KIỂU CÂU CHỈ TÌNH THẾ TRONG TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN - Pdf 13

LỜI CẢM ƠN

 !"#$ %&#'()
*+, $/01 !23(43%51
6!573(1894:;95<)
=>9>?'7@-A-<' !#B"#$
 %-C0)
5<10DD$DE(EFDE
Ninh Thanh Hà
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Sự xuất hiện của tên gọi các loài vật trong tục ngữ 43
Bảng 2: Thống kê hệ thống các loài thuộc nhóm Trùng xuất hiện trong 50
tục ngữ 50
Bảng 3: Thống kê tần số xuất hiện của các động vật thuộc nhóm Ngư trong tục ngữ 51
Bảng 4: Hệ thống từ ngữ biểu thị thế giới loài cá và tần số xuất hiện của chúng trong tục ngữ 52
Bảng 5: Thống kê hệ thống từ ngữ biểu thị thế giới loài chim trời và tần số xuất hiện của chúng
trong tục ngữ 54
Bảng 6: Thống kê tần số xuất hiện của nhóm chim nuôi trong tục ngữ 55
Bảng 7: Thống kê tần số xuất hiện của các loài vật thuộc nhóm Thú trong tục ngữ Việt Nam 57
Bảng 8: Tổng kết các loài vật thuộc các nhóm: Trùng, ngư, điểu, thú và các con vật mang Anh
huyền thoại 62
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Tần số xuất hiện của loài tằm so với các loài côn trùng khác thuộc nhóm Trùng trong tục
ngữ 51
Biểu đồ 2: Biểu đồ miêu tả tần số xuất hiện của động vật thủy sinh thuộc nhóm Ngư trong tục ngữ
53
Biểu đồ 3a: Tần số xuất hiện của các con vật thuộc nhóm điểu trong tục ngữ 55
Biểu đồ 3b: Miêu tả tỷ lệ phần trăm sự xuất hiện của nhóm chim nuôi trong tục ngữ 55
Biểu đồ 3c: Miêu tả tỷ lệ phần trăm của nhóm chim nuôi và chim trời thuộc nhóm điểu trong tục
ngữ 56

nhiều hình ảnh đã trở thành chất liệu biểu trưng trong tục ngữ của người Việt
như: tự nhiên, thực vật, động vật, vật thể nhân tạo và cơ thể con người. Các
chất liệu biểu trưng này đã thể hiện lối tư duy, văn hóa, thói quen, tập tục của
người Việt. Với nền kinh tế nông nghiệp, đời sống của người dân Việt Nam
chủ yếu gắn bó với thiên nhiên và thế giới động vật. Đặc biệt, từ xa xưa, loài
vật luôn gần gũi với đời sống người dân Việt Nam, nên đã đi vào tâm thức
của người Việt Nam và biểu hiện ra ở lối nói giàu hình ảnh, giàu hình tượng
1
này. Loài vật trong ca dao được biểu hiện rất phong phú và đa dạng. Chúng
đã trở thành đối tượng nhận thức thẩm mỹ và là chất liệu để thể hiện những
quan niệm về nhân sinh. Vậy trong tục ngữ, chất liệu động vật mang ý nghĩa
biểu trưng như thế nào và được thể hiện ra sao? Hiện nay, đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về tục ngữ, cũng như nghiên cứu về các chất liệu biểu
trưng của tục ngữ. Trên cơ sở kế thừa và phát huy những nghiên cứu đi trước,
chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: Trường nghĩa động vật
trong tục ngữ Việt Nam. Chúng tôi mong muốn rằng, đề tài này sẽ góp một
phần nhỏ vào kết quả nghiên cứu tục ngữ của người Việt, cũng như lưu giữ,
phát huy việc vận dụng tục ngữ trong lời ăn, tiếng nói hàng ngày và đặc biệt
là khơi dậy niềm tự hào của người Việt về ngôn ngữ dân tộc.
2. Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay, tục ngữ luôn là đối tượng được nhiều ngành khoa
học quan tâm, nghiên cứu. Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã có các công trình
nghiên cứu đáng kể về tục ngữ như: Chu Xuân Diên (Tục ngữ Việt Nam),
Cao Huy Đỉnh, Đỗ Bình Trị (Những đặc điểm thi pháp của tục ngữ),
Nguyễn Xuân Kính (Kho tàng tục ngữ người Việt), Triều Nguyên (Khảo
luận tục ngữ người Việt), Nguyễn Thái Hòa (Tục ngữ Việt Nam - cấu trúc
và thi pháp), Phan Thị Đào (Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam), Nguyễn
Văn Nở (Biểu trưng trong tục ngữ người Việt), , tuy nhiên, chúng tôi chỉ
dừng lại ở việc tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về tục ngữ ở một số phương diện
liên quan và gần gũi với đề tài luận văn.

