lực quan trọng cho
sự phát triển. Đặc biệt, đối với nước ta có nền kinh tế đang phát triển, dân số
đông, nguồn nhân lực dồi dào đã trở thành nguồn nội lực quan trọng nhất.
Nếu biết khai thác tốt sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển. Định
hướng của Đảng đã được nêu ra trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực
phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đến 2020 là: “Người
lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được
đào tạo bồi dưỡng và phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với
một nền khoa học, công nghệ hiện đại”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12

Phân loại nguồn lao động:
Trong nghiên cứu nguồn lao động, các thuật ngữ sau đây được sử dụng
theo nghĩa tương tự: lực lượng lao động, dân số làm việc và "dân số hoạt động
kinh tế". Thông thường, người ta phải chia dân số thành hai khối lớn: một
khối là những người tích cực với các hoạt động kinh tế. Khuyến nghị của Liên
hợp quốc đối với các cuộc điều tra dân số, hai bộ phận này được tách bạch

lao động của người lao động và tất cả các điều kiện tối thiểu cần thiết để
người lao động sử dụng sức lao động của họ tác động lên tư liệu sản xuất và
tạo ra sản phẩm xã hội. Quá trình kết hợp sức lao động và các điều kiện cần
thiết để sử dụng sức lao động là quá trình người lao động làm việc. Quá trình
lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động trong công việc. Điều
13, chương II Bộ Luật Lao Động nước CHXHCN Việt Nam có ghi rõ: “Mọi
hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được
thừa nhận là việc làm”. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm:
“Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện
vật” [6], [8].
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội,
phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Một người lao động có
việc làm khi người ấy chiếm được một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất
của xã hội. Thông qua việc làm, người ấy thực hiện quá trình lao động tạo ra
sản phẩm và thu nhập của người họ.
Mỗi một hình thái xã hội, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội thì
khái niệm việc làm được hiểu theo những khía cạnh khác nhau. Trước đây
người ta cho rằng chỉ có việc làm trong các xí nghiệp quốc doanh và trong
biên chế nhà nước thì mới có việc làm ổn định, còn việc làm trong các thành
phần kinh tế khác thì bị coi là không có việc làm ổn định. Với những quan
niệm đó nên người lao động cố gắng xin vào làm việc trong các cơ quan, xí
nghiệp này. Nhưng hiện nay quan điểm ấy không tồn tại nhiều trong số những
người đi tìm việc làm. Lực lượng lao động này sẵn sàng tìm bất cứ công việc
gì, ở đâu, thuộc thành phần kinh tế nào cũng được miễn là hành động lao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14

động của họ được nhà nước khuyến khích không ngăn cấm và đem lại thu

15

với những người làm việc đủ thời gian qui định và có thu nhập lớn hơn tiền
lương tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ.
Thiếu việc làm: là những việc làm không tạo điều kiện cho người lao
động tiến hành sử dụng hết qũy thời gian lao động, mang lại thu nhập cho họ
thấp dưới mức lương tối thiểu và người tiến hành việc làm không đầy đủ là
người thiếu việc làm.
Theo Tổ chức Lao động Thế giới (Viết tắt là ILO) thì khái niệm thiếu
việc làm được biểu hiện dưới hai dạng sau: (i) Thiếu việc làm vô hình: Là
những người có đủ việc làm làm đủ thời gian, thậm chí còn quá thời gian qui
định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao động thấp, điều kiện lao
động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấp thường có mong
muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn; (ii) Thiếu việc làm hữu
hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời gian ít hơn quỹ thời
gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm việc làm
và luôn sẵn sàng để làm việc.
Thất nghiệp: Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động nhưng không có việc làm, hay nói cách khác là sẵn sàng làm
việc và đang đi tìm việc làm. Thất nghiệp được chia thành nhiều loại: (i) Thất
nghiệp tạm thời: Phát sinh do di chuyển không ngừng của sức lao động giữa
các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống; (ii) Thất
nghiệp cơ cấu: xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động, việc
làm. Sự không ăn khớp giữa số lượng và chất lượng đào tạo và cơ cấu về yêu
cầu của việc làm, mất cân đối giữa cung và cầu lao động; (iii) Thất nghiệp
chu kỳ: Phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp và không ổn định.
Những giai đoạn mà cầu lao động thấp nhưng cung lao động cao sẽ xảy ra
thất nghiệp chu kỳ [20].
* Phân loại việc làm theo vị trí lao động của người lao động, bao gồm:
(i) Việc làm chính: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời

xã hội. Vì vậy, vấn đề việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội cả về mặt
tích cực và tiêu cực. Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó
được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, giảm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17

thiểu các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về nhân
cách và trí tuệ…Ngược lại, khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng nhu cầu
về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống
xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người. Con người có
nhu cầu lao động, ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu
cầu về phát triển và tự hoàn thiện. Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi không
có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng
và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội. Ngoài ra, không có việc làm trong xã
hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu
thuẫn và ảnh hưởng đến tình hình chính trị.
Vai trò việc làm đối với từng cá nhân đối với phát triển kinh tế, ổn định
chính trị xã hội là rất quan trọng. Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu việc làm
của toàn xã hội đòi hỏi nhà nước và từng địa phương phải có những chiến
lược, kế hoạch cụ thể đáp ứng được nhu cầu này.
c. Giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu
sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội
khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đòi hỏi cơ chế tạo việc làm từ 3
bên, bao gồm: sự tham gia tích cực của người lao động, nhà nước và người sử
dụng lao động, sao cho cơ hội việc làm và mong muốn được làm việc của
người lao động gặp nhau trên thị trường đúng lúc, đúng chỗ.

từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, chiếm 58,5% tổng dân số, bao
gồm 49,5 triệu người có việc làm và 1,3 triệu người thất nghiệp. Trong tổng
số lực lượng lao động của cả nước, nữ giới chiếm tỉ trọng thấp hơn nam giới
(46,6% nữ giới so với 51,4% nam giới). Theo kết quả Tổng điều tra dân số,
trong vòng 30 năm qua, tỷ lệ nữ giới chiếm trong lực lượng lao động thay đổi
rất ít (Năm 1989: 48,8%; Năm 1999: 48,2%; Năm 2009: 48%).
Tỷ trọng nữ trong lực lượng lao động chênh lệch không đáng kể giữa
thành thị và nông thôn, nhưng sự thay đổi từ mức thấp nhất là 45,7% ở Đồng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19

bằng sông Cửu Long lên mức cao nhất là 50,6% ở Đồng bằng Sông Hồng. Số
liệu cho thấy, có sự ngược chiều về mức độ tham gia vào lực lượng lao động
giữa hai giới ở hai vùng đồng bằng lớn của nước ta.
Bảng 1.1. Cơ cấu lao động của Việt Nam năm 2010
TT
Nơi cƣ trú/các vùng
kinh tế - xã hội
Lực lƣợng
lao động
(nghìn ngƣời)
Tỷ trọng
%
Nữ
Tổng số
(%)
Nam
(%)

II
Các vùng kinh tế -
xã hội 2.1
Trung du và miền núi
phía Bắc
6.942
13,7
13,3
14,1
50
2.2
Đồng bằng Sông
Hồng
11.554,5
22,7
21,8
23,7
50,6
2.3
Bắc Trung bộ và
Duyên hải miềm
trung
11.040,7
21,7

28%) và 36,6 triệu lao động ở khu vực nông thôn (chiếm 72%). Số lao động
nữ trong tổng số lao động ở khu vực nông thôn chiếm 49% còn lại là lao động
nam (chiếm 51%).
Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010 cho thấy, tỉ
lệ tham gia lực lượng lao động của cả nước, thành thị, nông thôn và các vùng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20

kinh tế - xã hội có sự chênh lệch. Năm 2010, trong tổng số 65,7 triệu người từ
15 tuổi trở lên có hơn ba phần tư (77,4%) tham gia lực lượng lao động. Tỷ lệ
tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa năm và nữ ( 82% so với
73%) và không đồng đều giữa các vùng. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
năm 2010 của khu vực nông thôn cao hơn thành thị tới 11,5 điểm phần trăm
(81% so với 69,5%). Cả năm giới và nữ giới đều có sự chênh lệch song mức
chênh lệch của nữ giới lớn hơn nam giới.
Bảng 1.2. Tỷ lệ tham gia lực lƣợng lao động phân theo giới tính của Việt
Nam năm 2010
Vùng kinh tế - xã hội
Tổng
số
(%)
Trong đó
Nam
(%)
Nữ
(%)
Chênh
lệch


