BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
HOÀNG LAN HƯƠNG
HÀ NỘI NHƯ NHỮNG DIỄN NGÔN
(KHẢO SÁT TRONG VĂN HỌC MIỀN BẮC
VIỆT NAM 1945- 1975)
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Trần Đình Sử
HÀ NỘI- 2015
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cho đến nay, chúng ta có thể khẳng định sự tồn tại cả một dòng văn học nghệ
thuật về thành phố. Bởi sự hiện diện của thành phố trong tác phẩm nghệ thuật không
còn đơn giản chỉ là phông nền, bối cảnh cho những câu chuyện, những tâm tình mà nó
chính là “nhân vật chính” của những tác phẩm ấy. Sự hiện diện của thành phố trong
văn chương nghệ thuật cũng không đơn thuần là sự chuyển hóa hình ảnh thành phố vật
chất vào tác phẩm mà quan trọng hơn, hình ảnh thành phố được thể hiện như thế nào,
bản thân nó đã là một ý tưởng. Trong những tác phẩm đầu tiên về thành phố ở phương
như ta vẫn tưởng.
Ba mươi năm 1945- 1975 là giai đoạn đầy biến động trong lịch sử dân tộc.
Bão táp chiến tranh đã cuốn vào trong nó cuộc đời của những cá nhân, lịch sử của
những gia đình và cả lịch sử của những thành phố như Hà Nội. Ba mươi năm khốc
liệt ấy không chỉ để lại dấu ấn trên cảnh quan của thành phố với sự hiện diện của
những lỗ châu mai, của những hầm trú ẩn, những mảng tường lở loét vì bom đạn
chiến tranh, những tượng đài quyết tử… mà còn để lại dấu ấn trong văn học nghệ
thuật và vẫn còn hằn sâu trong kí ức của những người Hà Nội hôm qua và hôm nay.
Thời đại này đã sản sinh ra những cảm thức hết sức mới mẻ, trước đây chưa từng có
về chốn kinh kì văn hiến, nơi đô thị phồn hoa và tạo dựng cho thành phố này một
diện mạo tinh thần mới.
2. Lịch sử vấn đề
2.1.
Lịch sử nghiên cứu về Hà Nội như một diễn ngôn trong văn học nghệ thuật
Hà Nội với bề dày lịch sử của mình đã trở thành đối tượng nghiên cứu của
rất nhiều ngành như địa lí, lịch sử, khảo cổ, xã hội học, kiến trúc, khảo sát văn hóa
phong tục… Các nhà nghiên cứu cũng đã nghiên cứu về Hà Nội, con người Hà Nội,
bản sắc văn hoá Hà Nội trong văn học nghệ thuật, tuy nhiên những nghiên cứu này
chủ yếu mang tính chất mô tả, quy chiếu về diện mạo của thành phố thực chứ không
nhìn nó như một thực thể tinh thần, không lí giải nguyên nhân hay cơ chế thẩm mĩ
nào dẫn đến sự kiến tạo hình ảnh Hà Nội qua các thời kì như ta thấy. Trong số các
nghiên cứu về Hà Nội trong văn học nghệ thuật, đáng kể nhất là hội thảo Về bản sắc
văn hóa Hà Nội trong văn học nghệ thuật thế kỉ XX do trường Đại học Mỹ thuật
Việt Nam tổ chức. Tuy nhiên trong hội thảo này cũng chỉ có duy nhất bài tham luận
4
“Nghệ thuật và thành phố- Chân dung Hà Nội trong mắt nghệ sĩ Việt Nam” của TS
Natalia Kraevskaya và Lisa Drummond “xem xét những xu hướng trong việc diễn
đoạn từ 1945 đên 1975, tập trung khai thác những diễn ngôn văn chương tiêu biểu ở
miền Bắc (bao gồm các thể loại văn xuôi, thơ, kí)
5
5. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi khi lựa chọn nghiên cứu đề tài này là:
-
Thứ nhất: nhận diện các diễn ngôn về Hà Nội trong văn học miền Bắc Việt Nam
1945- 1975 trong dòng mạch các diễn ngôn liên tục viết tiếp và viết lại về Hà Nội
trong hơn 1000 năm qua.
-
Thứ hai: chỉ ra được những công thức diễn ngôn tiêu biểu, cơ chế kiến tạo và giá trị
của những công thức diễn ngôn này trong việc kiến tạo hình ảnh Hà Nội trong văn
học nghệ thuật cũng như trong tâm thức con người.
6. Phương pháp nghiên cứu
-
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu sự kiến tạo hình ảnh Hà Nội giai
đoạn 1945- 1975 trên cơ sở kết hợp các diễn ngôn lịch sử, văn hóa, các diễn ngôn
văn học, mỹ thuật, âm nhạc , điện ảnh, các nghiên cứu trên lĩnh vực kiến trúc, quy
hoạch đô thị.
-
Thành phố- một thực thể diễn ngôn
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến sự ra đời của những thành phố đầu tiên từ
cách đây mấy nghìn năm. Từ những thành bang như Aten của Hy Lạp cổ đại đến
những thành thị trung đại, từ những thành phố cảng, những công xưởng lớn của thời
kì Cách mạng công nghiệp cho đến những thành phố quốc tế ngày nay, thành phố đã
đi một hành trình dài từ lúc khai sinh, liên tục phát triển và trở nên định hình trong
dáng vẻ cũng như trong ý niệm của con người về nó. Tất nhiên, sự định hình mà
chúng tôi nhắc đến ở đây chỉ mang tính chất tương đối, bởi sự phát triển năng động
của đời sống khiến cho diện mạo của các thành phố không ngừng đổi thay từng
ngày và theo những quy luật nhận thức và tâm lý, cách mà chúng ta nghĩ về thành
phố hôm nay cũng chẳng bao giờ trọn vẹn là những ấn tượng, cảm nghĩ của ngày
hôm qua. Tuy nhiên, chúng ta cần phải thừa nhận rằng, quá trình phát triển dài lâu
đã khiến cho sự phân định giữa thành phố với những miền không gian khác trở nên
hết sức rõ ràng. Không còn khó khăn hay tranh cãi khi chúng ta gọi một không gian
là thành phố hay xác định nó không phải thành phố bởi chúng ta đang cùng chia sẻ
một ý niệm chung, cùng đồng thuận trong một cách hiểu nhất định về thành phố.
“Thành phố là gì?” hiển nhiên là câu hỏi mà bất cứ ai cũng trả lời được, thậm chí có
thể trả lời rất nhanh chóng và dễ dàng. Nó đã quá đỗi quen thuộc trong sự quan sát,
trải nghiệm và suy nghĩ của chúng ta. Xác lập lại định nghĩa về thành phố dường
như đã trở thành một việc không cần thiết. Tuy nhiên chúng tôi sẽ bắt đầu từ chính
điểm dường như không cần thiết này để khám phá diện mạo và bản chất của thành
phố cũng như sự xuất hiện của thành phố trong văn học với tư cách diễn ngôn thay
vì chