Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ LINH
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NHẰM TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thái Nguyên, năm 2007
và các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh
Thái Nguyên, đặc biệt là Phó giáo sư, Tiến sỹ Đỗ Thị Bắc trường Đại học
Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã nhiệt tình hướng dẫn chỉ bảo
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài của mình.
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi còn nhận được sự giúp đỡ và cộng
tác của các cá nhân và tập thể: Phòng Nội vụ, phòng Nông nghiệp, phòng Kế
hoạch - Đầu tư, phòng Tài nguyên – Môi trường, phòng Công thương, phòng
Thống kê, Uỷ ban Dân số gia đình và trẻ em thành phố Thái Nguyên; UBND
xã Lương Sơn, UBND xã Tân Cương, UBND phường Túc Duyên và các hộ
gia đình đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra thu thập số liệu, cũng
như nghiên cứu thực hiện đề tài, tôi xin cảm ơn.
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp đỡ
tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Thái Nguyên, ngày 16 tháng 12 năm 2007
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Linh
iv
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
iv
v
vi
vii
1
1
3
3
4
4
Chƣơng I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5
1.1.
1.2. 1.1.1.
1.1.2.
1.1.3.
1.1.4.
1.2.1.
1.2.2.
Cơ sở khoa học của việc nghiên việc làm cho ngƣời lao động
Việc làm và các vấn đề liên quan đến việc làm 2.3
2.1.1.
2.1.2.
2.1.3.
2.2.1
2.2.2.
2.3.1.
2.3.2.
2.3.3.
2.3.4.
Đặc điểm chung của thành phố Thái Nguyên
Điều kiện tự nhiên của thành phố Thái Nguyên
Điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên
Đánh giá thuận lợi và khó khăn về việc làm của ngƣời lao động
nông thôn ở thành phố Thái Nguyên
Chƣơng III: ĐỊNH HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM
CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
89
3.1.
3.2.
Các quan điểm cơ bản về vấn đề tạo việc làm cho ngƣời lao
động nông thôn ở thành phố Thái Nguyên
Những căn cứ, định hƣớng và mục tiêu chủ yếu để tạo việc làm cho
ngƣời lao động nông thôn thành phố Thái Nguyên trong thời gian tới
89
91
iv
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đai hợp lý, hiệu quả nhằm tạo
việc làm cho ngƣời lao động nông thôn ở thành phố Thái Nguyên
Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn ở thành phố Thái Nguyên
nhằm sử dụng hợp lý và hiệu quả
Thực hiện hiệu quả chƣơng trình quốc gia về việc làm
Tăng cƣờng xuất khẩu lao động
Hoạt động gián tiếp và trực tiếp tạo việc làm cho ngƣời lao động
nông thôn ở thành phố Thái Nguyên
Thực hiện tốt chính sách phát triển nguồn nhân lực
91
91
92
93
94
103
105
111
112
114
115
CNH
DT
DV
ĐVT
KT
HĐH
LĐ
NN
NLN
NQD
NK
NS
SD
SP
SX
TDMNBB
THCS
THPT
Tr.đồng
TT
TTCN
UBND
XDCB
XH
XHCN
WTO
:
:
:
:
Kinh tế
Hiện đại hoá
Lao động
Nông nghiệp
Nông lâm nghiệp
Ngoài quốc doanh
Nhân khẩu
Năng suất
Sử dụng
Sản phẩm
Sản xuất
Trung du miền núi Bắc Bộ
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Triệu đồng
Trồng trọt
Tiểu thủ công nghiệp
Uỷ ban nhân dân
Xây dựng cơ bản
Xã hội
Xã hội chủ nghĩa
Tổ chức Thương mại thế giới vi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tình hình đất đai ở thành phố Thái Nguyên năm 2004 – 2006
Diện tích đất nông nghiệp thành phố Thái Nguyên năm 2004 – 2006
chia theo đơn vị hành chính
Tình hình nhân khẩu và lao động ở Thành phố Thái Nguyên năm
2004 – 2006
Cơ sở vật chất kỹ thuật ở thành phố Thái Nguyên năm 2004 – 2006
Kết quả tạo việc làm cho người lao động nông thôn ở thành phố
Thái Nguyên năm 2004 – 2006
Tình hình nhân khẩu và lao động nông thôn thành phố
Thái Nguyên năm 2004 – 2006
Tình hình dân số nông thôn thành phố Thái Nguyên chia theo
nhóm tuổi năm 2004 – 2006
Tình hình lao động nông thôn ở thành phố Thái Nguyên chia theo
