MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
1. Lục bát là một thể thơ truyền thống, một thể loại thi ca đặc thù của
văn học Việt Nam, mang trong nó hồn phách của dân tộc Việt Nam. Thậm chí
có người còn cho rằng: “Nếu Đường thi là báu vật của Trung Quốc thì Lục
Bát là báu vật của Việt Nam” (Hoàng Trung Hiếu) và nói như nhà nghiên cứu
phê bình Chu Văn Sơn: “Nếu chọn loài cây Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn phải là
cây tre. Nếu chọn loài hoa Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là hoa sen. Nếu chọn
trang phục Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là chiếc áo dài. Nếu chọn nhạc khí Việt
tiêu biểu nhất, đó hẳn là cây đàn bầu…Cũng như thế, nếu chọn trong nền thơ
ca phong phú của ta một thể thơ làm đại diện dự cuộc giao lưu thơ toàn cầu,
hẳn đó phải là Lục bát” (Sức sống mãnh liệt của lục bát). Thể thơ được đa số
người cho là “quốc thi” này mang trong nó bao quốc hồn, quốc túy. Đây là
thể loại có khả năng to lớn trong việc diễn tả những cung bậc, trạng thái cảm
xúc của con người. Nhịp của lục bát dường như khớp với nhịp của trái tim
con người đất Việt, khớp với nhịp suy tư, nhịp cảm xúc của con người đất
Việt. Ở đâu có buồn vui, ở đó có lục bát. Ở đâu có nam thanh, nữ tú, ở đó có
lục bát. Cho nên, tâm hồn Việt Nam đến với lục bát như một lẽ tự nhiên. Thơ
lục bát gần gũi với tâm hồn Việt cũng như vậy: lục bát ở bến nước, gốc đa;
lục bát ở ruộng cày, ở cuối thác, đầu ghềnh, đỉnh dốc; lục bát ở trên cành sen
hay trên nụ tầm xuân xanh biếc… Lục bát là máu chảy trong huyết quản để
nuôi sống tâm hồn người Việt bao thế hệ.
Do vậy, trong suốt quá trình phát triển của nền văn học dân tộc, thể thơ
này luôn được đề cao và đã có rất nhiều thành công, những kết tinh. Sự dung
dị, mềm mại và khả năng dung nạp được cùng lúc nhiều nội dung đa dạng của
đời sống và tâm tư đã khiến cho thể thơ này có sức sống trường tồn. Lục bát
1
quyện vào hồn người từ những điệu hát ru à ơi bên cánh võng đến những câu
ca dao ngọt lịm hương đồng trong những đêm sông nước đồng quê như:
“ Cô kia tát nước bên đàng
một vị trí mà nhiều người ao ước. Ông được coi là “vị cứu tinh của thơ lục
bát” ( Nguyễn Huy Thiệp), là người “xông thẳng vào trận địa lục bát và chỉ
một thời gian ngắn đã trở thành ông vua trẻ của thể loại này” (Phạm Tiến
Duật). Ông sáng tác thơ lục bát với số lượng lớn và có nhiều bài thơ xuất sắc,
được giới nghiên cứu phê bình đánh giá cao và nhiều người thuộc lòng. Thơ
lục bát của Đồng Đức Bốn có nét độc đáo riêng, khó lẫn về nội dung cảm xúc
và hình thức biểu đạt. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
có hệ thống và toàn diện về thơ lục bát của ông. Mặt khác, đánh giá về thơ lục
bát Đồng Đức Bốn vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất. Nghiên cứu về thơ
lục bát của Đồng Đức Bốn, do vậy, là một việc làm cần thiết - để người đọc
có được cái nhìn rõ hơn và toàn diện hơn về thơ lục bát của tác giả này.
3. Chọn đề tài “Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn” còn xuất phát từ
niềm yêu thích thơ lục bát nói chung và thơ lục bát của Đồng Đức Bốn nói
riêng của người viết. Mong muốn của chúng tôi là muốn tìm hiểu, lí giải, cắt
nghĩa cái hay cái đẹp của lục bát Đồng Đức Bốn; qua đó góp phần giới thiệu
một hồn thơ lục bát tiêu biểu của nền thơ ca đương đại với bạn đọc.
II. Lịch sử vấn đề
1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ lục bát
Được mệnh danh là “mẹ của thi ca”, từ lâu, thể thơ lục bát đã được các
nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm. Các tác giả Dương Quảng Hàm, Hoa
Bằng, Đặng Việt Thanh, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Lân, Nguyễn Hồng
Phong,… nghiên cứu đến vấn đề nguồn gốc và bài thơ lục bát cổ nhất. Các
3
tác giả Lê Bá Hán, Mã Giang Lân, Lục Nam, Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức,
Phan Diễm Phương, Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thúy, Trần Khánh Thành,… lại
quan tâm hơn đến khía cạnh vần, nhịp, tiết tấu, âm hưởng, kết cấu và giọng
điệu của thơ lục bát. Đi sâu vào góc độ ngôn ngữ, khả năng thể loại và bản
chất thể loại là các tác giả Nguyễn Tài Cẩn, Võ Bình (1985), Nguyễn Phan
Cảnh (1987), Mai Ngọc Chừ (1991), Hữu Đạt (1998), Nguyễn Thái Hòa
(1999), Hồ Hải (2008),…Vấn đề sự phát triển hoặc những phát hiện về mối
thơ lục bát đương đại – qua thơ Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công
Trứ” (Nguyễn Văn Đồng – năm 2008), “ Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn
Bính và Đồng Đức Bốn dưới góc nhìn so sánh” (Lại Thị Thu Thủy – năm
2011),…
Đặc biệt, để thể hiện sự trân trọng với những đóng góp của Đồng Đức
Bốn cho văn học đương đại, ngày 15/5/2011, Hội Nhà văn Việt Nam, Liên
hiệp văn học nghệ thuật Hải Phòng, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng
đã tổ chức cuộc hội thảo khá lớn về thơ Đồng Đức Bốn và thơ Mai Văn Phấn
với sự tham gia của khoảng 400 nhà thơ, nhà văn, nhà lí luận phê bình văn
học. Có tới mấy trăm bài tham luận từ Trung ương đến các địa phương , từ
nhà thơ lớn của Hội nhà văn đến các đơn vị ngoài văn chương, của các bạn
thơ, khách thơ,… Tất cả những bài tham luận đều dành những lời đánh giá,
ghi nhận, biểu dương những sáng tạo, những đóng góp của cả hai tác giả cho
nền thơ Việt Nam đương đại.
Như vậy, thơ lục bát Đồng Đức Bốn thực sự nhận được khá nhiều sự
quan tâm của độc giả. Với người nghệ sĩ, còn điều gì vui hơn điều đó?
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ lục bát Đồng Đức Bốn
5
Các công trình nghiên cứu về thơ Đồng Đức Bốn nói chung đều có ít
nhiều nói đến thơ lục bát của ông. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ nhắc đến thơ
lục bát như một đóng góp nổi bật chứ chưa thực sự đi nghiên cứu sâu và hệ
thống.
Xét riêng về thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, cũng có khá nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu và triển khai đề tài này thành những chuyên luận.
Mở đầu là bài viết: “Đồng Đức Bốn – vị cứu tinh của thơ lục bát”
của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Trong bài viết này, Nguyễn Huy Thiệp đã
chỉ ra “một cái gì khác người, hiếm và lạ”[1- I,238] trong thơ lục bát của
Đồng Đức Bốn và khiến Đồng Đức Bốn trở thành “ một hiện tượng thơ đặc
biệt – có lẽ anh là người làm thơ lục bát hay nhất trong khoảng 50 năm trở
lại đây ở nước ta, kể từ khi Nguyễn Bính – một nhà thơ chân quê đồng thời
Đồng Đức Bốn là ở chỗ : “Những câu chữ nhiều khi tưởng như vu vơ ấy được
nối lại trong một cảm xúc đột hứng, táo bạo, đem đến những hiệu quả thật
bất ngờ” [1- I, 657]. Sau khi phiêu du vào lục bát Đồng Đức Bốn, hút lấy cái
hồn cốt thơ ông, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp đã cho người đọc có cái
nhìn sâu sắc hơn về Đồng Đức Bốn và thơ lục bát của ông, thể hiện rõ nhất ở
giọng điệu.
Đỗ Minh Tuấn – nhà thơ, nhà phê bình văn học đã đánh giá rất cao thơ
lục bát của Đồng Đức Bốn trong bài viết : “ Đồng Đức Bốn – kẻ mượn bút
của trời”. Ông cho rằng : “Sự xuất hiện của Đồng Đức Bốn đã đem lại cho thơ
lục bát truyền thống một niềm tự tin đáng kể… Những câu lục bát của Đồng
Đức Bốn điêu luyện vừa hồn nhiên, vừa bình dị tuôn chảy ra như những trải
nghiệm của kẻ du ca, vừa gần gũi, tài hoa như con đồng buột miêng nói thay
lời kẻ khác”. Trong bài “ Trời đưa anh đến cõi thơ”, tác giả đã một lần nữa
7
khẳng định : “ Lục bát với Bốn là một cái gì cao hơn mọi công cụ, một người
bạn, một chiến binh. Bốn coi lục bát là thứ lộc trời cao sang, là ngai vàng một
cõi, là bản thể văn hóa, là lưỡi gươm chinh phạt, là máu thịt gia đình và công
đức mẹ cha”. Từ lời nhận định trên đây, có thể thấy rằng, nói đến thơ Đồng
Đức Bốn là phải nói đến thơ lục bát của ông bởi hồn thơ Đồng Đức Bốn chính
là hồn thơ lục bát đã hóa thân thành vần, thành điệu. Những nhận xét của tác
giả Đỗ Minh Tuấn cho chúng ta hình dung rõ hơn về đặc điểm thơ lục bát
Đồng Đức Bốn và về giá trị của chúng trong văn học đương đại.
Tác giả Nguyễn Thị Anh Thư trong bài viết “Đọc thơ lục bát của
Đồng Đức Bốn” đã nhận xét : “Từng cặp câu thơ lục bát của Đồng Đức Bốn
rất chắc khỏe, đa phần từ ngữ được chắt lọc một cách tinh tế với một kiểu
logic suy tư (cách liên tưởng) lạ thường đem lại cho người đọc sự bất ngờ,
ngỡ ngàng về ý tứ, về ngôn từ, hình ảnh” [1-I,674]. Thêm vào hành trang cho
chuyến du hành vào cõi thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, tác giả Nguyễn Thị
Anh Thư viết : “Đọc thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, ta như thấy mình đang
vén lên một bức rèm bí ẩn, mở ra một miền ca dao hoàn toàn mới kì thú, vừa
rung chuyển cả nền thơ Việt vốn đang rất náo nhiệt ấy hẳn phải là người có
năng lực đặc biệt nào chăng?
Ở một chỗ khác, nhà văn Tạ Quang Lập cũng viết : “ Với việc tạo ra
dòng thơ lục bát cho riêng mình, Đồng Đức Bốn đã đóng đinh tên tuổi mình
vào lịch sử thơ Việt”.
Ngoài ra, thơ lục bát Đồng Đức Bốn còn trở thành đối tượng trong một
số bài viết khác như: “Lục bát tình của Đồng Đức Bốn” (Vĩnh Quang Lê ),
9
“Bốn, sáu, tám” (Nguyễn Việt Hà ), “Đồng Đức Bốn , đa đoan lục bát gọi
nhau” (Bùi Kim Anh)…
Trên các website của Hội nhà văn, của các cá nhân, một số nhà văn,
nhà thơ như Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Huy Thiệp, Văn Chinh,
Nguyễn Hòa, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đình Minh, … đã viết về lục bát
của Đồng Đức Bốn bằng giọng điệu trân trọng và cảm mến đặc biệt. Sự quan
tâm của của giới nghiên cứu đối với thơ lục bát Đồng Đức Bốn đã chứng tỏ
sức hấp dẫn đặc biệt của thơ ông và gián tiếp khẳng định vị trí khó thay thế
của gương mặt thơ lục bát Đồng Đức Bốn trong dòng chảy bộn bề của vườn
thơ lục bát hiện đại nói riêng, của văn chương đương đại nói chung.
Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn không chỉ được nghiên cứu trên mặt
tổng thể - tức là trên mặt bằng rộng với hàng trăm bài lục bát của ông mà còn
được nghiên cứu trên phạm vi từng bài lục bát. Được các học giả nghiên cứu
cũng như nhắc đến nhiều nhất là bài “Chăn trâu đốt lửa” ,“ Trở về với mẹ ta
thôi” và bài “Vào chùa”. Đây được coi là ba bài thơ lục bát hay nhất của
Đồng Đức Bốn.
- Bài “Chăn trâu đốt lửa” của Đồng Đức Bốn được xếp vào danh sách
100 bài thơ hay thế kỉ XX [58]. Đánh giá về tác phẩm này, dường như các
nhà nghiên cứu đều thống nhất: đây là bài thơ hay, tiêu biểu cho hồn thơ
Đồng Đức Bốn. Tác giả Nguyễn Trọng Tạo (trong “Đồng Đức Bốn bắc cầu
lục bát”) viết : “Bài thơ lục bát này gieo được ấn tượng khó quên cho người
đọc chính là nhờ cái tâm trạng bất an được mất…”. Tác giả Nguyễn Lâm
Đồng Đức Bốn là thứ lộc trời cho. Nhưng anh dùng lộc đó để trả nghĩa cho
đời chứ không phải mưu cầu danh lợi. Anh dùng “đôi hài” lục bát để phiêu
11
lưu vào cõi lòng người bí ẩn để hiểu mình và hiểu người, tìm lại “bản lai diện
mục của chính mình” [15].
Trong luận văn Thạc sĩ “ Chất đồng quê trong thơ lục bát Việt Nam
hiện đại – qua thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn” (năm 2008), tác
giả Phạm Mai Phong đã khẳng định : “Có thể nói, đến Đồng Đức bốn, thơ lục
bát một lần nữa khẳng định được vị trí và sức sống lâu bền của mình” [37,3].
Ở một chỗ khác, tác giả nhận ra : “ Lục bát Đồng Đức Bốn ngoài sự bình dị,
mượt mà còn gợi ra sự gai góc, sắc nhọn của những chìm nổi đời người”
[37,21]. Về ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn, tác giả viết : “Trước hết,
ngôn ngữ lục bát (của họ) là ngôn ngữ rất gần gũi lời ăn tiếng nói hàng ngày
của người dân quê. Tiếp đến, đó là thứ ngôn ngữ được gọt giũa và sử dụng
nhiều trong ca dao… Những bài thơ lục bát mà họ sáng tác như những lời
nói bộc phát từ sự ngẫu hứng trong cuộc sống hàng ngày” [37,12].
Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn tiếp tục được nghiên cứu trong luận văn
“ Văn hóa làng quê trong thơ lục bát đương đại” (qua thơ Nguyễn Duy,
Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ) (năm 2008) của tác giả Nguyễn Văn Đồng.
Trong luận văn này, sau khi khẳng định: “Tiếng thơ của Đồng Đức Bốn (và
của Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ) đã đưa tâm hồn ta trở về với những giá trị
văn hoá đã toả bóng hàng ngàn năm trong tâm hồn dân tộc”, Nguyễn Văn
Đồng đã nhận ra: “những quy định “bất di bất dịch” của thơ lục bát truyền
thống nhưng cũng có nhiều cách tân, đổi mới sáng tạo để bắt kịp sự đổi thay
của thơ ca đương đại” đồng thời mỗi nhà thơ là một “giọng điệu riêng, một
giai tấu ngôn ngữ riêng – vừa dân gian vừa hiện đại. Tuy nhiên, riêng về thơ
lục bát Đồng Đức Bốn, người nghiên cứu vẫn chưa làm nổi bật được những
cái riêng cũng như vị trí của tác giả này trong dòng chảy của thơ lục bát
đương đại.
12
thể thơ truyền thống trong hành trình thơ đương đại.
Qua việc nghiên cứu thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, người viết đi đến
việc khẳng định sức sống mạnh mẽ của thể loại lục bát trong văn học đương
đại.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Đồng Đức Bốn đã xuất bản sáu tập thơ, gồm có:
- Con ngựa trắng và rừng quả đắng (NXB Văn học, H, 1992 )
- Chăn trâu đốt lửa (NXB Lao động, H, 1993)
- Trở về với mẹ ta thôi (NXB Hội nhà văn, H, 2000)
- Cuối cùng vẫn còn dòng sông (NXB Hội nhà văn, H, 2000)
- Chuông chùa kêu trong mưa (NXB Hội nhà văn, H, 2002)
- Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (NXB Hội nhà văn, H, 2006)
Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận văn này là 144 bài thơ lục bát
trong tuyển tập thơ “Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc” của Đồng Đức Bốn.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, để có cái nhìn toàn diện, ngoài
những bài thơ lục bát của tác giả in trong tuyển “Chim mỏ vàng và hoa cỏ
độc”, người viết còn tiến hành đối chiếu, so sánh thơ lục bát của Đồng Đức
Bốn với ca dao và thơ lục bát của một số tác giả như Nguyễn Bính, Huy Cận,
Tố Hữu, Nguyễn Duy, Bùi Giáng,…
IV. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai luận văn, người viết kết hợp sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu thể loại văn học
- Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học
14
- Phương pháp thống kê văn học
- Phương pháp so sánh văn học
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học
V. Đóng góp của luận văn
Du thế kỉ XVIII.
Các nhà nghiên cứu đã khái quát những đặc điểm chính của thể thơ lục
bát người Việt như sau:
Thứ nhất, thơ lục bát là một thể thơ cách luật mà các thể thức được tập
trung trong một khổ gồm hai dòng với số tiếng cố định: dòng sáu tiếng (câu
lục) và dòng tám tiếng (câu bát). Ranh giới chia tách hai dòng là điểm nghỉ
hơi dài sau vần chân ở dòng lục và là điểm chấm dứt một quy tắc thanh điệu.
Thứ hai, về các thể thức chủ yếu của thơ lục bát:
- Gieo vần : thơ lục bát vừa gieo vần chân (được gieo vào cuối dòng thơ, gọi
là cước vận), vừa gieo vần lưng (được gieo ở giữa dòng thơ, gọi là yêu vận).
Tiếng cuối câu lục gieo vần xuống tiếng thứ sáu câu bát, tiếng cuối câu bát
gieo vần xuống tiếng cuối câu lục tiếp theo.
VD: Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?
Xin ai tính cuộc vuông tròn
16
Dò sao cho đến ngọn nguồn khúc sông
Ngoài ra còn có vần ở tiếng thứ 4 và là vần T.
- Phối điệu (luật bằng trắc): hình mẫu của các tác phẩm lục bát cổ điển được
phối điệu như sau:
Câu lục : o B o T o B
Câu bát: o B o T o B o B
(B : thanh bằng gồm các thanh ngang, huyền; T: thanh trắc gồm các thanh
sắc, hỏi, ngã, nặng; o : tự do)
Trong câu lục, các tiếng chẵn (2) và (6) là thanh B, đối nhau qua thanh T (4)
Trong câu bát, giữa thanh B của tiếng thứ (6) và tiếng thứ (8) phải đối nhau về
âm vực trầm bổng: hoặc là huyền – ngang, hoặc ngang – huyền. Đối lập trầm –
bổng là một nguyên tắc rất đặc trưng của thi luật dân tộc, thể hiện trước hết ở lục
bát.
