BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------------------------
NGÔ THỊ LANH
NHÓM PHỤ TỪ CHỈ SỰ TIẾP DIỄN ĐỒNG NHẤT
TRONG TIỂU THUYẾT SỐ ĐỎ TRÊN BA BÌNH DIỆN
KẾT HỌC, NGHĨA HỌC, DỤNG HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Bùi Minh Toán
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới
GS.TS Bùi Minh Toán – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Em xin gửi lời tri ân tới các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ học, cùng
với các thầy cô giáo khoa Ngữ văn - trường Đại học sư phạm Hà Nội đã quan
tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu.
Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân yêu
đã ở bên cạnh ủng hộ, chia sẻ, cổ vũ và khích lệ em trong suốt quá trình thực
chỉ được miêu tả với khái niệm chung chung hoặc mô tả về vị trí, công dụng
của từng phụ từ. Đặc biệt, nhóm phụ từ đồng nhất này cũng chưa có khái
niệm cụ thể, vị trí, chức năng, …và cũng chưa phải là nghiên cứu trên ba bình
diện (thường mới dừng ở bình diện kết học).
Khi xem xét nhóm phụ từ đồng nhất trên ba bình diện kết học, dụng
học và nghĩa học chúng tôi sẽ đề cập đến các vấn đề vừa thuộc phương diện lí
luận vừa thuộc phương diện thực tiễn vốn phức tạp, ví dụ: Lí thuyết ba bình
diện, nguyên tắc phân định từ loại, phân loại hư từ, phụ từ đồng nhất,… Do
đó, việc khảo sát đầy đủ nhóm phụ từ đồng nhất sẽ làm rõ hơn về ý nghĩa, nội
dung, vị trí,…của nhóm từ này. Đồng thời, đó cũng sẽ là những đóng góp
1
đáng kể trong việc giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt nói riêng và biên soạn các
tài liệu ngữ pháp nói chung.
Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939) là một trong những tác giả tiêu biểu,
đứng ở vị trí hàng đầu của trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam
trước cách mạng tháng Tám. Tuy thời gian cầm bút rất ngắn ngủi nhưng ông
đã để lại một kho tàng tác phẩm đáng kinh ngạc cho nền văn học nước nhà:
hơn 30 truyện ngắn, 9 tập tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, 7 vở kịch, cùng 1 bản
dịch vở kịch từ tiếng Pháp, một số những bài viết phê bình, tranh luận văn
học và hàng trăm bài báo viết về vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa. Một số
đoạn trích tác phẩm của ông trong các tác phẩm “Số đỏ” và “Giông tố” đã
được đưa vào sách giáo khoa môn Ngữ văn của Việt Nam. Có thể nói, Vũ
Trọng Phụng đã có những đóng góp to lớn từ về mặt nội dung đến nghệ thuật.
Đặc biệt, ngôn ngữ nghệ thuật của ông luôn thể hiện sự sáng tạo, phong phú
sinh động, góc cạnh và đầy cá tính. Đó là ngôn ngữ vừa gai góc, sắc nhọn,
vừa mỉa mai, chua chát. Tất cả đều thể hiện thái độ căm phẫn của tác giả và
phô bày bản chất xã hội thối nát, lên án những mặt trái của xã hội.
biệt cả về số lượng, và cả về đặc điểm ngữ pháp, ý nghĩa,…
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã có đề cập đến nhóm từ có
ý nghĩa đồng nhất này nhưng mới chỉ ở mức độ chung chung, khái quát của
cả nhóm mà chưa đi sâu vào nghiên cứu từng từ với vị trí, ý nghĩa,… cụ thể.
Các từ cũng, còn, lại, vẫn, cứ, đều đã xuất hiện trong nhiều cuốn từ
điển. Chúng tôi đã nghiên cứu trên các cuốn Từ điển tiếng Việt (2008), Hoàng
Phê; Từ điển tiếng Việt (1999), Nguyễn Văn Đạm, Từ điển từ và ngữ Việt Nam
(2000), Nguyễn Lân; Từ điển tiếng Việt thông dụng (1999), Nguyễn Như Ý; Từ
điển công cụ tiếng Việt (1998), Đỗ Thanh. Các tác giả đã đều chỉ ra vai trò từ
loại và ý nghĩa các từ cũng, còn, lại, vẫn, cứ, đều. Về cơ bản, sáu từ này đều
3
được các tác giả thống nhất với vai trò là loại phụ từ, ngoài ra còn có các từ đồng
âm danh từ (cứ), động từ (còn, lại), tính từ (đều), quan hệ từ (còn).
