LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN NHỮNG Ý KIẾN CỦA PHẠM TIẾN DUẬT VỀ VĂN CHƯƠNG VÀ NGHỆ THUẬT THƠ CA - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HOÀNG LAN HƯƠNG

HÀ NỘI NHƯ NHỮNG DIỄN NGÔN
(KHẢO SÁT TRONG VĂN HỌC MIỀN BẮC
VIỆT NAM 1945- 1975)
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: GS. Trần Đình Sử

HÀ NỘI- 2015
1


Lêi c¶m ¬n
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc đến GS Trần Đình Sử đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa ngữ văn, trường Đại học Sư
phạm Hà Nội đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã khích lệ,
động viên giúp đỡ tôi vững bước trên con đường khoa học.
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả

Hoàng Lan Hương


muôn hơn và ít nhiều chịu ảnh hưởng từ phương Tây. Tuy kém về bề dày lịch
sử nhưng những thành phố châu Á vẫn tạo dựng một dòng mạch riêng. Châu Á
có những dòng văn học nghệ thuật về Bắc Kinh như là thành phố của giấc mơ
Xã hội chủ nghĩa, Hồng Kông như là một thành phố quốc tế… Hà Nội, với vị
trí của một thủ đô 1000 năm tuổi, cũng có một dòng mạch riêng viết về nó,
khởi đầu từ năm 1010, liên tục phát triển, tổng hợp, rẽ nhánh cho đến tận ngày
4


hôm nay. Khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi muốn nghiên cứu các tác phẩm văn
chương về Hà Nội như là một phần của dòng văn học thành phố.
Khi tiếp cận dòng văn chương viết về Hà Nội, chúng tôi nhận thấy một
hình ảnh Hà Nội không cố định và không thuần nhất ngay tại một thời điểm.
Vì thế có thể thấy rằng hình ảnh Hà Nội trong văn học nghệ thuật không thể
hiểu đơn giản là sự phản ánh đời sống vào tác phẩm. Các tác phẩm văn học
nghệ thuật về Hà Nội cần được nhìn nhận ở bản chất diễn ngôn- tức là mỗi
hình ảnh Hà Nội được kiến tạo nên đều nhằm một mục đích nào đó, chịu sự
chi phối của một tư tưởng hệ, một mĩ cảm nào đó, thậm chí đi theo một số
công thức biểu đạt nhất định… Hà Nội trong văn học nghệ thuật là một kiến
tạo ngôn ngữ với nhiều ảo tưởng, nhiều tham vọng chứ không phải là một
thực thể trong suốt có thể quy chiếu về thành phố thực tại như ta vẫn tưởng.
Ba mươi năm 1945- 1975 là giai đoạn đầy biến động trong lịch sử dân
tộc. Bão táp chiến tranh đã cuốn vào trong nó cuộc đời của những cá nhân,
lịch sử của những gia đình và cả lịch sử của những thành phố như Hà Nội. Ba
mươi năm khốc liệt ấy không chỉ để lại dấu ấn trên cảnh quan của thành phố
với sự hiện diện của những lỗ châu mai, của những hầm trú ẩn, những mảng
tường lở loét vì bom đạn chiến tranh, những tượng đài quyết tử… mà còn để
lại dấu ấn trong văn học nghệ thuật và vẫn còn hằn sâu trong kí ức của những
người Hà Nội hôm qua và hôm nay. Thời đại này đã sản sinh ra những cảm
thức hêt sức mới mẻ, trước đây chưa từng có về chốn kinh kì văn hiến, nơi đô

đã bước đầu xác lập Hà Nội với tư cách một văn bản liên tục được viết lại
theo thời gian. Các diễn ngôn song song tồn tại với nhau, thay thế nhau, giao
thoa nhau trong từng thời kì tạo nên diện mạo Hà Nội trong văn học nghệ
thuật. Trong dòng mạch đó chúng tôi định vị và nhận diện diễn ngôn về Hà
Nội trong sáng tác của hai nhà văn. Tuy nhiên đây chỉ là những bước đi ban
đầu, chúng tôi cảm thấy cần phải có sự nghiên cứu sâu sắc hơn đối với diễn
ngôn về Hà Nội trong từng giai đoạn, đặc biệt là một giai đoạn có nhiều
nhánh diễn ngôn đa dạng, phong phú như giai đoạn 1945- 1975.