- Về ngắt nhịp: thể lục bát có một loại nhịp cơ bản, trực tiếp tạo nên âm
và thanh điệu) mà đỉnh cao là Truyện Kiều – Nguyễn Du (nửa cuối thế kỉ
XVII – thế kỉ XIX) đến những bài thơ lục bát đầu thế kỉ đậm chất trữ tình vừa
thể hiện được tình cảm với đất nước, xã hội vừa đi sâu vào tâm hồn con người
(nửa sau thế kỉ XIX – những năm 30 thế kỉ XX).
Trong giai đoạn này, Truyện Kiều của Nguyễn Du được coi là “mô
hình lục bát chuẩn mực”, trở thành đỉnh cao của lục bát cổ điển. Truyện Kiều
đã tôn vinh thể thơ lục bát, tôn vinh một thể thơ mang đậm bản sắc Việt. Với
3254 câu thơ lục bát, Truyện Kiều trở thành một trường thiên lục bát về tâm
trạng và số phận con người có một không hai trong lịch sử thi ca tiếng Việt.
Lạc vào đó “người ta có cảm tưởng Nguyễn Du đã sáng tạo ra một thứ ngôn
ngữ văn học cho cả thời đại” [17, 201]
18
Giai đoạn sau : Lục bát trong văn học hiện đại (từ những năm 30 của thế
kỉ XX - nay)
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu về thơ lục
bát trong văn học hiện đại.
2.1. Thơ lục bát trong phong trào Thơ mới (1932 - 1945)
Phong trào Thơ mới được coi là một cuộc đánh giá lại các thể thơ cũ,
tiếp thu những cái tốt đẹp của truyền thống cũ đồng thời học tập một cách
sáng tạo thơ ca nước ngoài. Nhưng, dù làn sóng lãng mạn, tượng trưng, siêu
thực có mạnh mẽ đến mức nào, nhu cầu đổi mới văn học, đổi mới thi pháp có
những đột phá bao nhiêu thì những dòng lục bát truyền thống vẫn không bị
lãng quên.
Người đầu tiên đưa thể lục bát vào Thơ mới phải kể đến Tản Đà với bài
“Phong dao” thật đặc sắc. Ở bài thơ này, Tản Đà đã giúp lục bát “thử lời, thử
nhạc” với cảm hứng lãng mạn:
Con cò lặn lội bờ sông
Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha
Em về giục mẹ cùng cha
Chợ trưa, dưa héo nghĩ mà buồn tênh…
một số nhà thơ:
Hôm nay lá thấy tôi buồn
Lìa cành theo gió lá luồn qua song
Hai tay ôm lá vào lòng
Than ôi chiếc lá cuối cùng là đây!
(Nguyễn Bính – Cây bàng cuối thu)
Dễ nhận thấy rằng trong những câu thơ lục bát vừa trích, số lượng
thanh B – T có sự chênh lệch khá lớn: 20 thanh B và 8 thanh T (trên tổng 28
tiếng). Sự xuất hiện nhiều thanh B ở đây gợi lên rõ hơn cảm giác buồn mênh
mông lan tỏa, xa vắng của thi nhân. Ở đây cũng cần phải nói thêm về cách
20
gieo vần của tác giả: ong (lòng) – ung (cùng). Rõ ràng, sự gieo vần của nhà
thơ đã không còn chặt chẽ như trước.