Trong các công trình nghiên cứu và nhóm từ này phải kể đến đầu tiên
là cuốn Ngữ pháp tiếng Việt giảng dạy cho sinh viên năm thứ 2 và thứ 3
chuyên ngành ngôn ngữ học NXB – ĐHTH 1967 của tác giả Đinh Văn Đức
đã đề cập đến nhóm từ này với ý nghĩa các từ chỉ khả năng diễn tiến của hoạt
động. Các từ này có ý nghĩa tình thái, và một số trong chúng còn tham gia
tăng cường vào hoạt động ngôn trung của động từ vị ngữ : cũng, đều, cứ,
vẫn. Tác giả cũng đề cập về khả năng kết hợp với nhau trong nhóm của các
phụ từ có ý nghĩa đồng nhất.
Tiếp theo phải kể đến là cuốn Ngữ pháp tiếng Việt – Tiếng – Từ ghép –
Đoản ngữ (1975) của Nguyễn Tài Cẩn NXB ĐH và THCN - HN. Tác giả đã
đề cập đến vị trí của phần đầu đoản ngữ của nhóm phụ từ có ý nghĩa đồng
nhất và điểm qua khả năng kết hợp với một số từ ngoài nhóm như đã, đang,
sẽ. Tác giả đã chỉ ra “ mối quan hệ giữa cứ, đang, cũng, vẫn có lẽ là một mối
quan hệ phức tạp, vừa có tính cách cú pháp, vừa có tính cách từ pháp, vừa có
Trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB GD (2000), của Nguyễn
Thiện Giáp chủ biên, Nguyễn Minh Thuyết đã chỉ ra các phụ từ cũng, đều,
vẫn, cứ,… là: “Phó thuật từ chỉ sự tiếp diễn tương tự chuyên làm thành tố
phụ cho các cụm động từ và tính từ”.
Tiếp đến là cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập 1 (2001), Đỗ Hữu Châu
và Bùi Minh Toán cũng đề cập tới nhóm từ này như sau: Đây là các hư từ đi
kèm với động từ hoặc tính từ tiếng Việt để chỉ sự tiếp diễn đồng nhất: cũng,
còn, lại, vẫn, cứ, đều
Trong công trình luận văn thạc sĩ Nhóm phụ từ có ý nghĩa đồng nhất
(2003), Bùi Thị Trúc Quỳnh đã có những bước đầu tiên nghiên cứu khái quát
về nhóm từ, tìm hiểu vai trò, khả năng kết hợp của các từ cũng, còn, lại, vẫn,
cứ, đều.
5
Tiếp đến là luận văn thạc sĩ Đồng nghĩa của hư từ tiếng Việt (2004) của
Nguyễn Thị Hồng Vân, tác giả có nhắc tới nhóm từ này: “Đây là nhóm phụ
từ so sánh biểu thị ý nghĩa về quan hệ so sánh có tính chất đồng nhất giữa
quá trình hay đặc trưng với hoàn cảnh không gian và thời gian nhất định. Có
thể nói trong các nhóm phụ từ đồng nghĩa tiếng Việt thì nhóm này có nhiều
nét nghĩa giống nhau hơn cả…”
Gần đây là luận án tiến sĩ của Bùi Thanh Hoa Đồng nghĩa của hư từ
tiếng Việt (2012), tác giả trong quá trình nghiên cứu về hư từ đã nhắc đến
nhóm phụ từ đồng nhất hết sức ngắn gọn, khái quát được vị trí của phụ từ
đồng nhất đứng trước biểu thức ngôn ngữ chứa nội dung đồng nhất.
Mới nhất là bài nghiên cứu của tác giả Bùi Minh Toán, tuy giới hạn ở 3
từ đều, vẫn, cũng nhưng khảo sát chúng trên ba bình diện và chỉ ra sự đồng
nhất và khác biệt của 3 từ trên trong tiếng Việt (Tạp chí Từ điển học và Bách
khoa thư số 5/2015).
- Phương pháp hệ thống.