tạo nghĩa biểu trưng trong tục ngữ của người Việt trong tục ngữ. Ông phân
tích các nhóm chất liệu tiêu biểu của tục ngữ người Việt bao gồm nhóm chất
liệu tự nhiên, chất liệu là thực vật, chất liệu là động vật, chất liệu là vật thể
3
nhân tạo, chất liệu là bộ phận cơ thể con người và qua đó chỉ ra dấu ấn văn
hóa, dân tộc được thể hiện qua các chất liệu biểu trưng đó. Trong chuyên
khảo này, tác giả tìm hiểu đặc điểm biểu trưng của tục ngữ người Việt. Ông
khẳng định tục ngữ là một đơn vị biểu trưng toàn vẹn, ý nghĩa biểu trưng của
tục ngữ không chỉ tồn tại trong các văn bản tục ngữ mà còn được mở rộng
thêm trong ngữ cảnh và đi sâu vào một số biểu trưng của các câu tục ngữ
trong ngữ cảnh cụ thể.
Bàn về động vật trong tục ngữ Việt Nam, có nhiều tác giả đã có sự nhìn
nhận, phân tích dưới góc độ riêng lẻ từng loài vật. Tác giả Nguyễn Nghĩa Dân
trong bài viết: Chú khuyển trong ca dao tục ngữ Việt Nam, đã thống kê
được ba đặc điểm về loài chó thường xuất hiện trong ca dao tục ngữ đó là:
Xem chó như là một biểu tượng xấu xa và lấy nó để ví von, nói về những hiện
tượng tiêu cực của xã hội hoặc của con người; Nói về tập tính tốt và xấu của
loài chó, và từ đó liên hệ đến tính tình con người; Quan sát chó để nói về
những kinh nghiệm sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người.
Tác giả Nguyễn Văn Nở trong bài viết: Con gà trong tục ngữ Việt
Nam, Tạp chí Văn nghệ Cần Thơ - số Xuân Ất Dậu 2005 đã chỉ ra hình ảnh
biểu trưng của con gà trong tục ngữ Việt Nam như thể hiện triết lý nhân sinh
của người Việt Nam, thể hiện phong tục tập quán, lối sống, cách suy nghĩ và
quan hệ giữa người với người, hay nói cách khác là bản sắc văn hóa con
người Việt Nam.
Tác giả Trần Tùng Chinh trong bài viết: Năm ngọ nói chuyện ngựa
trong thành ngữ, tục ngữ đã nói đến những đặc tính của loài ngựa và những nét
đặc trưng của loài ngựa xuất hiện trong tục ngữ Việt. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ
dừng lại ở việc chỉ ra những đặc tính của loài ngựa trong thành ngữ, tục ngữ mà
chưa có sự nghiên cứu sâu vào biểu tượng của loài ngựa trong tục ngữ.

nghĩa biểu trưng của động vật trong tục ngữ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là trường nghĩa về động vật và ý
nghĩa biểu trưng của động vật trong tục ngữ Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu các ngữ liệu trong
tuyển tập Tinh hoa văn học dân gian người Việt1NXB Khoa học xã hội (4
tập). Ngoài ra, chúng tôi có tham khảo thêm một số tài liệu khác như: Tục
ngữ Việt Nam chọn lọc do Ngọc Lan sưu tầm, biên soạn, NXB Văn hóa
thông tin; Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (2010), NXB Văn học
của tác giả Nguyễn Lân.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương
pháp sau:
a. Phương pháp thống kê phân loại
Dựa trên cơ sở ngữ liệu đã chọn, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê
số lượng cụ thể của các câu tục ngữ có chứa hình ảnh động vật và phân chia
chúng vào từng nhóm riêng.
b. Phương pháp phân tích ngữ nghĩa
Sau khi đã phân loại, chúng tôi tiến hành phân tích mối quan hệ giữa ý
nghĩa bản thể và ý nghĩa liên hội, nghĩa bề mặt ngôn từ với nghĩa biểu trưng.
c. Phương pháp phân tích tổng hợp
Sau khi thống kê, phân loại, phân tích ngữ nghĩa, chúng tôi tiến hành
phân tích ý nghĩa biểu trưng của trường nghĩa động vật trong tục ngữ Việt
Nam, từ đó rút ra những đặc điểm cơ bản về tư duy và bản sắc văn hóa của
người Việt qua hình ảnh biểu trưng của động vật trong tục ngữ Việt Nam.
6
5. Đóng góp của luận văn
Với luận văn Trường nghĩa động vật trong tục ngữ Việt Nam, chúng
tôi dự kiến sẽ có những đóng góp sau:

Năm 1900, H. Osthoff viết: “=O7%BW-XO7T
,G#<&#''X Q7U0#BYOLL#
Z@'!W# +U%B-O” (7, 243). Nhưng đặc biệt là luận
điểm của F. De Saussure: “[$ X>WM0#B!\!70#
B#"#"#0-X”, và “Q,#W,$U$!L&
<NB-L,Q 70#BOM-” (7, 243,244) đã thúc
đẩy một cách quyết định sự hình thành nên lý thuyết về các trường. Ở Đức, lý
thuyết về trường gắn liền với tên của các nhà nghiên cứu như: J. Trier và L.
Weisgerber.
Về mặt thuật ngữ, J. Trier không có những cách dùng cố định và cũng
chưa đưa ra được những định nghĩa thật rõ ràng cho những thuật ngữ của
mình. Đọc các tác phẩm của J. Trier, người đọc không có được sự phân biệt
giữa “']” với “ @” thật chắc chắn, mà chỉ có thể hiểu theo nghĩa mơ hồ
rằng “ @U” và “ @N$%” theo tác giả là khác nhau. J. Trier cho
rằng: “ !71^U_9 !< @1$ XO&
"#%'$U ! @"#0-X1 `a @b&7%
7`7UH &cK'!><U'1U"#%'!><
8
U'\"#%' @”. Theo J. Trier, trường khái
niệm là một hệ thống rộng bao gồm những khái niệm cơ bản có mối quan hệ
với nhau, đươc tổ chức lại xung quanh một khái niệm trung tâm. Mỗi trường
khái niệm được các từ phủ lên trên, mỗi từ tương ứng với một khái niệm.
Trường từ vựng là tập hợp các từ phủ lên trên một trường khái niệm.
Sau J. Trier, L. Weisgerber cũng có những quan niệm bổ sung cho lý
thuyết về trường của ông. Theo L. Weisgerber, cần phải tính đến các “góc
nhìn” khác nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hóa
một lĩnh vực nào đó của cuộc sống. Ông thay thế sự phân tích từ bằng sự
phân tích các khái niệm nằm trong “tinh thần” của một ngôn ngữ nào đó. Do
vậy, khả năng thấu hiểu nội dung của từ được thu nhận một cách đầy bí ẩn khi
cá nhân nào đó trưởng thành trong ngôn ngữ mẹ đẻ hoặc phải rất thành thạo

mà quan tâm tới trường từ vựng – ngữ nghĩa của tiếng Việt. Ông cho rằng,
việc phân lập trường nghĩa dựa trên ý nghĩa của từ, bởi “7"#%'C
7Ud% N-e$UHO!-+ &TUK
'!7%B!Qf,)5O$N$1Q%B7
 !U'L%"#7L#%B7 !&gU'
'"#%77$U &cL%"#"#%77
L#%BM+”. Từ đó, Đỗ Hữu Châu đưa ra quan niệm: “h^L#
%B7-f4&< @)8O&,f,-_W
'#'C” (6, 171).
Tác giả Đỗ Việt Hùng trong Nhập môn ngôn ngữ học đưa ra quan
niệm về trường nghĩa: a=$-'XU'-_W'#'C,
f, @b(10, 227).
10
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về trường từ vựng, tuy
nhiên, các nhà nghiên cứu thường dựa trên các quan điểm của các nhà ngôn
ngữ học nước ngoài và căn cứ vào thực tế tiếng Việt để đưa ra các lý thuyết
về trường nghĩa. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các cơ sở lý thuyết
của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở chính.
1.2. Tiêu chí và cách phân loại
Theo Đỗ Hữu Châu trong Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, các tiêu chí
để phân lập các trường từ vựng – ngữ nghĩa là tiêu chí ngôn ngữ, bởi lẽ các
trường từ vựng - ngữ nghĩa là các sự kiện ngôn ngữ. Ông cho rằng: “6
L>P-/#,&,>`$,9''1%f!@O
LL#>U!71\NL>P-/#$']N$%
-AO !#0”. Do vậy, cơ sở để phân lập trường là các ý nghĩa của từ,
tức là những ý nghĩa ngôn ngữ. Có thể, những sự kiện, sự vật, khái niệm lĩnh
hội được nhưng nếu không biểu thị bằng từ thì chúng vẫn không phải là yếu
tố của một trường trong ngôn ngữ nào đó.
Đỗ Hữu Châu cho rằng, có thể phân loại hai trường từ vựng - ngữ nghĩa
lớn gồm:  @>L#' và  @>L#%. Hai trường này không loại trừ