21

Bảng 1.3. Lực lƣợng lao động đã qua đào tạo của Việt Nam chia theo
trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2010
Vùng kinh tế - xã hội
Tổng
số
(%)
Không

CMKT
Dạy
nghề
Trung
cấp
Cao
đẳng
Đại học
trở lên
Toàn quốc
100
85,3
3,8
3,5
1,7
5,7
Thành thị
100
69,6

4,4
3,5
Cao đẳng
1,9
1,7
1,7
Đại học
4,9
5,2
5,7
Tổng số
17,7
17,6
14,7
Nguồn: Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010
Việt Nam đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, việc tận dụng “cơ cấu
dân số vàng” để tạo cơ hội cho phát triển kinh tế - xã hội đã và đang nhận
được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính
sách. Chính vì vậy, để tạo ra lực lượng lao động vàng trong thời kỳ này,
chúng ta cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn với chiến
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22

lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm tận dụng hiệu quả cơ hội vàng của dân
số cho phát triển, tập trung vào cải cách và điều chỉnh hệ thống giáo dục đào
tạo hướng đến thị trường nhằm tạo ra một lực lượng lao động kỹ thuật có tay
nghề, có trình độ chuyên môn thỏa mãn nhu cầu lao động có kỹ thuật của các
doanh nghiệp và thị trường lao động.

động trong khu vực.
Biểu đồ 1.1. Tỉ số việc làm trên dân số từ 15 tuổi trờ lên theo giới
tính, thành thị/nông thôn và các vùng kinh tế - xã hội năm 2010 Nguồn: Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010
Nghiên cứu Bảng 1.5 cho thấy, trong tổng số hơn 50,8 triệu lao động
trong cả nước thì lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật
chiếm tỉ lệ cao 85,4%. Tỉ lệ lao động có trình độ đại học trở lên khá thấp,
chiếm 5,7% trong tổng số lực lượng lao động trong cả nước. Lực lượng lao
động đã qua đào tạo chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị, tỉ lệ rất nhỏ ở khu
vực nông thôn.
Khu vực thành thị, tỉ lệ lao động không có chuyên môn kỹ thuật chiếm
69,4%, lực lượng lao động có trình độ đại học trở lên chiếm 15,6% trong tổng
số lao động thành thị (hơn 13 triệu lao động). Khu vực nông thôn, tỉ lệ lao
động không có chuyên môn kỹ thuật chiếm tỉ lệ rất cao 91,4%, đây là bài toán
cho hoạt động đào tạo nghề đối với lực lượng lao động này. Nếu không giải
quyết tốt hoạt động đào tạo nghề cũng như hoạt động hướng nghiệp và tạo
việc làm thì lực lượng này sẽ là gánh nặng cho các địa phương nói riêng và
nền kinh tế nói chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 24

5,6
2,9
15,6
Nông thôn
100
91,5
2,8
2,6
1,2
1,9
Các vùng kinh tế - xã hội
Trung du và miền núi phía Bắc
100
86,7
3,5
4,5
1,9
3,3
Đồng bằng sông Hồng
100
79,3
6,6
4,1
1,9

Nguồn: Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010
Qua các con số tại Bảng 1.5 cho thấy, chất lượng lực lượng lao động
của Việt Nam còn thấp, đây chính là áp lực và thách thức lớn trong việc đáp
ứng mục tiêu phát triển bền vững. Lao động với chất lượng thấp đồng nghĩa
với việc làm không bền vững, việc trả lương thấp và không đáp ứng được xu
thế mới, sử dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất và quản lý, hiệu quả trong
lao động không thể đạt hiệu suất tối đa.
Cơ cấu lao động có việc làm theo nghề nghiệp: Thống kê đến năm
2010, phần lớn lao động làm việc trong nền kinh tế vẫn làm những nghề
không cần phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật như yêu cầu về kỹ năng nghề
nghiệp như: 19,3 triệu lao động làm “Nghề giản đơn”, 7,6 triệu lao động làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 25

