LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn một số BIỂU TƯỢNG TRONG TIỂU THUYẾT cố đô của KAWABATA YASUNARI - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN
----------

NGUYỄN THANH VŨ

MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG TRONG TIỂU THUYẾT
CỐ ĐÔ CỦA KAWABATA YASUNARI

Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Sư phạm Ngữ văn

GVHD: Phạm Hoàng Nghĩa

Cần Thơ, 5/ 2013


PHẦN 1:
MỞ ĐẦU


PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới đều có những nét đặc sắc riêng về văn hóa
và yếu tố tạo nên sắc diện văn hóa đó chính là các biểu tượng. Con người tư duy bằng
biểu tượng, giao tiếp bằng biểu tượng và thể hiện tâm tư, tình cảm sâu kín nhất cũng
như những thăng hoa, những khát vọng của mình cũng bằng những biểu tượng. Vì thế
khi ta lí giải được những biểu tượng văn hóa có nghĩa là ta đã tìm thấy những giá trị
khoa học và nhân văn của cả dân tộc.
Là một độc giả yêu thích nền văn học Nhật Bản đặc biệt là thể loại tiểu thuyết

Giải Nobel văn học năm 1968 trao cho Kawabata Yasunari đã chứng tỏ văn
chương Kawabata mang tầm vóc bậc thầy thế giới với tài năng và phong cách nghệ
thuật độc đáo.
Bách khoa toàn thư Nhật Bản (Encyclopedia of Japan) đã đánh giá cao các
tác phẩm của Kawabata. Mục Kawabata Yasunari đã khẳng định thái độ coi trọng giá
trị truyền thống, “cũng có nghĩa ông coi trọng cái chết, sự suy tàn bằng cách thương
xót hơn là chấp nhận”. Như vậy, chủ nghĩa duy mỹ không hề phai mờ trong
Kawabata, ông hướng tới cái đẹp bằng một niềm tin gần nh ư tuyệt đối.
Cũng là đề cao nghệ thuật của Kawabata. Trong Hướng dẫn người đọc đến với
văn học Nhật Bản, J. Thomas Rimer cũng đã viết: “Mặc dù có những gợi ý về một
triết lý thẩm mỹ phức tạp phía sau văn bản, tiểu thuyết vẫn có một sự lôi cuốn tức thời,
cả trong màu sắc hình ảnh, lẫn trong sự nhạy bén tâm lí thể hiện những đoạn đối
thoại khác nhau tạo nên nhịp điệu cho câu chuyện. Ngôn ngữ của Kawabata kiệm lời
nhưng lại rất gợi cảm…” Kawabata được đánh giá cao về nghệ thuật viết truyện, nhất
là khả năng gợ i cảm của ngôn từ “có thể làm lu mờ khả năng của bất kì camera nào”.
Một công trình khá nổi bật nghiên cứu về Kawabata nhưng lại chủ yếu lí giải
phương pháp sáng tác của nhà văn, đó là: Kawabata Yasunari: Sự giao hòa giữa bài
ca cổ điển phương Đông với nhữ ng kĩ thuật tiên tiến . Tác giả là Setsuko Tsutsumi đã
tập trung lí giải, tìm hiểu tác phẩm, tác giả ở phương diện phương pháp sáng tác dựa
trên sự kết hợp của văn hóa, mỹ học, triết học… Nhật Bản. Là một luận án Tiến sĩ của
người Nhật về văn hóa văn học Phù Tang tại trường Đại học Washington, nên cách
tiếp cận và thể hiện cội nguồn dân tộc lẫn văn hóa truyền thống Phù Tang của người
viết rất tường tận, tỉ mỉ rất đáng quan tâm.
Tôn vinh Yasunari Kawabata tại lễ trao giải Nobel văn học năm 1968, Anders
Usterling đã ca tụng nghệ thuật viết văn của Kawabata: “Tác phẩm của Kawabata làm
ta nhớ đến hội họa Nhật Bản; ông là kẻ tôn thờ cái đẹp mong manh và ngôn ngữ hình
ảnh u buồn của hiện hữu trong cuộc sống của thiên nhiên và thân phận con người” [1;
958]. Rõ ràng, với Kawabata cái đẹp luôn gắn bó với nỗi buồn trong quan hệ tương
hỗ, điều này cũng xuất phát từ ý niệm mỹ học truyền thống Nhật Bản, cái đẹp sẽ
không đầy đủ nếu thiếu nỗi buồn.