1.3. Các loại trường nghĩa
F. De. Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương đã chỉ ra hai
dạng quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ
đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến hay quan hệ hệ hình).
Đỗ Hữu Châu cho rằng, mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một
trường nghĩa. Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa. Do
quá lớn và phức tạp nên những liên hệ ngữ nghĩa trong từ vựng không hiện ra
12
một cách trực tiếp giữa các từ lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Với các trường
nghĩa, có thể phân định một cách tổng quát thành những quan hệ ngữ nghĩa
giữa các trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường.
1.3.1. Trường nghĩa dọc
D)i)D)D)  @>L#'
Trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nhất một số nét nghĩa
trong ý nghĩa biểu vật. Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa các nghĩa biểu
vật của các từ về trường biểu vật thích hợp, chúng ta chọn danh từ làm gốc.
Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm
trù biểu vật như: @1-<'1'1L1W&%#1))) các danh từ
này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế nét nghĩa của từ về mặt
biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp nét nghĩa của từ.
Ví dụ như trường biểu vật về hoạt động của người gồm:
- Hoạt động trí tuệ: #01#011C1,
Q1,$-!$12f,1N&#1)))
- Hoạt động của các giác quan để cảm giác: J11 1W01
O1&11j1@191)))
- Hoạt động của con người tác động đến các đối tượng: O1NL1j1
P1-$1-,1-$1)))
+ Hoạt động của tay: /1P1V1'g1&1NV!1P1e1)))
+ Hoạt động của chân: 90101-$1+1!P1N!?!11-9,1)))
+ Hoạt động của đầu: +1-<1-$-/#1)))

l): yêu, ghét, nhớ, thương, thương cảm, thương hại, nhớ nhung, căm ghét,
căm thù, khinh bỉ, lo sợ, sợ, khinh bỉ,
14
- Trường biểu niệm !9-<L (&!
O 9k) -<0I
A động tại chỗ một cách cơ giới: -!1&!-!1"#01-<-01
# 1)))
A rời chỗ hoặc dừng lại một cách cơ giới: -1901 1'!1&1>g1&1
&1>101&<1U1)))
A là thiết bị cơ khí: 901!9-<1'1)))
A là trạng thái tâm lý: !#01>__1 #-<1JW,1)))
))))
Như vậy, sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật và trường biểu
niệm là dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ. Nó phản ánh
hai cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau: Nếu lấy những nét nghĩa biểu
vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có trường
biểu vật. Nhưng nếu cần phân một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì
lại cần phải dựa vào các nét nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm. Khi phân
lập các trường biểu niệm, chúng ta dựa vào cấu trúc biểu niệm, song khi phân
nhỏ chúng ra, đến một lúc nào đó phải sử dụng đến nét nghĩa biểu vật.
1.3.2. Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính)
Theo F.de. Saussure, cái biểu hiện của tín hiệu ngôn ngữ diễn ra trong
thời gian, do đó, nó chỉ có một tuyến, một chiều từ trước đến sau, hay nói
cách khác, âm thanh ngôn ngữ phải kế tiếp nhau thành chuỗi chứ không thể
xuất hiện đồng thời. Do đó, quan hệ ngữ đoạn còn gọi là quan hệ ngang hay
quan hệ tuyến tính. Thông qua các quan hệ ngữ đoạn, các từ sẽ bộc lộ các ý
nghĩa từ vựng ngữ pháp của chúng. Như vậy, trường nghĩa ngang xuất phát từ
tính hình tuyến của tín hiệu ngôn ngữ.
15
Để lập nên trường nghĩa ngang, người ta chọn một từ làm gốc rồi tìm