trình độ văn hoá năm 2004 – 2006
Tình hình lao động nông thôn ở thành phố Thái Nguyên chia theo
trình độ chuyên môn năm 204 – 2006
Kết quả sản xuất các ngành kinh tế nông thôn của lao động
nông thôn ở thành phố Thái Nguyên năm 2004 – 2006
Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp ở thành phố Thái Nguyên
năm 2004 – 2006
Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu ở thành phố
Thái Nguyên năm 2004 – 2006
Kết quả sản xuất cây ăn quả ở thành phố Thái Nguyên năm
2004 – 2006
Trang
22
26
33
34
Bảng 2.16:
Bảng 2.17:
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:
Bảng 3:3:
Bảng 3.4:
Bảng 3.5:
Bảng 3.6:
Bảng 3.7:
Bảng 3.8:
Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi ở thành phố Thái Nguyên năm
2004 – 2006
Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ
bản nông thôn ở thành phố Thái Nguyên năm 2004 – 2006
Tình hình giàu nghèo ở thành phố Thái Nguyên năm 2004 – 2006
Kết quả và hiệu quả kinh tế - xã hội của người lao động nông thôn
thành phố Thái Nguyên năm 2004 – 2006
Dự kiến diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu
ở thành phố Thái Nguyên đến năm 2010
Dự kiến kết quả sản xuất cây ăn quả ở thành phố Thái Nguyên
đến năm 2010
Dự kiến kết quả sản xuất ngành chăn nuôi ở thành phố Thái Nguyên
110 vii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1:
Biểu đồ 2.2:
Biểu đồ 2.3:
Biểu đồ 2.4:
Biểu đồ 2.5:
Biểu đồ 2.6:
Biểu đồ 2.7:
Biểu đồ 2.8:
Biểu đồ 2.9:
Biểu đồ 2.10:
Biểu đồ 2.11:
56
60
63
64
69
73
75
80 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển
của mỗi người, mỗi gia đình, cũng như trong việc phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Giải quyết việc làm là vấn đề mang tính toàn cầu, là một thách
thức còn khá lâu dài với toàn thể nhân loại. Đối với các nước đang phát triển
như nước ta, nơi nguồn lao động còn rất dồi dào và chủ yếu tập trung ở các
vùng nông thôn thì tạo việc làm cho người lao động ở đó bao giờ cũng là mối
quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia.
Trong những năm qua, chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh Thái Nguyên
mức sống cho người lao động nông thôn. Muốn vậy, phải phấn đấu đến năm
2010: giảm tỷ lệ sinh hàng năm xuống 0,01%, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống
dưới 5%, nâng tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn lên 85%. Chú
trọng nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đào tạo nghề cho nông dân, hỗ
trợ vay vốn phát triển kinh tế tạo việc làm cho người lao động nông thôn và
hướng dẫn tư vấn giới thiệu xuất khẩu lao động.
Để đạt được mục tiêu trên, trước hết chúng ta cần tìm hiểu và làm rõ
vấn đề về thực trạng việc làm của người lao động nông thôn ở thành phố
Thái Nguyên trong thời gian qua, từ năm 2004 đến năm 2006 đồng thời chỉ ra
những thách thức, hạn chế cũng như khả năng tạo việc làm cho người lao
động nông thôn ở thành phố Thái Nguyên trong thời gian tới. Xuất phát từ
tình hình thực tế và nhằm giúp cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội thành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
phố nói chung và khu vực nông thôn của thành phố Thái Nguyên nói riêng
ngày càng hiệu quả và hoàn thành kế hoạch đề ra, tôi đã lựa chọn và nghiên
cứu đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm tạo việc làm cho người
lao động nông thôn thành phố Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu bao trùm của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về
việc làm của người lao động nông thôn thành phố Thái Nguyên, để từ đó đề
xuất một số giải pháp nhằm tạo việc làm cho người lao động nông thôn, góp
phần cùng thành phố Thái Nguyên thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa về cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề lao động
– việc làm.
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm của người lao động nông thôn
để tạo việc làm ở thành phố Thái Nguyên. Các giải pháp đưa ra có ý nghĩa
thiết thực đối với tạo việc làm cho người lao động nông thôn cũng như đóng
góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội chung của thành phố Thái Nguyên và
các địa phương có điều kiện tương tự.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 phần chính:
Chương I: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu về việc làm cho
người lao động.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Chương II: Thực trạng việc làm của người lao động nông thôn thành phố
Thái Nguyên.
Chương III: Định hướng và một số giải pháp tạo việc làm cho người lao
động nông thôn thành phố Thái Nguyên.
Chƣơng I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VIỆC LÀM CHO
NGƢỜI LAO ĐỘNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu việc làm cho ngƣời lao động
1.1.1. Việc làm và các vấn đề liên quan đến việc làm
1.1.1.1. Việc làm
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật
chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và
hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Như vậy, con
người vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội.
Song, con người chỉ trở thành động lực cho sự phát triển khi hoạt động tạo ra
+ Việc làm đầy đủ là sự thoả mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai có
khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Việc làm đầy đủ căn cứ trên
hai khía cạnh chủ yếu là mức độ sử dụng thời gian lao động, mức năng suất
và thu nhập. Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động làm việc theo chế độ
(độ dài thời gian lao động ở Việt Nam hiện nay là 8 giờ/ngày) [15].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
+ Việc làm có hiệu quả là việc làm với năng suất, chất lượng cao. Đối
với tầm vĩ mô việc làm có hiệu quả còn là vấn đề sử dụng hợp lý nguồn lao
động, tức là tiết kiệm được chi phí lao động, tăng năng suất lao động, bảo
đảm chất lượng của các sản phẩm làm ra và tạo ra nhiều chỗ làm việc để sử
dụng hết nguồn nhân lực.
1.1.1.2. Thiếu việc làm
Khi nguồn lao động được huy động, sử dụng không hiệu quả thì tình
trạng thiếu việc làm sẽ xảy ra, dẫn đến thu nhập người lao động thấp, giảm
mức sống con người. Đồng thời đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những tệ
nạn xã hội, thậm chí tạo ra các xung đột rối loạn về mặt an ninh chính trị…
Chính vì vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống, xoá đói giảm
nghèo trở lên có ý nghĩa to lớn, được quan tâm trong các mô hình phát triển
hiện nay ở mọi quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Thiếu việc làm là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất
nghiệp. Đó là tình trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài
ý muốn của người lao động. Họ phải làm việc nhưng không sử dụng hết thời
gian theo quy định hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, không đủ
sống khiến họ muốn tìm thêm việc làm bổ sung.
Như vậy, thiếu việc làm được hiểu là trạng thái việc làm không tạo điều
kiện cho người tiến hành nó sử dụng hết thời gian quy định và mang lại thu
nhập thấp hơn mức tiền lương tối thiểu.
Thiếu việc làm được thể hiện dưới hai dạng: Thiếu việc làm vô hình và
sản lượng của nền kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh,
tổng giá trị sản xuất giảm dần dẫn tới hầu hết các nhà sản xuất giảm lượng
cầu đối với các yếu tố đầu vào, trong đó có lao động. Đối với loại thất nghiệp
này, những chính sách nhằm khuyến khích để tăng tổng cầu thường mang lại
kết quả tích cực.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
- Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp bao gồm:
+ Thất nghiệp tự nguyện là loại thất nghiệp xảy ra khi người lao động bỏ
việc để tìm công việc khác tốt hơn hoặc chưa tìm được việc làm phù hợp với
nguyện vọng.
+ Thất nghiệp không tự nguyện là loại thất nghiệp xảy ra khi người lao
động chấp nhận làm việc ở mức tiền lương, tiền công phổ biến nhưng vẫn
không tìm được việc làm.
- Ở các nước đang phát triển, người ta chia thất nghiệp thành thất nghiệp
hữu hình và thất nghiệp vô hình.
+ Thất nghiệp hữu hình xảy ra khi người có sức lao động muốn tìm kiếm
việc làm nhưng không tìm được trên thị trường.
+ Thất nghiệp vô hình hay còn gọi là thất nghiệp trá hình là biểu hiện
chính của tình trạng chưa sử dụng hết lao động ở các nước đang phát triển. Họ
là những người có việc làm trong khu vực nông thôn hoặc thành thị không
chính thức nhưng việc làm đó có năng suất thấp, những người này đóng góp
rất ít hoặc không đáng kể vào phát triển sản xuất.
1.1.1.4. Tạo việc làm
Có thể hiểu tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào
làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo
ra hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường.
Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất là quá trình
người lao động làm việc. Người lao động làm việc không chỉ tạo ra thu nhập
hiện những việc làm mới là một yếu tố khách quan do hàng năm lực lượng lao
động được bổ sung thêm cùng với tiến trình phát triển của dân số.
Khái niệm việc làm thường gắn với chỗ làm việc bởi vì mỗi công việc cụ
thể phải có môi trường làm việc nhất định. Như thế việc làm tạo ra những chỗ
làm việc mới cũng hàm ý với việc tạo ra việc làm mới. Việc làm mới bao gồm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
những công việc đòi hỏi kỹ năng và những việc làm được tạo thêm cho người
lao động. Đối với những công việc mới này cần phải có sự thay đổi kỹ năng
lao động thông qua đào tạo, còn đối với những việc làm được tạo thêm (tăng
lượng cầu lao động) đồng nghĩa với việc tạo thêm những chỗ làm việc mà
không yêu cầu phải thay đổi kỹ năng của người lao động.
Như vậy, việc làm mới là phạm trù nói lên sự tăng lượng cầu về lao
động, nó được thể hiện dưới hai dạng: Những việc làm đòi hỏi kỹ năng lao
động mới và những chỗ làm việc mới được tạo thêm, song không đòi hỏi sự
thay đổi về kỹ năng của người lao động.
Việc làm mới được tạo ra bằng nhiều cách: Tăng chi tiêu của Chính phủ
cho các chương trình phát triển kinh tế – xã hội (tăng cầu lao động), giảm
thuế để khuyến khích phát triển sản xuất từ đó tạo ra những việc làm mới. Đối
với người lao động, để tham gia được những việc làm mới phải không ngừng
đào tạo nâng cao trình độ lao động của mình.
1.1.2. Sự cần thiết phải tạo việc làm cho ngƣời lao động
Việc làm, thất nghiệp là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn
cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia. Bởi vậy, đấu tranh chống thất
nghiệp và đảm bảo việc làm (có thu nhập) cho người lao động là thách thức
lớn của nhân loại nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng. Để tạo việc làm và
tự tạo việc làm không chỉ Đảng và Nhà nước mà bản thân người lao động
phải thấy được sự cần thiết của tạo việc làm.
1.1.2.1. Con người là mục tiêu, là động lực của sự phát triển kinh tế –
Con người muốn tồn tại và phát triển họ phải tiêu tốn một lượng tư liệu
sinh hoạt nhất định. Để có những thứ đó con người phải sản xuất và tái sản
xuất mở rộng. Quá trình sản xuất tạo ra hàng hoá, dịch vụ đó là việc làm. Như
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
vậy, muốn tăng tổng sản phẩm xã hội, một mặt phải huy động triệt để mọi
người có khả năng lao động tham gia vào nền sản xuất xã hội tức là mỗi
người phải có việc làm đầy đủ. Mặt khác, phải nâng cao hiệu quả sử dụng lao
động, nhằm khai thác triệt để tiềm năng của mỗi người nhằm đạt được việc
làm hợp lý và việc làm hiệu quả.
Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động không những tạo điều kiện để
người lao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống mà còn làm giảm các tệ nạn
xã hội, làm cho xã hội văn minh hơn.
Khi nghiên cứu lý thuyết về sự phát triển, mọi người đều nhận thức rằng:
Một trong những vấn đề cơ bản nhất trong cấu trúc của nó là phát triển nguồn
lực, coi đó là đỉnh cao nhất, là mục tiêu cuối cùng của mọi quá trình phát
triển. Điều này hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với nhận thức mới về phát
triển con người. Con người ở đây được xem xét trên hai khía cạnh thống nhất
với nhau hay nói cách khác nó là hai mặt của một vấn đề được thống nhất
trong mỗi con người.
- Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra mọi của cải vật chất và
tinh thần. Như vậy, để tồn tại và phát triển, con người bằng sức lao động của
mình, là yếu tố của quá trình sản xuất, là lực lượng sản xuất cơ bản nhất, tạo
ra giá trị hàng hoá và dịch vụ.
- Con người cần phải sử dụng và tiêu dùng của cải vật chất thông qua quá
trình phân phối và tái phân phối.
Từ lý luận và thực tiễn cũng đã chứng minh, có 3 yếu tố cơ bản nhất để
phát triển con người là đảm bảo an toàn lương thực, an toàn việc làm và an
toàn môi trường.
được. Bởi vì, đất đai trong nông nghiệp có đặc điểm:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Ruộng đất bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất là vô hạn.
Mỗi quốc gia có giới hạn diện tích đất khác nhau và tỷ lệ ruộng đất trong
nông nghiệp ở mỗi quốc gia lại càng khác biệt nhau vì nó còn tuỳ thuộc vào
điều kiện đất đai, địa hình và trình độ phát triển kỹ thuật của từng nước. Với
nước ta, mặc dù đất chật người đông nhưng tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm khá
lớn là 9.345,4 nghìn ha chiếm 29,4% tổng diện tích đất cả nước; đất lâm
nghiệp có rừng là 11.575,4 nghìn ha chiếm 35,15% tổng diện tích đất cả nước
so với diện tích đất ở chỉ chiếm 1,34%. Tuy nhiên đất chưa sử dụng (có cả
sông ngòi) vẫn còn 1.027,3 nghìn ha chiếm 30,4%. Diện tích đất lớn cho phép
khai thác theo cả chiều sâu và chiều rộng để mỗi đơn vị diện tích đất ngày
càng đáp ứng nhiều sản phẩm theo yêu cầu của con người và thị trường thế
giới. Chính việc sử dụng đất hợp lý kết hợp với sử dụng nguồn lực con người
sẽ tạo ra sự hài hoà cho việc giải quyết việc làm cho người lao động với việc
tăng sản lượng nông, lâm, ngư nghiệp.
Ruộng đất có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều, nó khác tư
liệu sản xuất khác là không bị hao mòn, không bị đào thải khỏi quá trình sản
xuất nếu sử dụng hợp lý.
Như vậy, ruộng đất có ý nghĩa to lớn trong sản xuất nông nghiệp. Mỗi
một vùng có vị trí địa lý khác nhau. Do vậy, để có việc làm cho người lao
động nông thôn thì Đảng và Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích
họ đồng thời đưa ra những giải pháp tăng sức sản xuất của ruộng đất, làm
tăng số lần quay vòng của đất.
Như vậy, ruộng đất có ý nghĩa rất lớn trong sản xuất nông nghiệp. Yếu tố
vốn và sức lao động là hai yếu tố quan trọng nhất của quá trình tạo việc làm,
hai yếu tố này hợp thành năng lực sản xuất, sức lao động là khả năng trí lực,