“Chất trữ tình sâu lắng, nỗi buồn êm dịu” được kế thừa từ dòng văn Nữ lưu thời
Heian là phong cách nỗi bật của Kawabata. Và khẳng định “Kawabata là nhà văn rất
coi trọng ngôn ngữ. Ngôn ngữ của ông mẫu mực về phong cách N hật: ngắn gọn, súc
tích, sâu sắc. Câu văn mang nhiều biểu tượng và ẩn dụ kì diệu như thơ nhạc”.
Phó giáo sư Lưu Đức Trung vẫn tiếp tục viết về phong cách của Kawabata
trong bài viết Thi pháp tiểu thuyết Yasunari Kawabata, nhà văn lớn của Nhật Bản
trên tạp chí Văn học khẳng định, thi pháp tiểu thuyết Kawabata là thi pháp chân
không, vốn là đặc trưng của thơ haiku. Hầu hết các bài nghiên cứu của Phó giáo sư đã
thâu tóm được đặc trưng nghệ thuật của Kawabata, gần với thế giới biểu tượng trong
sáng tác của Kawabata hơn cả!
Các bài viết khác về Kawabata cũng có ý nghĩa không nhỏ trong việc hoàn
chỉnh chân dung văn học của nhà văn này tại Việt Nam. Năm 1991 Nhật Chiêu có bài
Kawabata, người cứu rỗi cái đẹp. Sau khi đi tìm cái đẹp mà Kawabata kế thừa từ


truyền thống, nhà nghiên cứu khẳng định: “Đối với Kawabata, người thuộc văn hóa
Thiền tông, thì nghệ thuật vô ngôn và dư tình thuộc về truyền thống. Ông vận dụng
nghệ thuật ấy một cách tuyệt vời vào tiểu thuyết hiện đại” [17; 1074].
Tiếp đó là nghiên cứu về Kawabata với tiêu đề Yasunari Kawabata – Lữ
khách muôn đời đi tìm cái đẹp của Nguyễn Thị Mai Liên, khai thác cái đẹp trong
sáng tác của Kawabata dựa trên các tiêu chí: khiêm nhường, thanh tao, trong sáng,
thanh xuân, hài hòa, u buồn và hư ảo…
Khương Việt Hà đã tìm đến Mỹ học Kawabata Yasunari với những giới thiệu
và dẫn chứng dày đặc cho các phương thức biểu hiện cái đẹp của Kawabata. Trong đó,
tác giả có đề cập đến nghệ thuật sử dụng biểu tượng như là một phương thức biểu hiện
cái đẹp. “Ở đây Kawabata đã nhấn mạnh đến việc tìm kiếm những biểu tượng nghệ
thuật đặc biệt nhằm mang lại chiều sâu cảm xúc và ngữ nghĩa vô hạn cho đối tượng
miêu tả”. [8; 72]. Đồng thời tác giả cũng liệt kê khá nhiều những biểu tượng và đi sâu
vào biểu tượng gương soi.
Ngoài ra, còn có một số bài viết đề cập đến một trong những nét trong phong

là một tác phẩm đậm tính văn hóa. Từ đó, bạn đọc sẽ thấy được cái hay, cái đẹp, cái
đặc sắc trong nghệ thuật viết văn của Kawabata cũng như thấy được những nét truyền
thống và hiện đại của nhà văn trong tác phẩm đó chính là con đường giúp ta hiểu sâu
hơn về văn hóa Nhật Bản – quê hương của chính tác giả.
4. Phạm vi nghiên cứu
Về văn bản, các tác phẩm của Y. Kawabata trích dẫn trong nghiên cứu này đều
được lấy ra từ quyển: Yasunari Kawabata – tuyển tập tác phẩm, Trung tâm văn hóa
Đông Tây, NXB Lao động, Hà Nội (2005). Trong quá trình nghiên cứu, người viết chủ
yếu tìm hiểu và phân tích, giải mã ý nghĩa các biểu tượng trong tiểu thuyết Cố đô đồng
thời để cho cơ sở lập luận của mình thêm thuyết phục, chúng tôi sử dụng thêm những
tài liệu, báo chí, sách và internet về lịch sử, văn hóa, văn học nghệ thuật,…có liên
quan.
5. Phương pháp nghiên cứu
Ở bài nghiên cứ u này, người viết chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu văn
học dưới góc nhìn văn hóa đồng thời kết hợp phương pháp so sánh, phương pháp phân
tích, tổng hợp,… để giải mã và thẩm thấu tầng sâu thẳm ý nghĩa của các biểu tượng
mà người nghệ sĩ Yasunari gửi gắm.


PHẦN 2:
NỘI DUNG


CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Khái quát vấn đề tiếp nhận văn học ở Việt Nam
1.1.1. Vài đặc điểm cơ bản
Theo từ điển thuật ngữ văn học: “Tiếp nhận văn học là quá trình chiếm lĩnh
các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ cảm thụ văn bản ngôn
từ, hình tượng nghệ thuật, tình cảm, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ của nhà văn …
đến sản phẩm sau khi đọc: Cách hiểu, ấn tượng, trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động