6


Lịch sử nghiên cứu diễn ngôn về Hà Nội trong văn học giai đoạn 1945-

2.2.

1975
Giai đoạn 1945- 1975 là một giai đoạn quan trọng trong tiến trình văn
học Việt Nam thế kỉ XX, vì thế nó nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà
nghiên cứu văn học, nghệ thuật. Tuy nhiên, do những đặc trưng về hoàn cảnh
lịch sử xã hội, chủ trương văn hóa văn nghệ đại chúng, thi pháp thời đại mà
các nhà nghiên cứu chưa chú trọng đến nghiên cứu diễn ngôn về các vùng
miền trong văn học, nhất là diễn ngôn về thành phố.
3.

Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các diễn ngôn về Hà Nội trong
văn học miền Bắc Việt Nam 1945- 1975

4.

giai đoạn 1945- 1975 trên cơ sở kết hợp các diễn ngôn lịch sử, văn hóa, các

7


diễn ngôn văn học, mỹ thuật, âm nhạc , điện ảnh, các nghiên cứu trên lĩnh vực
kiến trúc, quy hoạch đô thị.
-

Phương pháp thống kê, phân loại

-

Phương pháp tổng hợp

-

Phương pháp so sánh, đối chiếu

-

Phương pháp phân tích văn bản và liên văn bản

7.

Cấu trúc luận văn
Phần nội dung chính của luận văn gồm có ba chương:
Chương I: Diễn ngôn về Hà Nội giai đoạn 1945- 1975- những vấn đề chung
Chương II: Thủ đô/ đô thị- hai diễn ngôn độc lập, tương tranh
Chương III: Thủ đô và đô thị- khi các diễn ngôn tìm được con đường

lại định nghĩa về thành phố dường như đã trở thành một việc không cần thiết.
Tuy nhiên chúng tôi sẽ bắt đầu từ chính điểm dường như không cần thiết này
để khám phá diện mạo và bản chất của thành phố cũng như sự xuất hiện của
9


thành phố trong văn học với tư cách diễn ngôn thay vì chỉ là bối cảnh, phông
nền cho những truyện kể.
1.1.

Thế nào là một thành phố?
Sở dĩ chúng ta có thể dễ dàng đưa ra một định nghĩa về thành phố bởi
nó không phải là một ý niệm trừu tượng, một sản phẩm thuần túy của suy
tưởng. Thành phố là một thực thể vật chất đang hiện hữu ngay bên cạnh
chúng ta, thậm chí nó chính là không gian bao bọc sự tồn tại của chúng ta, là
cuộc sống thường ngày, gắn bó trong những thói quen, trong từng bước đi,
từng hơi thở. Trong từng tháng ngày đang sống, ta vừa cảm nhận về thành phố
mơ hồ trong cảm giác vừa sống động trong sự tiếp xúc của tất cả các giác
quan. Thành phố không phải là những hình dung xa xôi hay là một miền
tưởng tượng, thành phố ở rất gần và rất thực, là những hình ảnh mắt ta trông
thấy, những âm thanh tai ta nghe thấy, những cảm giác chật chội, nóng bức
hay rộng dài, thênh thang, bay bổng hàng ngày đọng lại thành những ấn
tượng, lưu lại trong trí nhớ. Thành phố thực và gần gũi như khung cửa sổ, mái
hiên, hàng cây trước ngõ, những con đường, những nếp nhà những mái phố,
những ngã ba… Nhưng cũng chính sự gắn bó giản dị và thân thuộc như hơi
thở thậm chí như máu thịt ấy đã khiến cho cách mà chúng ta nghĩ và định
nghĩa về thành phố có phần đơn giản.
Trong cách hiểu phổ biến nhất, thành phố thường được định nghĩa là
một khu vực tập trung dân cư, được xác định bởi một diện tích giới hạn, quy
mô dân số nhất định, các hoạt động kinh tế, chính trị văn hóa xã hội đặc trưng

chốn thị thành, ta liên tục bị đẩy vào tình huống lựa chọn, chỉ cần một chút lơ
đãng là ngay lập tức con người bị rơi vào những miền không gian xa lạ, loay
hoay xác định phương hướng để tìm về cảm giác quen. Những ngôi nhà ở
nông thôn thường nổi bật ở sự mộc mạc và giản dị, các công trình kiến trúc
thường không quá cao, về cơ bản là phù hợp với công năng sử dụng cũng như
11


hài hòa với không gian xung quanh. Trong khi đó thị thành trưng ra một diện
mạo lộng lẫy xa hoa với những công trình kiến trúc bề thế, kiểu cách và hết
sức cầu kì. Đó là những khối nhà cao tầng với cửa kính, đèn gương sáng
loáng, những tòa nhà chọc trời cao ngất, thậm chí vượt khỏi tầm mắt ngước
lên. Diện mạo thành phố chia thành những mảng đầy màu sắc và kiểu dáng:
những mảng kiến trúc phương Đông xen giữa mảng kiến trúc phương Tây,
những công trình hiện diện như biểu tượng của sự giao thoa văn hóa bên cạnh
những công trình mang dấu ấn truyền thống hay sừng sững những biểu tượng
của nền văn mình toàn cầu… Những mảng khối ấy đặt bên cạnh nhau, tương
tác với nhau đem đến cho thành phố một chân dung liên tục biến ảo như nhìn
qua chiếc kính vạn hoa. Và nếu như nông thôn đem đến cho người ta ấn tượng
về màu xanh của bầu trời, vẻ tươi non của cây cối, sự trong trẻo trong màu
vàng của nắng mai, sự mộc mạc trong màu nâu của đất…- những màu sắc
giản dị và thuần phác thì thành phố lại để lại một ấn tượng khác hẳn. Thành
phố là một bảng màu mà chúng ta sẽ thất bại nếu như cố gắng xác định số
lượng màu sắc. Nó là một hòa sắc, ở đó các màu sắc đan xen trộn lẫn vào
nhau làm nên vẻ rực rỡ ban ngày và lại càng thêm lung linh diễm ảo khi phố
sá lên đèn. Đời sống yên bình ở làng quê ngàn đời gắn với hoạt động sản xuất
nông nghiệp còn thành phố đặc trưng ở các hoạt động sản xuất công nghiệp
và thương mại. Những thành phố đầu tiên ra đời trên thế giới gắn với sự phát
triển của thương mại, buôn bán trao đổi hang hóa giữa các thành bang cổ đại.
Những thành phố lớn nhất thời trung đại đều là những thành phố cảng như

của mình mà ôm mộng trở thành những thành phố quốc tế, biểu tượng của
toàn thế giới…
Sự nhận diện một thành phố có thể dựa trên những tiêu chí tổng thể, vĩ
mô, đôi khi có thể chỉ bắt đầu từ cảm nhận hết sức quen thuộc giữa đời
thường. Thành phố- đó là nơi ta hàng ngày lội giữa biển người và mắc kẹt
13


giữa dòng xe cộ vào giờ cao điểm, nơi cảm giác ngột ngạt khó thở lơ lửng
giữa khói bụi của phương tiện và hơi nóng hầm hập tỏa ra từ mặt đường và
những tòa nhà xây dựng bằng bê tông cao ngất… Thành phố- đó là nơi tầm
mắt liên tục bị giới hạn bởi các công trình, đôi mắt trong veo tìm kiếm mãi
mà vẫn không sao chạm được đến chân trời, nơi đôi tai luôn bị đặt giữa một
dòng âm thanh hỗn loạn của tiếng nhạc ầm ĩ vọng ra từ các cửa hàng, tiếng
còi xe nhốn nháo, tiếng người nói léo xéo, tiếng máy móc ầm ì…và tuyệt
vọng trong nỗ lực thanh lọc lấy những thanh âm trong trẻo và thuần khiết nhất
của đời sống như tiếng chim hót, tiếng gió vi vút, âm thanh rì rào của những
hang cây… Đôi khi ánh mắt tìm thấy bầu trời cao rộng nhất là bầu trời in hình
rõ rệt trên những mảng kính lớn của các tòa nhà chọc trời và đôi khi âm thanh
trong trẻo nhất lại là tiếng hót của một chú chim cảnh bị nhốt trong lồng trên
ban công của một ngôi nhà trong ngõ sâu hun hút- thứ âm thanh khắc khoải
hướng về tự do…
Đó là thành phố vật chất đang hiện hữu sống động trong từng cảm giác,
từng giây phút của chúng ta giữa đời thường. Đó là phần diện mạo bên ngoài
mà bất cứ ai cũng có thể dễ dàng nhận ra, phác thảo và gọi tên. Tuy nhiên
thành phố là một thực thể phức tạp hơn thế. Nó đã bắt đầu lịch sử của mình từ
cách đây hàng nghìn năm, trải qua nhiều biến cố phức tạp, nhiều lần đổi thay
diện mạo, bao phen bị hủy hoại sau đó lại hồi sinh. Vì thế mà không thể chỉ
định nghĩa thành phố trên phương diện vật chất, không thể chỉ đo đếm kích
thước dài rộng của nó bằng hình ảnh ở thời hiện tại, càng không thể thăm dò

ngạc nhiên khi chúng ta nhớ ra nó hàm chứa bên trong bao nhiêu kinh nghiệm
của cộng đồng”. Ông khẳng định “Trên cơ sở sự định cư thực tế, cái mà lịch
sử sẽ làm biến dạng đi một cách đáng ngạc nhiên, những cảm thức quyền lực
tập hợp lại và trở nên phổ biến. Trong từ nông thôn tập trung ý niệm về
phương diện tự nhiên của đời sống: về sự thanh bình, hồn nhiên, trong trẻo và
15


thuần khiết. Trong từ thành phố dồn nén ý tưởng về trung tâm của nhưng
thành tựu: về học tập, giao tiếp và ánh sang. Những liên tưởng đối nghịch
mang tính quyền lực cũng liên tục phát triển: thành phố được xem như là
không gian của sự ồn ào náo nhiệt, và tham vọng trong khi nông thôn là nơi
lạc hậu, không gian của sự giới hạn và là miền đất bị lãng quên.”
Từ những đặc điểm mang tính vật chất, những ý niệm về nông thôn và
thành thị vẫn không ngừng sản sinh và từ bao giờ con người đã quen nhìn
nhận chúng như là những đặc tính tự nhiên. Thành thị- nông thôn là sự đối lập
ánh sáng và bóng tối. Không gian thị thành luôn tràn ngập ánh sáng, buổi tối
nơi phố phường thậm chí còn lung linh hơn bởi những biển hiệu và hệ thống
đèn chiếu sáng. Trong khi đó, ở nông thôn, khi ánh hoàng hôn vừa tắt cũng là
lúc những xóm làng lập tức chìm vào bóng tối sâu thẳm. Thành phố là hiện
thân của ánh sáng văn minh, của tri thức, của những thành tựu mới mẻ và hiện
đại. Ở thành phố, cuộc sống thay đổi từng ngày, thậm chí từng giờ, những
thành tựu liên tục được cập nhật, tiện nghi liên tục được thay thế với những
đặc điểm và tính năng vượt trội hơn. Trong khi đó, nông thôn mang một diện
mạo cố định, gần như không đổi thay. Những nếp nhà thấp, lũy tre làng, con
đường làng, cánh đồng quê thẳng cánh cò bay… đem đến cảm giác quen
thuộc, bình yên như cả nghìn năm rồi vẫn thế. Những câu ca dao xưa vẫn còn
đúng với cảm nhận về làng quê bây giờ dù diện mạo làng quê, nếp sống nếp
sinh hoạt cũng ít nhiều đổi khác. Làng quê và thành phố tạo thành những cặp
ý niệm cũ kĩ và mới mẻ, truyền thống và hiện đại, lạc hậu và văn minh, bền

hướng về chốn văn minh. Nhưng trong đó còn có cả một giấc mơ đô thị, giấc
mơ đổi đời của những thôn dân thậm chí là cả một cơn cuồng say đô thịngưỡng vọng sự xa hoa và một thứ khao khát đến vĩ cuồng được thuộc về nơi
đó. Với miền không gian có tính chất hai mặt như thế, tất yếu sẽ có những
người đô thị tự hào một cách kín đáo, cũng có thể kiêu hãnh một cách phô
17


phang về cái mác “thị dân” của mình, cũng có những người chán ngán sự
phức tạp, ngổn ngang, bất trắc, những giá trị nhân tạo và đời sống cuồng quay
nơi thị thành. Nếu như hành động rời nông thôn lên thành thị không đơn
thuần là hành động dịch chuyển qua những miền không gian thì hành động rời
thành thị tìm về nông thôn cũng chứa đựng trong nó nhiều ý niệm tinh thần.
Đó là nỗi chán chường đô thị, quan niệm thành phố là nơi ở tạm, là chốn vong
thân, nông thôn mới là nơi trở về. Cảm giác bất an mà thành phố thời hiện đại
mang lại còn gắn với những bí mật, những âm mưu, thủ đoạn, những màn
kịch che đậy những tham vọng tăm tối… Trong tâm thức xã hội nảy sinh
thêm ý niệm về sự tha hóa đô thị và tất nhiên cả ý niệm về nông thôn tha hóa,
nhất là khi đối diện với sự xâm lăng của đô thị. Như vậy, thành phố không chỉ
là sự tập hợp, phân hóa cảnh quan không gian gắn với chức năng của chúng
trong đời sống của cư dân đô thị, thành phố còn là sự tập hợp những cảm giác
của con người về không gian, những quan niệm và cả những mơ ước mà con
người gán cho những không gian đó.
Trong tiểu luận Những thành phố vô hình (The Invisible City) nhà văn
Italo Calvino đã đánh thức diện mạo thực sự của một thành phố bằng cách đặt
nó trong những mối quan hệ giữa thành phố và kí ức, thành phố và những
khát vọng, thành phố và con mắt mà ta nhìn nhận nó… Thành phố là một hiện
tượng mang tính lịch sử. Thành phố nào cũng có quá khứ của riêng nó và quá
khứ ấy chưa bao giờ là cái đã xảy ra, đã kết thúc trọn vẹn tại một thời điểm và
vĩnh viễn không còn bất cứ mối quan hệ nào với hiện tại. Thành phố nào cũng
mang trong hiện tại của mình những dấu vết và âm vang của quá khứ. Italo

có giấc mơ trong sự biệt lập, tất cả đều được phản ánh và tác động trong một
vòng xoáy hỗn độn của sự tồn tại đã qua. Sự tích tụ này, trên mảnh đất và trong
tâm trí đã gây nên một sự lẫn lộn không thể nào hòa hợp được trong trật tự các
sự vật”. Sự tồn tại đồng thời trên nhiều khung tham chiếu không gian- thời gian
19