- Phương pháp phân tích vị từ tham thể.
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa, ngữ cảnh các phát ngôn.
VI. Những đóng góp của luận văn
1. Về mặt lí luận
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận văn
trình bày khá rõ ràng những vấn đề lí luận như: khái quát về ba bình diện
nghiên cứu ngôn ngữ: kết học, nghĩa học và dụng học; vấn đề từ loại tiếng
Việt: sự phân định từ loại, hư từ tiếng Việt, phụ từ tiếng Việt và phụ từ chỉ sự
tiếp diễn đồng nhất trong tiếng Việt.
2. Về mặt thực tiễn
- Phân tích và chỉ ra đặc điểm của nhóm phụ từ chỉ sự tiếp diễn đồng
nhất trong tiểu thuyết “Số đỏ” trên bình diện: nghĩa học và dụng học.
- Giúp cho việc lĩnh hội cái hay, cái đẹp về nhóm phụ từ chỉ sự tiếp
7
diễn đồng nhất trong tiếng Việt.
- Giúp cho việc giảng dạy và học tập tiếng Việt cũng như công tác giải
thích, biên soạn từ điển, sách công cụ,…
VII. Cấu trúc luận văn
Luận văn, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, gồm 3 chương:
Chương 1. Những cơ sở lí thuyết
Chương 2: Nhóm từ cũng, còn, lại, vẫn, cứ, đều trong tiểu thuyết “Số đỏ”
trên bình diện kết học
Chương 3: Nhóm phụ từ cũng, còn, lại, vẫn, cứ, đều trong tiểu thuyết “Số
đỏ” trên bình diện nghĩa học và dụng học
8
được các sự vật. Theo tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng
Việt thì “nghĩa học là bộ môn nghiên cứu về ý nghĩa và ý nghĩa được hiểu là
cái gì ở giữa các từ, các câu này diễn tả; nghĩa học cũng một phần nghiên
cứu mối quan hệ giữa các câu xét ở mặt âm thanh và các vật, việc, hiện tượng
có liên quan mà các câu biểu hiện” [8,51].
Thuộc về bình diện nghĩa của câu gồm có nghĩa biểu hiện và nghĩa
tình thái.
1.1.2.1 Nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa mệnh đề, nghĩa quan niệm,…)
của câu.
a. Khái niệm
Nghĩa biểu hiện của câu: “là thành phần nghĩa phản ánh sự tình xảy ra
trong thực tế (sự tình chỉ hoạt động, tính chất, đặc điểm, trạng thái, quan hệ,
…)”
Ví dụ: Nó cũng là một sinh viên.
Ở đây có một quan hệ đồng nhất đó là quan hệ của một sinh viên (thành
phần vị ngữ - Nội dung thông báo) và nó hay nói cách khác ở đây có sự đồng
nhất về đặc trưng là sinh viên giữa nó và một người nào đó.
Nghĩa biểu hiện của câu: “là thành tố nghĩa phản ánh vật, việc, hiện
tượng được nói đến trong câu. Sự phản ánh này không phải theo kiểu hình
chiếu qua gương soi, mà phản ánh qua nhận thức của con người, chịu sự chi
phối của kinh nghiệm ở con người và sự chi phối của lôgic (tính hợp lí được
thừa nhận). Nói cách khác trong nghĩa miêu tả có một phần những yếu tố
thuộc kinh nghiệm và yếu tố thuộc logíc.” [10, 184]
Theo tác giả Nguyễn Thị Lương trong cuốn Câu tiếng Việt: “Nghĩa
miêu tả của câu là nghĩa biểu thị sự vật, việc, hiện tượng (gọi chung là sự
tình) trong thực tế khách quan được phản ánh vào trong câu, qua lăng kính
chủ quan của người nói (viết)…”
10
11
không chịu sự chi phối trực tiếp của vị tố nên thường được gọi bằng chính
nghĩa mà nó biểu thị. Cao Xuân Hạo gọi là vai phương thức, vai phương tiện,
vai kết quả, vai lối đi,… Diệp Quang Ban gọi là cảnh huống thời gian, không
gian, nguyên nhân, điều kiện, mục đích, kết quả, đường đi, nghịch đối,…
Sự phân chia tham thể bắt buộc hay không bắt buộc chỉ mang tính chất
tương đối. Một tham thể gọi là bắt buộc trong hoàn cảnh này có thể là tham
thể mở rộng trong hoàn cảnh khác nhau.
c. Cấu trúc: đặc trưng / quan hệ/ vai nghĩa
Sự tình phản ánh trong câu có thể là sự việc nêu đặc trưng hoặc sự việc
chỉ quan hệ.