tới do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề
tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại. Vì thế, các trường liên tưởng có tính dân
tộc, tính thời đại và tính cá nhân. Điều này được thể hiện ở sự liên tưởng khác
nhau giữa các dân tộc như: Ở Việt Nam, nói đến bò, người ta nghĩ ngay đến
sự ngu dốt (#>g1B>g1)))), hoặc nói tới chó, người ta liên tưởng
đến thói hư tật xấu, sự tham lam, độc ác (“=O-<-1O,\O
#bma=O$#$b1)))) nhưng ở các nước phương
Tây như Pháp, người ta lại liên tưởng đến sức mạnh ở loài bò và sự trung
thành của loài chó; Hay ở một số nước, trâu là loài vật linh thiêng và không
ăn được thì điều đó hoàn toàn ngược lại ở Việt Nam.
Ảnh hưởng bởi những tính chất trên, trường liên tưởng thường không ổn
định nên ít có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các
từ và từ vựng. Tuy nhiên, trường liên tưởng có hiệu lực lớn giải thích sự dùng
từ, nhất là dùng từ trong tác phẩm văn học, giải thích các hiện tượng sáo ngữ,
sự ưa thích lựa chọn các từ nào đấy để nói hay viết, sự tránh né kiêng kỵ những
từ nhất định, Chẳng hạn như thời vua Minh Mệnh, vì vợ của ông vua này tên
là Nguyễn Thị Hằng nên thay vì dùng `1người ta dùng @mhay vì tên
húy của vua Tự Đức là Nguyễn Khắc Thì, nên để khi dùng từ 1người ta nói
chệch đi thành @1))) Để nhận biết hay nhận diện một tác phẩm văn học, ngoài
những khác biệt về chủ đề, về tư tưởng, về các chi tiết, về hình tượng, thì chỉ
cần nhờ diện mạo ngôn ngữ, chúng ta đủ để phân biệt được một tác phẩm văn
học của thời đại này với thời đại khác. Các tác giả văn học thường chịu sự ràng
buộc sâu sắc với các trường liên tưởng trong thời đại của mình.
17
Như vậy, có sự phân biệt trường nghĩa biểu vật, biểu niệm, tuyến tính
và liên tưởng, nhưng trong phạm vi luận văn này, đối tượng khảo sát giới hạn
ở trường nghĩa biểu vật thuộc trường nghĩa động vật trong tục ngữ Việt Nam.
1.4. Hiện tượng chuyển trường
Theo Đỗ Hữu Châu, ngôn ngữ luôn luôn phải đứng trước đòi hỏi kịp
thời sáng tạo ra những phương tiện mới để biểu thị những sự vật, hiện tượng

Cũng có khi sự chuyển biến ý nghĩa theo cùng một hướng của các từ
trong cùng một phạm vi biểu vật bất ngờ, lắt léo nhưng khá thú vị.
VD: , với nghĩa gốc chỉ một hiện tượng xuất hiện trong trường
nghĩa về điện lại có thể chuyển sang một trường chỉ tâm lý như: “nNM
,,&!W0”, hay: “6o-%ON$1&+!\,”.
Sự chuyển trường cũng có thể dẫn tới ý nghĩa của từ sau khác hẳn từ
trước. Hoặc sự chuyển trường cũng có thể làm ý nghĩa của từ mở rộng ra hoặc
thu hẹp lại, xấu đi hoặc tốt lên.
VD: =90với nghĩa: Hoạt động rời chỗ bằng chân với tốc độ cao, được
chuyển sang một ý nghĩa hoàn toàn khác trong: 90-L190M1)))
VD: Từ _ với nghĩa: bột quấy đặc để ăn (Có bột mới gột nên hồ) –
nghĩa này hiện nay rất ít dùng, bởi nghĩa hiện nay của từ này là: bột quấy đặc
dùng để dán.
VD: Từ trước kia có nghĩa là “ra đi”, với trạng thái không xấu thì
nay, từ này chỉ được dùng trong các trường hợp mang sắc thái xấu, phê phán
sự ra đi của một ai đó.
Nghiên cứu về hiện tượng chuyển nghĩa trong từ vựng, các nhà nghiên
cứu đều thống nhất có hai phương thức chuyển nghĩa đó là ẩn dụ và hoán dụ.
19
2. Quan niệm về tục ngữ
2.1. Khái quát về tục ngữ
Tác giả Bùi Mạnh Nhị trong Tục ngữ viết: “G7HGIO"#JO
&#-@1-f4@m7I&@OK&7#O
P412-X1OX,-%#1'@C#1L
%7N%'C4eH1&!-<1
#W1A<K'-f$,G'!-@B1#0'&@(
O0” (dẫn theo 39). Với quan niệm này, tác giả đã chỉ ra những
đặc trưng riêng của tục ngữ và nội dung phản ánh phong phú, đã dạng của
ngôn ngữ. Đặc biệt hơn, nhờ đặc trưng riêng này, người ta có thể phân biệt
tục ngữ với các thể loại văn học dân gian khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status