Tiếp nhận theo kiểu tri âm: là tiếp nhận tác phẩm theo đúng ý đồ của tác
giả. Sự cắt nghĩa và hiểu tác phẩm ở người đọc trùng khít với ý định của tác giả ký gởi
vào tác phẩm từ giữa ý đồ tác giả, ý đồ của người lý giải nằm trong cùng một vòng
tròn đồng tâm. Tri âm là biểu hiện tột cùng của sự hiểu biết, cảm thông lẫn nhau. Tiếp
nhận theo kiểu này là tiếp nhận mang tính chủ quan, người ta quan niệm rằng tác
phẩm được viết là để dành riêng cho những người sánh văn chương, có khả năng đi
sâu tìm hiểu dụng tâm, dụng ý, nỗi lòng của tác giả, chứ không phải viết ra cho đông
đảo độc giả công chúng ngoài xã hội thưởng thức, tiếp nhận. Quan điểm tiếp nhận theo
kiểu tri âm đòi hỏi sự gặp gỡ, đồng điệu tuyệt đối giữa người sáng tác và bạn đọc,
nhưng trên thực tế việc này rất khó khăn.

Tiếp nhận theo kiểu ký thác : Là sự tiếp nhận mà người đọc mượn tác
phẩm để biểu lộ nỗi lòng của mình đối với cuộc đời. Do đó, tác phẩm văn chương
được coi như là một phương tiện để người đọc giải bày tấm lòng, gửi gắm những quan
niệm nhân sinh, những cảm xúc về thế cuộc hoặc những vấn đề bức thiết của cuộc
sống mà trong một chừng mực nào đó người đọc không có điều kiện để nói ra một
cách trực diện.
Tiếp nhận theo kiểu tri âm và ký thác gặp nhau ở tính đồng cảm giữa tác phẩm
và bạn đọc.
1.1.2.2. Tiếp nhận kiểu hiện đại
Lý luận tiếp nhận văn chương hiện đại thừa nhận tác phẩm văn chương là một
loại hàng hóa đặc thù. Đó là mộ t loại hàng hóa tinh thần do nhà văn sáng tạo nên nhằm
thỏa mãn nhu cầu về đời sống của con người trong xã hội. Nó có những thước đo chất
lượng và giá trị tiêu dùng rất khác nhau giữa mọi người.
Do tác phẩm văn chương được xem như một loại hàng hóa nên tiế p nhận văn
chương vượt ra ngoài tính cá thể riêng biệt, nó mang tính xã hội cao.
Tiếp nhận văn chương hiện đại xác định đối tượng bạn đọc là tầng lớp công
chúng rộng rãi, có nhu cầu và sở thích khác nhau.
Lý luận tiếp nhận văn chương hiện đại thực ra không phải là sự phủ nhận lý
luận tiếp nhận truyền thống, mà là sự bổ sung thêm bình diện xã hội và văn hóa lịch

1.2. Vấn đề biểu tượng và nghiên cứu biểu tượng văn học ở Việt Nam
1.2.1. Khái quát chung
Biểu tượng xuất hiện sớm trong tư duy nhân loại. Từ thời nguyên thủy khi chưa
có ngôn ngữ, con người đã biết sử dụng những tín, kí hiệu để đánh dấu và giao tiếp.
Khi con người có ngôn ngữ, biểu tượn g không hề mất đi mà phát triển theo một hình
thái cao hơn và đó cũng chính là lúc xuất hiện quá trình nghiên cứu biểu tượng.
Trong lịch sử đã có nhiều triết gia đã đề cập đến biểu tượng như Chu Hy – Nhà
dịch số Trung Hoa thần bí, Hêghen – nhà triết học duy tâm khách quan Đức, sau này
là Singmund Freud – Bác sĩ thần kinh, tâm thần người Áo rồi đến
C.G.Jung…vv…Biểu tượng được nghiên cứu và tiếp nhận khá sớm trong lịch sử và
đứng trên những quan điểm và lập trường khác nhau mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra
những khái niệm riêng phù hợp với ngành khoa học của mình.


Nghiên cứu biểu tượng xuất hiện khá muộn và vẫn còn hạn chế cả về mặt lí
luận và thực tiễn, nguyên nhân có nhiều song nguyên nhân cơ bản là các ngành khoa
học chưa ý thức được tầm quan trọng của biểu tư ợng trong đời sống, đôi khi là sự né
tránh biểu tượng. Thời gian gần đây, do sự nhận thức đã có nhiều biến chuyển, đã có
nhiều công trình nghiên cứu về biểu tượng xã hội.
Riêng ở lĩnh vực văn học, trong khoảng những năm cuối thế kỉ XX và đầu
những năm của thế kỉ XXI biểu tượng được quan tâm đặc biệt. Xuất hiện khá nhiều
công trình nghiên cứu về biểu tượng. Bên cạnh những bài nghiên cứu về biểu tượng
trong văn học dân gian còn xuất hiện một số công trình nghiên cứu về biểu tượng
trong văn học hiện đại. Nghiê n cứu biểu tượng không chỉ giới hạn trong nền văn học
dân tộc mà mở rộng trên phạm vi của thế giới.
1.2.2. Nghiên cứu biểu tượng trong văn học
1.2.2.1. Khái quát chung
Thực tế đã khẳng định biểu tượng phát triển cùng quá trình tiến hóa của nhân
loại. Khởi nguyên của biểu tượng (Symbol) là một vật được cắt làm đôi. Hai người
mỗi bên một phần sau một thời gian dài gặp lại hai mảnh vỡ sẽ được ghép lại với nhau

Biểu tượng theo từ điển Tiếng Việt là dấu, là hình ảnh biểu hiện. Biểu tượng
gần gũi với kí hiệu, ẩn dụ, phúng dụ… Nhưng nếu kí hiệu, ẩn dụ, phúng dụ, tạo ra
những mối liên hệ lâm thời, rời rạc, những quy ư ớc đơn giản giữa cái biểu đạt và cái
được biểu đạt, có tác dụng biểu nghĩa thì biểu tượng tạo được sự đồng nhất giữa cái
biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một năng lực tổ chức.
1.2.3. Nghiên cứu biểu tượng văn học ở Việt Nam
1.2.3.1. Khái niệm
Theo C.G.Jung: Biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh ngay
cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày vẫn chứa đựng mối quan hệ liên
can, cộng thêm vào đó cái ý nghĩa quy ước và hiển nhiên của chúng. Trong biểu tượng
có bao hàm một điều gì đó mơ hồ, chưa biết hay bị che dấu đối với chúng ta.
1.2.3.2. Các khía cạnh của biểu tượng được nghiên cứu
Khi biểu tượng là một thuật ngữ của mỹ học, lý luận văn học và ngôn ngữ học,
nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hiểu theo nghĩa rộng, nhìn từ đặc trưng phản ánh hiện
thực bằng hình tượng của văn học nghệ thuật, có thể xem tác phẩm văn học như là một
biểu tượng, một chỉnh thể thẩm mỹ chứa nhiều thông điệp. Việc giải mã biểu tượng
góp phần giúp chúng ta hiểu được những giá trị riêng biệt, độc đáo của tác phẩm. Theo
nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói, của một loại hình
tượng nghệ thuật đặc biệt có sức biểu hiện lớn. Nhìn ở góc độ này, biểu tượng trong
tác phẩm văn học là một “nhân vật” đặc biệt, được hiện diện dưới nh iều hình thức
khác nhau, có thể là con vật, đồ vật, hình ảnh, hình tượng…gọi chung là các dạng thức
biểu hiện ý nghĩa của tác phẩm văn học. Đó là một thủ pháp đặc biệt để tác giả thể
hiện ý đồ sáng tạo. Đặt trong mối liên hệ với văn hóa hóa, văn học Nhật B ản và mỹ
học Kawabata Yasunari, chúng ta bước đầu tiếp cận và giải mã ý nghĩa của các biểu
tượng trong tiểu thuyết của ông từ hai góc độ trên.
1.2.3.3. Biểu tượng trong tác phẩm Kawabata nói chung, Cố đô nói riêng
Giáo sư Mitsuyoshi Numano, trong cuộc du thuyết về văn học quê hương ông
vừa qua ở Việt Nam, đã khẳng định một trong bốn đặc điểm của văn học Nhật Bản là



buồn”. Nghiên cứu về thơ haiku, Nhật Chiêu đã nêu rõ những cảm thức thẩm mỹ của
văn chương Nhật Bản. Theo ông, trước hết là cảm thức sabi, là cảm thức về sự sâu
thẳm, u uẩn và huyền diệu của vạn vật . Wabi là nguyên lí cho rằng cái đẹp cao nhất
nằm trong vẻ đơn sơ và sự thanh tịnh. Aware, bi cảm, “ một cảm thức xao xuyến trước
mọi vẻ đẹp não lòng của sự vật”. Ôtrinnicôp – một nhà văn Liên Xô, đề cập đến khái
niệm yugen – một tiêu chuẩn trong khái niệm về cái đẹp của Nhật Bản. Yugen “thế
hiện tài nghệ nói ẩn dụ, ẩn ý, hoặc vẻ đẹp của câu nói chưa hết” . Thế giới nghệ thuật


của Kawabata không tách rời quan niệm thẩm mỹ truyền thống ấy. Từ tác phẩm đầu
tiên Vũ nữ xứ Izu (1925) đến cuốn tiểu thuyết cuối cùng Vẻ đẹp và nỗi buồn (1963)
Kawabata đều thể hiện nhất quán quan niệm về cái đẹp của mình. Cái đẹp và nỗi buồn,
tình yêu và thiên nhiên, sắc đẹp và nữ tính trở thành c ảm tính chủ đạo trong tác phẩm
của ông
Văn học truyền thống Nhật Bản thường viết về các cuộc hành trình tìm đến
thiên nhiên như một biểu tượng của cuộc tìm kiếm cái đẹp, ý nghĩa đích thực của cuộc
đời. Sáng tác của Kawabata cũng như hầu hết thơ của các thi ền sư, thơ haiku và thời
văn học của cái đẹp (thời Heian) đã thể hiện ở mức độ cao nhất tín ngưỡng tôn thờ cái
Đẹp của văn học Nhật Bản. Điều đáng quý là Kawabata viết các tác phẩm này trong
giai đoạn nước Nhật có nhiều biến động. Sau cuộc đại chiến thế gi ới thứ nhất và trận
động đất lịch sử ở Canto năm 1923, nước Nhật lâm vào tình trạng khó khăn, văn hóa
truyền thống có phần suy đồi dưới ảnh hưởng của mưa Âu gió Mỹ. Người dân xứ sở
hoa anh đào tỏ ra nghi ngờ các giá trị một thời đã làm nên bản sắc Nhật tro ng hàng
trăm năm qua.
Những giá trị truyền thống đó không còn là điểm tựa tinh thần bình an cho họ
nữa trong khi những giá trị mới lại chưa được khẳng định. Sống trong thời kì khủng
hoảng các giá trị, con người dần mất niềm tin vào những gì đã có, thậm chí có người
đã căm thù, phỉ báng quá khứ dân tộc. Kawabata bằng những sáng tác của mình đã
lặng lẽ tạo dựng cho người Nhật niềm tin yêu vào những điều kỳ diệu đã từng làm nên
bản sắc bao đời nay của người dân xứ sở mặt trời mọc. Về sau, trong diễn từ đọc ở lễ

cái đẹp trong văn học dân tộc, Nhật Bản ho á phương Tây để trở thành người cứu rỗi
cái đẹp, phục hưng văn xuôi Nhật Bản, kết tinh tư duy thẩm mỹ và vẻ đẹp tâm hồn dân
tộc. Vì vậy, tuy Kawabata không phải là tác giả mở đầu cho thời kì hiện đại của văn
học Nhật Bản nhưng ông được xem là người đã góp phần hoàn thiện diện mạo nền văn
học hiện đại Nhật Bản.
Kawabata đã tạo nên diện mạo khác cho văn học hiện đại Nhật Bản so với các
nước đồng văn, đồng chủng. Để làm được điều đó, bên cạnh một lý thuyết mới về cách
nhìn thế giới, phương thức biểu hiện mới, quan niệm về thể loại, ý thức tái cấu trúc thể
loại, cần nhất là tài năng và cá tính sánh tạo. Mọi giá trị đều có quyền tồn tại nếu đó là
giá trị đích thực. Kawabata đã dám thể nghiệm và đã thành công nên tên tuổi của ông
gắn với truyện trong lòng bàn tay .
Đặt truyện trong lòng bàn tay của Kawabata vào truyền thống kiệm lời của văn
học Nhật Bản , ta có thể dễ dàng nhận thấy , những khoảng trống vô ngôn mà Kawabata
đã tiếp nhận từ thơ haiku - một thể thơ chỉ gồm 17 âm tiết, chia thành ba dòng nhưng
lại rất giàu sức gợi . Kết cấu bỏ lửng của thơ haiku, cái hư không bảng lảng khó nắm
bắt của tinh thần Thiền tông kết hợp với sự duy lý trong kỹ thuật viết văn phương Tây
đã làm cho những tác phẩm của Kawabata có một phong cách đặc thù: không hẳn Á
Đông mà cũng chẳng Tây phương.
Với truyện trong lòng bàn tay, thể loại truyện ngắn Nhật Bản đã được tái cấu
trúc một cách căn bản khác xa với kiểu truyện ngắn trước đó. Từ những điểm nhìn đơn
lẻ, chớp lấy khoảnh khắc có thần của thực tại, thức nhọn mọi giác quan, sáng tạo theo
nguyên tắc “haiku hóa văn xuôi”, Kawabata đã mang đến tính chất mở cho một thể
loại có dung lượng ngắn, biến truyện trong lòng bàn tay thành thể loại mang bản chất
hiện đại của châu Âu nhưng lại có phần khác với các mô hình truyệ n ngắn phương Tây
trước đó một cách rất Nhật Bản. Trong khi cũng vào thời điểm ấy, kĩ thuật tự sự ở Việt


Nam vẫn mới chỉ dừng lại ở cấu trúc khép kín, đầy đủ lớp lang. Nhà văn vẫn mong
muốn trình bày hiện thực trong tính toàn vẹn của nó. Có thể thấy rõ điề u này qua
truyện ngắn của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn và tiểu thuyết đầu tay của Hồ Biểu

Về cấu trúc của tác phẩm, ngay việc Kawabata đặt tên là truyện trong lòng bàn
tay cũng đã thể hiện ý muốn tái hiện một lát cắt thực tại mang tính chỉnh thể bằng một
hình thức tối giản có thể đặt trong lòng bàn tay. Đọc những truyện Bình dễ vỡ, Tia
nắng rạng đông, Mưa phùn, Trang điểm… ta thấy ông không chỉ có biệt tài phát hiện


những điều mới mẻ bằng cảm xúc tinh tế mà còn biết thể hiện chúng bằng nghệ thuật
tự sự theo hướng mở. Truyện trong lòng bàn tay của Kawabata đã mở ra khoảng trống
vô biên, giúp trí tưởng tượng của người đọc có dịp chu du khắp cõi sống để thâu nhận
về mình những cảm nhận riêng tư, những xúc cảm, trăn trở tuỳ theo trải nghiệm của
bản thân. Đọc Tia nắng rạng đông, người đọc không khỏi không băn khoăn: Tại sao
cô gái nghèo kia đợi người yêu đến cưới mà mỗi đêm lại có một người đàn ông đến
với nàng? Tại sao hàng đêm nàng không mắc màn mà lại thức canh muỗi? Tại sao anh
chàng người yêu của nàng lại tức giận khi một ông già vì thương cảm mà tặng nàng
màn mới? Kawabata đã để những khoảng trống không lời đó cho người đọc tự lấp đầy
bằng ý tư ởng của mình. Và theo lý thuyết tiếp nhận, đó chính là khả năng biến độc giả
thành người đồng sáng tạo.
Khi Kawabata xuất hiện trên văn đàn, những người đồng hương của ông như
Mori Ogai, Natsume Soseki, Tazinaki Junichiro, Akutagawa Ryunosuke đã gặt hái
được ít nhiều thành tựu về văn xuôi nhưng như một vận động viên chạy vượt rào, ông
đã tự tin dấn thân và đã thành công. Tác phẩm của Kawabata dù thể nghiệm một hình
thức mới nhưng không hề xa lạ với văn chương truyền thống dân tộc bởi chúng vẫn
chuyên chở những giá trị đã làm nên bản sắc Nhật Bản. Vấn đề đặt ra là làm sao giữ
được bản sắc văn hoá dân tộc mà vẫn hấp thụ được những tinh hoa của thời đại.
Kawabata đã trả lời được câu hỏi đó bằng các sáng tác của mình. Sáng tác của ông
không chỉ giữ được bản sắc Nhật Bản mà còn có sự hài hoà giữa truyền thống và hiện
đại. Đó chính là tình yêu cái Đẹp, đó là những suy tưởng mang màu sắc Thiền, những
thế giới được cảm nhận bằng trực giác…Những sáng tác về sau của Kawabata cũng
theo dòng chảy như thế, hơi hướng của c hủ nghĩa hiện đại thể hiện ở cách sử dụng độc
thoại nội tâm, dòng ý thức, xây dựng những huyền thoại và những giấc mơ huyền ảo,

biết được thêm một Kawabata đầy tình cảm và do hoàn cảnh đã sớm trưởng thành. Sau
này, tác phẩm luôn có mặt trong các tuyển tập quan trọng của ông.
Các nhà viết tiểu sử về Kawabata hầu như đều dừng lại ở thời điểm ra đời của
Nhật kí tuổi mười sáu (1914), tác phẩm khởi đầu cho sự nghiệp của một nhà văn lớn.
Những thông tin về cuộc đời ông sau này thường rất tản mạn và rất khó xác
định chính xá c. Người ta biết đến Kawabata như một người ôn hòa, trầm lặng nhưng
lại hoạt động hết mình trong lĩnh vực văn học và có cuộc sống tình cảm khá đặc biệt.
Phải sống tự lập ngay từ thời niên thiếu, nhưng là người có nhiều hoài bão và
ước mơ, ngay từ thời trun g học, Kawabata đã có thiên hướng trong lĩnh vực nghệ
thuật. Cùng bạn bè, ông sáng lập ra những tuần san nhỏ, biên tập và viết bài, nuôi ước
vọng trở thành họa sĩ. Sau này, khi đã trở thành nhà văn, ông vẫn thể hiện niềm yêu
thích của mình thông qua những bức thư pháp mà bạn bè và người thân được ông gửi


tặng nhân dịp lễ Tết hay để ghi dấu một kỉ niệm đáng nhớ. Đứng trước ngưỡng cửa
cuộc đời, thay vì phấn đấu để trở thành danh họa, năm 1920, Kawabata đã ghi danh
vào học tại Đại học Hoàng gia Tokyo. Đầu tiên, ông theo học văn học Anh nhưng cuối
cùng ra trường với đề tài tốt nghiệp về tiểu thuyết Nhật Bản. Đó cũng là âm hưởng
chung trong quá trình “trở về truyền thống” trong văn nghiệp của Kawabata.
Thời sinh viên cuộc sống của Kawabata sôi động. Ngay năm đầu đại học,
Kawabata đã cùng một số bạn văn trẻ sáng lập nên tạp chí Trào lưu mới (Sintio).
Truyện ngắn đầu tay Lễ chiêu hồn (Sokogai Ikai) của ông đăng trên tạp chí này.
Kawabata cùng với một số bạn văn thân thiết (trong những năm tuổi trẻ và cả sau này)
như Yokomitsu Riichi, Yukio Mishima,… là những người đồng sáng lập hay cùng
hoạt động trong một số tạp chí có tên tuổi đương thời như Văn nghệ xuân thu (Bungei
Shunzui), Văn nghệ thời đại (Bungei Jidai),…
Ẩn sau vẻ ngoài tưởng như trầm tĩnh, nhút nhát của chà ng thanh niên nhỏ bé,
Kawabata cũng có một trái tim yêu mãnh liệt và những tình cảm khá đặc biệt. Ngay từ
thời học phổ thông, đã có một mối tình con trẻ ghi dấu trong đời tư và cả trong sự
nghiệp sáng tác của Kawabata. Mối tình với cô bạn cùng lớp mà ba mư ơi năm sau khi

những gì tốt đẹp đã qua luôn ngự trị trong tác phẩm của Kawabata là những câu
chuyện không có kết, những câu chuyện không bao giờ đi đến tậ n cùng. Đó là đặc
điểm chung trong những tác phẩm của một tâm hồn nhiều ẩn số.
Cuộc sống riêng tư sau này của Kawabata ít được sách vở đề cập. Người ta cho
rằng ông có quan hệ với rất nhiều diễn viên, những cô đào đóng vai các người đẹp
trong một số tiểu thuyết được chuyển thể thành phim của ông và sau này là một người
vợ (nhưng hôn nhân không đăng kí). Kawabata cũng có một cô con gái, nhưng lại là
con nuôi). Có lẽ những điều này là sự thực bởi ta biết được quan điểm khá đặc biệt của
ông về gia đình trong t ruyện ngắn Về chim và thú (Kinjiu, Of birds and beasts, 1933).
Ông luôn sợ di truyền lại “thiên hướng mồ côi” cho đời sau và làm cho người thân của
mình không được hạnh phúc.
Đương thời tiếng nói của Kawabata rất có trọng lượng trong cả văn giới lẫn
chính giới. Cánh tả và cánh hữu luôn muốn lôi kéo ông, những bài viết giới thiệu các
nhà văn trẻ của ông có thể coi như lá bài quyết định số phận cũng như sự nghiệp của
nhà văn ấy. Ông cũng từng giữ chức chức Chủ tịch Hội văn bút Nhật Bản trong một
thời gian khá dài từ năm 1948 đến năm 1965.
Kawabata bước vào nghề văn với nhiều thuận lợi bằng tài năng cũng như cách
sống ôn nhã của mình. Mạnh Thường Quân có ý định bảo trợ cho hôn nhân không
thành của Kawabata chính là Kikuchi Kan, nhà viết kịch tên tuổi và uy tín trong văn
giới thời đó. Khi gặp nhà văn trẻ Kawabata (lúc còn là sinh viên) lần đầu, Kan đã bị ấn
tượng mạnh mẽ với cách cư xử của Kawabata. Hiền lành, ít nói nhưng ngay tại thời
điểm đó, Kawabata đã tự biết mình là một thiên tài. Không chỉ có ý định cho n hà ở,
chu cấp tiền sinh hoạt phí khoảng 50 yên mỗi tháng nếu nhà văn kết hôn, Kan còn giới
thiệu Kawabata với một số tạp chí (để in truyện) và các nhà văn tên tuổi khác trong đó
có Akutagawa Ruynosake (1892 – 1927), người được coi là khởi đầu cho kỉ nguyên
hiện đại của văn học Nhật Bản.
Với một nhà văn trẻ, sự đỡ đầu của một tên tuổi trong giới là rất quan trọng bởi
chữ tín có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với người Nhật. Sau này, khi đã nổi tiếng,
Kawabata cũng luôn rộng lòng làm việc này cho lớp đàn em, nếu đó là một tài năng


Đầu thế kỷ XX, các bản dịch văn học châu Âu đã đưa đến cho văn học Nhật
Bản những kĩ thuật, phương pháp sáng tác vô cùng mới lạ và có sức hấp dẫn lớn đối
với các nhà văn tân tiến. Sức hút của nhu cầu tìm hiểu, khám phá và thử nghiệm thật
mãnh liệt, Kawabata đã từng khẳng định “tính chất mới là tất cả”, và bày tỏ sự khó
chịu trước những cá ch viết đã được công thức hóa: “Mắt chúng ta rực cháy khát khao
được biết điều chưa biết. Những lời chào hỏi của chúng ta biểu hiện niềm vui mừng ở
chỗ hiện nay ta có thể tranh luận với nhau bất cứ điều gì là mới. Nếu một người nói
“Good morning!” (tiếng Anh có nghĩa là Xin chào) và người kia trả lời “Good