khiến cho thành phố giống một bức tranh chồng hình, và bất kì hình ảnh nào
của thành phố cũng chập chờn giữa bao nhiêu phiên bản.
Tuy nhiên thành phố không chỉ gắn với kinh nghiệm của cộng đồng mà
còn có mối quan hệ rất đặc biệt với những kinh nghiệm cá nhân, đặc biệt là
trải nghiệm của cá nhân với đời sống đô thị. Hơn bất kì miền không gian nào,
thành thị là nơi giải phóng mạnh mẽ những khát vọng cá nhân của con người,
nhịp sống đổi thay nhanh chóng càng khiến thành phố không bao giờ là một ý
niệm thuần nhất, trùng khít trong trải nghiệm của mỗi người. Với mỗi người
nó gắn bó một khác. Luôn có sự vênh lệch khi đặt thành phố trong kí ức cộng
đồng bên cạnh thành phố trong hồi tưởng của mỗi cá nhân và kí ức của mỗi cá
nhân cũng lưu lại những ấn tượng rất khác biệt về cùng một thành phố. Trên
nền thành phố như chúng ta thấy, như chúng ta biết có thành phố tuổi thơ của
mỗi người, có thành phố trong dòng hồi tưởng đứt nối của một trí nhớ đã
nhiều sai lệch, có thành phố ngập tràn tình yêu, có thành phố vụn vỡ những
mất mát, có thành phố ta hằng sống và vẫn hằng mơ, có thành phố xa xôi nơi
thiết tha một ngày được đặt chân đến, hay mong mỏi được thuộc về… Tất cả
những hình ảnh ấy phối trộn lẫn nhau trong một khả năng biến ảo vô tận để
đôi khi thành phố của ước mơ, của khát khao chưa chạm tay đến được trong
phút giây đã hóa thành kỉ niệm. Italo Calvino đã viết thành phố và khát vọng
trong hình thức một câu chuyện đời người: “Anh ta nghĩ về tất cả những điều
này khi khao khát mơ tưởng về thành phố. Insidora, vì thế, là thành phố trong
giấc mơ của anh ta với một điểm khác biệt. Thành phố mơ về ấy bao gồm cả
anh ta như một chàng trai trẻ, còn thực tế anh ta đến Insidora khi đã già. Ở

vật chất không thuần túy là hình thức mà là hình thức mang tính tinh thần và
cái tinh thần cũng không thuần túy là phần linh hồn vô hình, trừu tượng, khó
nắm bắt mà nó đã tìm được cách hiện diện trong không gian vật chất cụ thể của
thành phố. Cái tinh thần còn bao trùm lên toàn bộ không gian, một cách vô
21


thức chi phối đến sự cải tạo cảnh quan đô thị của chúng ta. Không gian sống
của chúng ta chính là sự chuyển hóa, sự hữu hình hóa những ý niệm tinh thần
và bất cứ sự thay đổi nào trên diện mạo vật chất của thành phố cũng ngay lập
tức sản sinh ra những cảm thức mới mẻ. Thành phố là một hiện tượng phức tạp
tự thân, vì thế sự xuất hiện của thành phố trong sang tác văn chương sẽ không
đơn giản chỉ là phản ánh một không gian thực trên trang sách.
1.2.

Diễn ngôn- những vấn đề chung
Thế kỉ XX là thế kỉ chứng kiến nhiều biến động trên hầu hết các lĩnh
vực của đời sống xã hội và đặc biệt là văn hóa, tư tưởng. Từ khoảng giữa
những năm 1960 đến nay, có một hướng nghiên cứu thu hút được sự chú ý
nhiều nhất của các học giả và cũng có ảnh hưởng quan trọng, toàn diện đến
nhiều ngành nghiên cứu khoa học xã hội thậm chí dẫn đến sự phát triển của
những nghiên cứu liên ngành như triết học khoa học, triết học nghệ thuật, sự
kết nối giữa nghệ thuật và khoa học, khoa học và tôn giáo… Đó chính là
hướng nghiên cứu diễn ngôn. Trong bài viết mang tính chất tổng thuật về
hướng nghiên cứu diễn ngôn “Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại: Kinh nghiệm
phân loại”, tác giả O. F. Rusakova đã nhận xét: “Suốt cả thế kỉ XX, các khoa
học nhân văn vị các hiện tượng ngôn ngữ hút hồn. Nói theo Richard Rorty,
“ngôn ngữ chiêu mộ thế giới” và, tất nhiên, tri thức đáng tin cậy nhất về thế
giới đã được mã hóa trong ngôn ngữ. Nghiên cứu ngôn ngữ là chìa khóa để
nghiên cứu con người và thế giới. Định đề này được ghi nhớ như là cơ sở