Cấu trúc: Đặc trưng/ Quan hệ - Vai nghĩa là cấu trúc nghĩa của sự việc.
Cấu trúc nghĩa của sự việc bao gồm đặc trưng hoặc quan hệ có tính động, hay
có tính tĩnh, và các thực thể tham gia vào các đặc trưng quan hệ đó, được gọi
chung là vai nghĩa. Những tên gọi đặc trưng hoặc có quan hệ và vai nghĩa là
những tên gọi các yếu tố ở mặt nghĩa của sự việc được phản ánh.
Cần phân biệt mặt nghĩa của sự việc với mặt cú pháp của các yếu tố
ngôn ngữ diễn đạt sự việc. Khi dùng ngôn ngữ để diễn đạt một sự việc thì các
đặc trưng hoặc quan hệ của sự việc được diễn đạt bằng động từ, hoặc bằng
tình từ, hoặc bằng quan hệ từ, hoặc có khi là danh từ; những từ này về mặt cú
pháp được gọi bằng tên gọi là vị tố. Các thực thể tham gia vào sự việc được
diễn đạt trước hết bằng các danh từ và tên gọi cú pháp của chúng là chủ ngữ,
tân ngữ, hoặc bổ ngữ (các loại). Như vậy là các tên gọi vị ngữ, tân ngữ, bổ
ngữ là các tên gọi thuộc cú pháp, không phải thuộc về nghĩa.
Khi xem xét nghĩa miêu tả của câu là xem xét phần nghĩa phản ánh vật,
việc, hiện tượng được nói đến trong câu, hay gọi chung là sự việc. Phân tích
nghĩa của sự việc là chỉ ra phần đặc trưng/ quan hệ của sự việc và các thực thể
tham gia sự việc.
Quang Ban đã phân biệt tình thái của hành động nói và tình thái của phát ngôn.
13
- Tình thái của hành động nói là ý định (ý chí, ý muốn, còn gọi là cái
đích, mục đích) của người nói trong việc thực hiện một hành động nào đó khi
nói, hay nói cách khác, trong việc thực hiện một hành động nào đó bằng
(phương tiện) ngôn ngữ. Hành động nói rất phong phú nên tình thái của hành
động nói cũng rất phong phú. Tuy nhiên, về cơ bản thì hành động nói có thể
được phân biệt với ba trường hợp sau:
Dùng câu ngôn hành: tức là người nói sử dụng những động từ có nội
dung chỉ hành động nói cần được thực hiện và sử dụng nó ở ngôi thứ nhất,
trong câu nói không có dấu hiệu thời gian quá khứ hoặc tương lai đối với
hành động đó.
Dùng câu phân loại theo mục đích nói theo lối trực tiếp: tức là người
nói có thể sử dung kiểu câu phân loại theo mục đích nói đúng theo mục đích
nói vốn có của nó tức là ở dạng nguyên cấp của nó.
Dùng câu phân loại theo mục đích nói theo lối gián tiếp: tức là người
nói không nói rõ ý ra ý định của việc thực hiện hành động nói của mình,
người nghe phải tự suy ra ý định đó từ lời của người nói.
- Tình thái của phát ngôn là chỉ quan hệ, thái độ, cách đánh giá của
người nói đối với cái được nói đến trong câu (tức là đối với phần nghĩa miêu
tả của câu). Tình thái phát ngôn gồm có:
Tình thái khách quan là thứ tình thái có thể kiểm tra được tính đúng sai.
Và tình thái khách quan được phân biệt thành tình thái khẳng định và tình thái
phủ định.
Tình thái chủ quan chỉ thái độ, cách đánh giá của người nói đói với vật,
việc, hiện tượng được nói đến. Tình thái chủ quan là thứ tình thái không thể
kiểm tra được tính đúng hay sai.
kết luận nào đó. Dẫn chứng giúp chúng ta tin, lí lẽ để cho chúng ta hiểu, khi
đã tin và đã hiểu thì sẽ bị thuyết phục, lúc đó lập luận thành công.
