GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - Pdf 75

GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG
THÔN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
I.MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHIỆM VỤ GIAI ĐOẠN (2001-2005).
1. Dự báo nguồn nhân lực lao động nông thôn (2000 - 2010)
Với sự gia tăng dân số nói chung và nguồn lao động nông thôn nói riêng
trong những năm tới cần có những dự báo về nguồn nhân lực để thấy được nhu cầu
cần việc làm từ đó đề ra phương hướng mục tiêu cụ thể.
Bảng13 : Dự báo dân số nông thôn
Nhóm tuổi 2000 2005 2010
0-4 1.387,1 1.597,2 1.699,7
5-9 1.718,6 1.507,0 1.656,4
10-14 1.779,9 1.830,2 1.634,5
15-19 1.916,2 2010,0 2.056,3
20-24 1.853,4 2.193,2 2.287,9
25-29 1.773,9 2.014,7 2.358,0
30-34 1.615,9 1.879,3 2.120,2
35-39 1.541,7 1.695,2 1.958,5
40-44 1.353,8 1.602,8 1.754,3
45-49 934,6 1.390,5 1.638,9
50-54 628,3 951,9 1.407,5
55-59 489,1 633,2 953,6
60-64 403,9 481,9 622,4
65-69 365,9 385,4 458,0
70-74 269,9 325,3 348,6
75-79 168,0 220,4 260,4
80
+
154.8 191,7 236,0
Tổng 18.354,8 20.910,1 23.451,4
Nguồn: Báo cáo dự báo Dân số Việt Nam 2000-2010 của Bộ Lao động-Thương binh
và xã hội

Giá trị gia tăng nông nghiệp (kể cả thuỷ sản, lâm nghiệp) tăng bình quân
hàng năm 4,0-4,5%. Đến năm 2010, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt khoảng
40 triệu tấn. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP khoảng 16-17% (năm 2005 là 20-
21%); tỷ trọng ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng lên
khoảng 25%; thuỷ sản đạt sản lượng 3,0-3,5 triệu tấn (trong đó khoảng 1/3 là sản
phẩm nuôi, trồng). Bảo vệ 10 triệu ha rừng tự nhiên, hoàn thành chương trình trồng
5 triệu ha rừng, nâng độ che phủ của rừng lên 43%. Kim ngạch xuất khẩu nông,
lâm, thuỷ sản đạt 9-10 tỷ USD, trong đó thuỷ sản khoảng 3,5 tỷ USD. Tỷ lệ lao
động nông nghiệp còn khoảng 50%.
Với nước ta, lực lượng lao động là chủ yếu nhưng còn nhiều bất cập: số
lượng lao động nông thôn tăng, thời gian nông nhàn nhiều, số việc làm được tạo ra
chưa đáp ứng nhu cầu việc làm cho người dân lao động. Do vậy cần có mục tiêu cụ
thể cho vấn đề việc làm và tạo việc làm.
Năm 2002 sẽ giải quyết việc làm cho 1,4 triệu lao động tương đương với
năm 2001, trong đó sẽ có 330.000 lao động được hỗ trợ thông qua quỹ quốc gia, hỗ
trợ phát triển. Đồng thời khu vực nông nghiệp nông thôn sẽ tiếp tục thu hút khoảng
700.000-750.000 lao động. Công nghiệp xây dựng thu hút 180.000-200.000 lao
động. Thương mại dịch vụ từ 320.000-350.000 lao động. Mục đích từng bước rút
dần lao động trong nông nghiệp sang phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và
dịch vụ trong nông nghiệp.
Phấn đấu đến năm 2005, tạo việc làm và ổn định việc làm cho khoảng 7,5
triệu lao động ( bình quân trên 1,5 triệu lao động /năm) và đến năm 2010 đưa tỷ lệ
thành thị xuống dưới 5%, quỹ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn lên
khoảng 80-85%, nâng tỷ lệ người lao động được đào tạo nghề lên khoảng 40%.Đến
năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo.
2.1 Phương hướng và nhiệm vụ
Đại hội IX đề ra chiến lược phát triển các vùng là: phát huy vai trò của các
vùng kinh tế trọng điểm có mức tăng trưởng cao, tích luỹ lớn; đồng thời tạo điều
kiện phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy thế mạnh của từng vùng, liên kết
với vùng trọng điểm tạo mức tăng khá. Cụ thể:

giấy, và các loại cây đặc sản khác... gắn việc trồng rừng mới, trồng cây công
nghiệp, cây ăn quả với việc khôi phục và bảo vệ, chăm sóc rừng giữ vững môi
trường sinh thái và tăng nhanh độ che phủ của rừng. Mở rộng diện tích và thâm
canh cây ngô, phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày, hạn chế tiến tới chấm
dứt việc phá rừng làm nương rẫy. Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, phát triển
kinh tế trang trại. Phát huy lợi thế trong vùng, tập trung phát triển công nghiệp chế
biến cà phê, cao su, mía đường, công nghiệp thực phẩm, đặc biệt lựa chọn, trang bị
một số dây chuyền công nghệ hiện đại để chế biến tinh các loại sản phẩm cây công
nghiệp, lâm sản, các sản phẩm chăn nuôi...
2.1.5. Vùng miền Đông Nam Bộ và trọng điểm phía Nam
Phát huy thế mạnh đất đai để phát triển mạnh cây công nghiệp ( cao su, cà
phê, điều, mía đường...), cây ăn quả, cây nguyên liệu giấy. Củng cố các điểm dân
cư tập trung lớn về cà phê và cao su, tạo điều kiện thu hút thêm lao động từ đồng
bằng sông Cửu Long.Phát triển khai thác nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ nghề
cá.
2.1.6. Vùng đồng bằng sông Cửu Long
Phát huy lợi thế của vùng sản xuất lương thực, rau quả, chăn nuôi gia súc,
gia cầm, thuỷ, hải sản hàng hoá lớn nhất của cả nước, tăng nhanh diện tích gieo
trồng, năng suất và chất lượng sản phẩm đi đôi với phát triển công nghiệp chế biến
nông, lâm, thuỷ sản xuất khẩu và các dịch vụ... tập trung phát triển cây lúa, coi
trọng thâm canh, nghiên cứu, chuyển đổi mùa vụ một số loại cây trồng để phòng
tránh hạn hán, lũ lụt. Hình thành các vùng chuyên canh lúa và một số cây công
nghiệp ngắn ngày có năng suất, chất lượng cao. Tập trung khai thác vùng tứ giác
Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Tây sông Hậu và bán đảo cà mau... phát triển
mạnh ngành khai thác và nuôi trồng thuỷ sản có giá trị xuất khẩu cao, đặc biệt là
tôm, cua và các loại hải sản khác để có thể đóng góp 50% giá trị xuất khẩu thuỷ,
hải sản của cả nước... khai thác lợi thế về vị trí địa lý để phát triển nhanh các loại
hình du lịch miệt vườn, sinh thái, ...
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM.
Trước thực trạng dân số không ngừng tăng, diện tích đất canh tác dần bị thu

trong quy trình kỹ thuật không được thực hiện chặt chẽ, nên khả năng tăng năng
suất lúa còn rất lớn. Nếu thực hiện tốt các khâu trên có thể tăng năng suất lúa gấp
1,5-2 lần.
Như vậy, việc đầu tư lao động sống cho sản xuất nông nghiệp để tăng khối
lượng sản phẩm, tạo ra địa tô chênh lệch vẫn đang còn khả năng thực hiện ở một số
vùng. Việc cải tạo đồng ruộng, làm cỏ nhiều lần, bón phân đúng kỹ thuật… vẫn
cần tăng thêm lao động sống. Đó là biện pháp để tăng thêm việc làm, tăng thu nhập
và cải thiện đời sống của nông dân. Xu hướng này tuy ngược với quy luật phổ
biến của các nước trong quá trình đưa nông nghiệp đi lên sản xuất lớn theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng lại phù hợp với nền nông nghiệp, nông thôn
nước ta. Vì vậy, ở những vùng nông thôn còn có khả năng thâm canh tăng năng
suất lao động mà lao động dư thừa còn lớn, ngành nghề chậm phát triển, thì xu
hướng tăng chi phí lao động sống là hướng đi có hiệu quả cần được nghiên cứu và
vận dụng.
+ Mở rộng diện tích gieo trồng: là một trong những hướng quan trọng để tạo
thêm việc làm, tăng thêm thu nhập cho lao động nông nghiệp. Tuy nhiên mỗi vùng
có điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác theo thời kỳ nhất định, do vậy mỗi địa
phương trong các vùng nông thôn cần từng bước bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật
nuôi. Những cánh đồng, lô đất có khả năng tăng vụ cần bố trí lại theo mùa vụ thích
hợp.
Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ hướng tăng vụ chủ yếu là mở rộng diện
tích vụ đông với các cây trồng chính là màu lương thực (ngô đông, khoai lang
đông, khoai tây đông), rau đậu các loại, kể cả nông sản xuất khẩu.
Những vùng trung du, miền núi có thể mở rộng diện tích gieo trồng bằng
tăng vụ trên đất một vụ chủ yếu là vụ đông.
Vùng duyên hải miền Trung có điều kiện mở rộng diện tích gieo trồng bằng
tăng vụ lúa thứ ba. Vì vậy cần khuyến khích các hộ nông dân tiếp tục mở rộng diện
tích lúa vụ thứ ba để khai thác khả năng tiềm tàng của đất, khí hậu và tận dụng lao
động dôi dư ở nông thôn. Về lâu dài, mở rộng diện tích gieo trồng bằng cách tăng
vụ để có thêm việc làm, sản phẩm và tăng độ che phủ mặt đất, định canh, thâm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status