Bước ngoặt diễn ngôn
Lí thuyết diễn ngôn thực sự đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng
không chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu mà còn làm thay đổi căn bản cái nhìn
của chúng ta về thế giới xung quanh. Nhiều nhà nghiên cứu còn đánh giá
bước ngoặt diễn ngôn như một sự thay đổi hệ hình tri thức và tư duy của con
người. Trước hết, việc thừa nhận thuật ngữ diễn ngôn đã thay đổi quan niệm
của chúng ta về bản thể. Sự thay đổi không chỉ diễn ra trong nhận thức của
23


con người về bản thế thế giới mà còn diễn ra trong chính nhận thức của chúng
ta về bản thân mình. Quan niệm về nhận thức của chúng ta từ trước đến nay
thường gắn với lí thuyết phản ánh. Theo đó, thế giới bên ngoài tồn tại khách
quan, hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con
người, Tồn tại xã hội là cái có trước, ý thức ra đời sau, nhằm nhận thức những
yếu tố có trong thực tại. Lí thuyết phản ánh nhìn nhận tồn tại xã hội và ý thức
xã hội trong mối quan hệ nhân quả: tồn tại xã hội là nguyên nhân, là nơi khởi
sinh nhu cầu nhận thức, là cơ sở cho quá trình nhận thức còn ý thức xã hội
chính là kết quả của quá trình nhận thức đó. Trong mối quan hệ này, thực tế
không chỉ có vai trò định hình nhận thức của chúng ta mà còn là nơi kiểm
chứng tính đúng đắn của những nhận thức đó. Những tri thức được hình thành
trong quá trình con người khám phá, tìm hiểu thế giới đều phải đảm bảo phản
ánh đúng đắn chân thực những sự vật, hiện tượng đang diễn ra. Những quy
luật được đúc kết sẽ mãi mãi ở dạng giả thuyết mà không được thừa nhận nếu
như không chứng minh được sự phù hợp với các chu trình hoạt động của thế
giới trong thực tế. Chỉ khi ấy, những tri thức và quy luật mới được công nhận
là chân lí. Trong lí thuyết phản ánh, sự phù hợp, tương ứng giữa ý thức xã hội
với cái có trước nó là tồn tại xã hội chính là tiêu chuẩn của chân lí. Hai phạm
trù triết học quan trọng nhất mà phản ánh luận đề cao, đó chính là thừa nhận

tuyệt đối mà chỉ có hiện thực của diễn ngôn. Không có chân lý tuyệt đối, chân
lý là những gì được xem là chân lý, dược tin là chân lý. Và lịch sử không
chỉnh xác là những gì đã xảy ra, nó chỉ là một trong vô số diễn ngôn về quá
khứ, một khả năng được cộng đồng đặt vào đó nhiều niềm tin nhất.
Cũng giống như nhận thức về thế giới, nhận thức về bản thân của
chúng ta không bao giờ nằm ngoài ngôn ngữ. Các nhà triết học ngôn ngữ đã
chỉ cho chúng ta thấy rằng “ngôn ngữ là ngôi nhà của tồn tại”, chúng ta gọi
tên mình, định nghĩa mình, tất cả đều bằng ngôn ngữ, chúng ta tồn tại trong
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status