Trong lập luận thường sẽ có hai yếu tố cơ bản là lí lẽ (luận cứ) và kết
luận, hai yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chúng ta có thể biểu
diễn theo cấu trúc sau:
15
p, q ---→ r
p, q là các luận cứ, r là kết luận. Ví dụ:
(1) Con mèo này màu đen (p) nên rất dễ sợ (r).
Cấu tạo của lập luận
Một lập luận đầy đủ có hai phần: luận cứ và kết luận
Luận cứ là những căn cứ để từ đó kết luận được rút ra. Luận cứ có hai loại:
- Luận cứ là bằng chứng (vật chứng, nhân chứng).
- Luận cứ là lí lẽ (là điều suy luận hay một luận điểm, một nguyên tắc
đã được chứng minh).
Luận cứ có thể là những chân lí khoa học (định lí, định luật, chân lí,…)
tức là những luận cứ đã được chứng minh và được đánh giá theo tiêu chuẩn
đúng – sai của loogic học. Các tiền đề này phải tuân theo những thao tác suy
diễn loogic chặt chẽ để rút ra kết luận. Nếu tiền đề đúng và các thao tác suy ý
đúng thì kết luận sẽ đúng. Ngược lại, nếu tiền đề sai thì sẽ rút ra các kết luận sai.
Luận cứ cũng có thể là những lẽ thường. Lẽ thường là những quan
điểm, tập tục riêng của một dân tộc, một cộng đồng, thậm chí một nhóm
người nào đó trong xã hội. Mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng có những lẽ thường
riêng, có thể phi lí với dân tộc này, cộng đồng này nhưng lại hợp lí với dân
tộc khác, cộng đồng khác. Tính đúng sai của lẽ thường luôn thay đổi theo
không gian và theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
- Kết luận là mệnh đề hay lí thuyết được chứng minh bằng các luận cứ.
Câu hỏi này có thể được trả lời bằng các câu sau đây chẳng hạn, trong
đó có phần tin mới (được in đậm).
- Ông Giáp vẽ bức tranh ấy đấy.
- Bức tranh ấy do ông Giáp vẽ.
- Ông Giáp là người vẽ bức tranh ấy đấy.
- Ông Giáp.
Như vậy có thể thấy trong các câu trả lời, tin mới có thể nằm ở phần
thuyết mà cũng có thể nằm ở phần đề.
Trong cấu trúc tin chúng ta cần chú ý đến tiêu điểm, hay còn gọi là
17
điểm nhấn, là nơi tập trung chú ý của người tạo lời (người nói, người viết)
nhằm làm cho người nghe hiểu đúng. Tiêu điểm có khi được đánh dấu bằng
cách nào đó, cũng có khi được nhận ra trong tình huống giao tiếp cụ thể.
Ví dụ trong câu Ai vẽ bức tranh này? Không chứa tin mới nhưng tiêu
điểu chúng ta thấy rất rõ đó là đại từ nghi vấn ai?
Theo đó chúng ta thấy các câu trả lời có tiêu điểm chung là ông Giáp,
và trong các câu trả lời đều có tin mới – đó là ông Giáp, tức là tin mới và tiêu
điểm trong trường hợp này cùng được diễn đạt dưới một yếu tố ngôn ngữ.
Để xác định được tin mới, tiêu điểm chúng ta cần căn cứ vào nhiều yếu
tố, giọng điệu, ngữ điệu, cách sử dụng từ ngữ, cảnh huống,…
1.1.3.3. Nghĩa hàm ẩn
a. Tiền giả định
Tiền giả định là khái niệm được dùng nhiều trong nghiên cứu về ngữ
nghĩa và về cú pháp. Nó được các nhà ngôn ngữ học thế giới và Việt Nam
quan tâm rất nhiều.
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt NXBGD, 2000, theo tác giả Diệp
Quang Ban tiền giả định “là cái mà người nói cho là đúng trước khi nói ra
đ
Khái quát: Quan hệ giá trị chân lý giữa câu A và tiền giả định B của nó là:
dù A có giá trị đúng hay sai thì tiền giả định B của nó luôn luôn có giá trị đúng.