“Nghề nông, lâm, ngư nghiệp”, 7,2 triệu lao động làm “Dịch vụ cá nhân, bảo
vệ và bán hàng” và 6,2 triệu lao động làm “Thợ thủ công và các thợ khác có
liên quan”. Lao động làm các nghề quản lý, đòi hỏi phải có trình độ chuyên
môn kỹ thuật và yêu cầu phải có tay nghề cao chiếm tỉ trọng khá khiêm tốn
trong tổng số lao động đang làm việc.
Bảng 1.6. Tình hình lao động có việc làm của Việt Nam năm 2010
Nghề nghiệp
Số ngƣời
có việc làm
(nghìn
ngƣời)
Tỉ trọng (%)
%
Nữ

7.205,2
14,6
10,3
19,1
63,6
Nghề trong nông, lâm, ngư nghiệp
7.658,1
15,5
17,6
13,3
41,6
Thợ thủ công và các thợ khác có
liên quan
6.244,9
12,6
17,4
7,6
29
Thợ lắp ráp và vận hành máy móc
thiết bị
3.464,9
7
8,5
5,4
37,6
Nghề đơn giản
19.303
39,1
35,1
43,3

Nguồn: Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010
Nghiên cứu biểu đồ 1.2 cho thấy, sự khác nhau trong thu nhập của lao
động làm công ăn lương theo loại hình kinh tế. Trong 3 loại hình kinh tế đang
xem xét, khu vực “Vốn đầu tư nước ngoài” có thu nhập bình quân cao nhất
(khoảng 3 triệu đồng/tháng) và khu vực “Ngoài nhà nước có thu nhập bình
quân thấp nhất (khoảng 2,2 triệu đồng/tháng). Chênh lệch thu nhập giữa giới
tính nam và nữ khá rõ rệt. Loại hình có chênh lệch thu nhập nam – nữ cao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 27

nhất là “Vốn đầu tư nước ngoài”, khoảng 1,5 triệu đồng/tháng. Mặc dù đây là
khu vực có điều kiện làm việc tốt và thu hút nhiều lao động nữ nhưng thu
nhập của đối tượng này thường vẫn thấp hơn đáng kể so với nam giới.
Thống kê thu nhập và trình độ chuyên môn cho thấy, thu nhập của lực
lượng lao động có trình độ “Đại học trở lên” có mức chênh lệch khá cao so
với trình độ chuyên môn khác. Đặc biệt, chênh lệch thu nhập của nhóm có
trình độ “Đại học trở lên” với “Chưa qua đào tạo” tới 1,9 lần. Bên cạnh đó,
thu nhập giữa nam và nữ có sự chênh lệch ở tất cả các phân tổ nghiên cứu.
Điều này cho thấy, có sự phân biệt về giới tính trong thu nhập của lực lượng

4.018
4.256
3.722
Nguồn: Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010
Bên cạnh những kết quả trên, báo cáo về lao động và việc làm năm
2010 đã thống kê thu nhập của lực lượng lao động làm việc trong các ngành
kinh tế. Thu nhập bình quân thay đổi từ mức thấp nhất là ngành “Nông, lâm,
thủy sản” (khoảng 1,8 triệu đồng/tháng) đến mức cao nhất là ngành “Hoạt
động của các tổ chức và cơ quan quốc tế” (khoảng 8 triệu đồng/tháng). Một
số ngành có thu nhập khác (trên 3,5 triệu đồng/tháng) “Hoạt động kinh doanh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trích đoạn Đánh giá hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện Ba Bể Mục tiêu về lao động và việc làm cho lao động nông thôn Dự báo nguồn lao động và nhu cầu việc làm lao động nông thôn [13], [15] Giải pháp chung tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ba Bể Giải pháp cụ thể tạo việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ba Bể
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status