Đặc biệt, ta cũng gặp trường hợp “phạm luật” về thanh điệu B - T :
tiếng thứ 2 , tiếng thứ 4 dòng lục từ B chuyển thành T:
…Cách mấy mươi con sông sâu
…Úp mặt vào hai bàn tay
Thứ hai, đa phần thơ lục bát hiện đại vẫn ngắt nhịp chẵn, nhưng sử
dụng nhiều nhịp 2/4, 4/2 ở câu lục và nhịp 4/4, 2/6 ở câu bát:
Khi cao, vút tận mây mờ
Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh…
(Thế Lữ - Tiếng sáo Thiên Thai)
Tương tư hướng lạc, phương mờ…
Trở nghiêng gối mộng, hững hờ nằm nghe…
(Buồn đêm mưa – Huy Cận)
Một số trường hợp, ta bắt gặp những nhịp lẻ:
Chuyến này chị bước sang ngang
Là tan vỡ / giấc mộng vàng từ nay
(Lỡ bước sang ngang – Nguyễn Bính)
Việc ngắt nhịp lẻ (3/5) khiến lời thơ như đứt đoạn, cảm giác như những tiếng
hồn con người được sống dậy trong từng câu, từng dòng. Thơ lục bát giai
đoạn này không có những bài thơ trường thiên mà phổ biến là những bài trữ
tình quy mô nhỏ. Nhưng trong quy mô có giới hạn của thể thơ, những cảm
xúc của cái tôi cá thể cá tính lần đầu tiên xuất hiện được chuyển tải một cách
chân thành nhất, say sưa nhất đến tận cùng câu chữ. Trong dàn đồng ca nhiều
hương sắc Thơ mới, người ta vẫn nhận ra tiếng thở dài cô đơn, ngậm ngùi
đọng trong những vần lục bát nhuốm màu sắc tượng trưng, siêu thực của “
chiếc linh hồn nhỏ” Huy Cận, vẫn nhận ra giọng điệu “hào hùng, tràn đầy
chính khí, tráng khí, bi phẫn, bi hùng” của Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, đặc
biệt là vẫn nhận ra “điệu hồn chân quê của một cái tôi lãng mạn, điệu than
của một cái tôi lỡ làng, điệu thúc giục lên đường Nguyễn Bính” – nhà thơ lục
bát tiêu biểu nhất của giai đoạn này [2],…
Nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn đã mệnh danh Nguyễn Bính là “con đẻ
của câu lục bát nổi chìm nơi đồng quê” [47,171] và “ Hồn vía Nguyễn Bính kí
thác nhiều nhất vào lục bát” [47,172]. Về mặt chất lượng, độc giả và giới
nghiên cứu đánh giá cao những bài thơ lục bát như: Không đề, Lỡ bước sang
22
ngang, Tương tư, Chân quê, Xa cách, Mưa xuân, Qua nhà, Cô hái mơ, Người
hàng xóm,… Nhà nghiên cứu Lê Đình Kị cho rằng : “So với các nhà thơ lãng
mạn trước cách mạng, Nguyễn Bính đứng riêng một cõi. Nếu có lẫn lộn thì
chỉ lẫn lộn với các tác giả vô danh từ bao đời đã chung sức làm nên một kho
tàng vô giá của ca dao dân tộc”. “ Điệu hồn chân quê” (Bùi Thị Báu) là dấu
ấn đậm nét Nguyễn Bính in vào thơ lục bát.
Về mặt hình thức nghệ thuật, thơ lục bát Nguyễn Bính quyện trong bầu
không khí của ca dao nhưng không vì thế mà nó không có những bứt phá.
Trước hết phải nói đến sự cách tân về kết cấu:
Lạy giời đừng sáng đêm nay
Đò quên cập bến, tôi say suốt đời
Chiêu Quân lên ngựa mất rồi…
(Một con sông lạnh)
là 40 bài, chiếm 11% [41].
Khác với giai đoạn trước, nhìn chung, thơ lục bát trong thời kì này rất
gần với vè kể chuyện, chất thơ lắng lại đằng sau những hình ảnh giản dị, mộc
mạc của con người và tình cảm với đất nước, với cách mạng. Thơ lục bát giai
đoạn này đã ôm chứa những tình cảm lớn lao của thời đại như tình cảm quân
dân, lãnh tụ, tình đồng chí đồng đội,…tạc lên tư thế và tầm vóc lớn lao của
nhân dân và đất nước. Chẳng hạn như bài “Những người lính biên giới” (Văn
Lê), “Nằm hầm” (Nguyễn Đức Mậu), “ Kể chuyện Vũ Lăng” (Anh Thơ),
“Tình Tháp Mười” (Bảo Định Giang)…
Tình thương đất nước mênh mang
Hồn vui như nắng trải vàng ruộng xanh
24