- Tiền giả định ngữ dụng
Tiền giả định ngữ dụng được định nghĩa như sau: A có một tiền giả
định ngữ dụng là B nếu: a; Khi phát ngôn A thì người nói đã giả định là B và
tin rằng người nghe cũng nghĩ là B. b; B đã được chấp nhận [40, 197]
Như vậy, tiền giả định ngữ dụng là cái nền cho cuộc hội thoại được tiến
hành một cách bình thường và câu nói được chấp nhận. Tiền giả định nghĩa là
điều kiện của phát ngôn, đảm bảo cho phát ngôn đó luôn đúng và chuẩn trong
văn bản. Sự phù hợp ngữ nghĩa giữa các phát ngôn quyết định tính liên kết,
đồng nhất giữa chúng. Sự phù hợp này lại do tiền giả định của các phát ngôn
quy định. Hai phát ngôn phù hợp với nhau về mặt ngữ nghĩa khi và chỉ khi
tiền giả định của chúng không đối lập nhau mà có điểm chung.
b. Nghĩa hàm ngôn
Là loại nghĩa không thể nhận diện trực tiếp từ câu chữ mà phải suy ra
từ nghĩa tường minh, tiền giả định và ngữ cảnh.
19
Để nhận diện được nghĩa hàm ngôn chúng ta cần phải căn cứ vào nhiều
yếu tố. Trước hết là hoàn cảnh giao tiếp, chúng ta có thể hiểu đó là bối cảnh
chung mà ở đó câu nói được phát ra. Hoàn cảnh giao tiếp có thể là các yếu tố
ngoài ngôn ngữ như: cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, ngữ điệu, giọng nói,….
Thứ hai là các thao tác suy ý, tức là hành động của trí não nhằm vận
dụng sự hiểu biết để xem xét, đánh giá tính đúng – sai, hợp lí – không hợp lí,
khách quan- không khách quan của một vấn đề nào đó.
Thứ ba là dựa vào ước định xã hội (lẽ thường), tức là những ước định,
và cú pháp học) trong việc thực hiện một chức vụ cú pháp nhất định.”
Như vậy, trong bất kì hệ thống ngôn ngữ của dân tộc nào, của cộng
đồng người nào (dù cho hệ thống ngôn ngữ đó đã phát triển hay vẫn còn đơn
sơ, đã có chữ viết hay chưa có chữ viết) đã có vốn từ vựng, có ngữ pháp riêng
thì đều có từ loại.
1.2.2. Sự phân định từ loại
1.2.2.1. Mục đích
Theo tác giả Lê Biên việc phân định từ loại nhằm phát hiện được bản
chất ngữ pháp, tính quy tắc trong hoạt động ngữ pháp và sự hành chức của
các lớp từ loại trong quá trình thực hiện các chức năng cơ bản của ngôn ngữ,
làm công cụ để giao tiếp, để tư duy trừu tượng. Từ đó có thể sử dụng các lớp
từ cho đúng quy tắc, hợp với phong cách và chuẩn của tiếng Việt hiện đại.
Theo tác giả Nguyễn Kim Thản: “ phân định từ loại chính là nhằm mục
đích nắm được những từ cùng có những đặc trưng ngữ pháp như nhau, và khi
đặt câu có thể theo hệ thống đó mà suy phỏng ra và không bị nhầm lẫn. “Nếu
không quy những từ cùng có những đặc tính ngữ pháp vào với nhau mà lại cứ
giải thích lẻ tẻ từng từ cụ thể một thì không ai nắm được hết, và cũng không
thành hệ thống gì cả. Đó là mục đích mà cũng là sự tiện lợi của việc phân
định từ loại.” [42, 131]
21
1.2.2.2. Tiêu chí phân định từ loại
Trong bất cứ lĩnh vực nào của tự nhiên hay xã hội, muốn phân loại các
sự vật hiện tượng đều phải có những nguyên tắc, tiêu chí, phương pháp, và các
thao tác phù hợp. Nếu không có nguyên tắc, tiêu chí, phương pháp đúng đắn thì
kết quả phân loại sẽ không đáng tin cậy, vì nó không phản ánh đúng về bản
chất sự vật hiện tượng. Và ngôn ngữ cũng vậy, không phải đơn vị nào của ngôn
ngữ chúng ta đều có thể phân loại được, mà chỉ những đơn vị nào của từ vựng