morning !” thì thật là buồn chán. Chúng ta đã hoàn toàn trở nên chán ngấy văn chương
vì nó không thay đổi như mặt trời ngày hôm nay vẫn mọc chính xác ở hướng đông như
ngày hôm qua.”
Sự nghiệp sáng tác của Kawabata thật phong phú và hầu như thành công ở tất
cả các thể loại mà ông thử nghiệm. Phần truyện ngắn được đánh giá cao và được dịch
ra nhiều thứ tiếng trong đó có cả tiếng Việt ( Cánh tay, Vũ nữ Izu, Thủy nguyệt, Tiếng
gieo xúc xắc ban khuya, Về chim và thú,…là những ví dụ điển hình).
Mảng truyện trong lòng bàn tay, như bản thân ông từng nói, “đó là những
truyện mà tôi hài lòng nhất” được viết rải rác từ năm 1921 đến năm 1972, Kawabata
gọi chúng là Tanagokoro no shosetsu (Palm of the Hand Stories – Truyện trong lòng
bàn tay). Những truyện trong lòng bàn tay chứa đựng nhiều triết lý sâu xa về vũ trụ và
con người.
Thành công đặc biệt đối với Kawabata vẫn luôn là tiểu thuyết. Đỉnh cao của thể
loại này trong sự nghiệp sáng tác của ông chính là bộ ba tiểu thuyết mang về giải
Nobel đầu tiên cho người Nhật Bản: Xứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc (1951), Cố đô
(1961). Ngoài ra còn có các tiểu thuyết như Tiếng rền của núi (1952), Hồng đoàn ở
Asakusa (1930), Cao thủ cờ Go (1954), Cái hồ (1954), Đẹp và buồn (1960), Người
đẹp say ngủ (1969)…
Kawabata cũng viết cả tiểu luận phê bình. Những tiểu luận của ông mang đậm
dấu ấn cá nhân, sắc sảo nhưng trầm tĩnh khoan hòa. Một số công trình thật sự có ý

Thậm chí anh còn sẵn sàng từ bỏ quyền thừa kế nếu có thể lấy được Chieko và sang
quản lí cửa hàng cho gia đình nàng. Trong lễ Kỉ Nguyên, khi đi viếng cảnh chùa, tình
cờ Chieko gặp một cô gái tên là Naeko giống y hệt mình. Lòng thắt lại, nàng hiểu đó
là người chị em sinh đôi với mình và mình chính là đứa con bị bỏ rơi theo phong tục.
Hai người giống nhau tới mức ngay cả Hidero, một thợ dệt, người cũng có cảm tình
với Chieko, cũng đã nhầm lẫn dẫn đến một buổi dạo chơi ngoài dự tính với Naeko.
Sau nhiều tìm hiểu và do dự, cuối cùng Chieko quyết định tìm gặp Naeko và đau lòng
khi biết được cha mẹ đẻ của cô đã chết trong khi đẵn cây, một công việc khá vất vả mà
đến nay Naeko vẫn đang tiếp tục phải làm. Là người giàu tình cảm, cộng với lòng
nhân ái của ông bà Takichiro, Chieko tỏ ý muốn đón Naeko về chung sống với gia
đình mình nhưng Naeko đã từ chố i. Naeko chỉ đến nhà Chieko để ngủ lại với chị một
đêm. Ngay sáng hôm sau, khi thành phố cổ Kyoto vẫn im lìm trong lạnh giá, Naeko đã
từ biệt Chieko. Tác phẩm kết thúc, Chieko đứng bên cổng nhà mình nhìn theo bóng
người chị em sinh đôi đang mờ dần trong sương tuyết.
2.2.2. Nhận xét chung về giá trị trong tác phẩm
2.2.2.1. Giá trị tư tưởng
Qua tiểu thuyết Cố đô, người đọc được tìm hiểu kĩ hơn về nước Nhật , một
nước Nhật đẹp lặng lẽ với hoa anh đào, tuyết trắng, một nước Nhật rộn ràng với các lễ
hội truyền thống quanh năm. Mang hương vị màu sắc của một tiểu thuyết khảo cứu
phong tục nhưng Cố đô cũng là một tiểu thuyết tâm lí sắc sảo với việc đi sâu tìm hiểu
thế giới nội tâm nhân vật. Qua những dằn vặt, suy tư trăn trở của Chieko, có thể thấy
cái nhìn của Kawabata đã xuyên thấu tâm hồn nàng.
Tác phẩm này gây ấn tượng với độc giả bởi cảm giác về những truyền thống
xưa cũ và vẻ đẹp của Kyoto còn có thể được coi là cẩm nang cho những ai muốn tìm


hiểu về Nhật Bản và có thể chính yếu tố này đã thuyết phục hội đ ồng Nobel Viện Hàn
lâm Thụy Điển.
2.2.2.2. Giá trị nghệ thuật
Với nhịp điệu kể chuyện trầm tĩnh, khoan hòa, điềm đạm, tiểu thuyết Cố đô với

nghệ thời đại, 1924 – 1927).
Trong thời gian này, bị hấp dẫn bởi làn sóng phương Tây hóa thứ hai tại Nhật
Bản, lý thuyết thẩm mỹ, phương pháp luận phê bình văn học và nhiều sáng tác của



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status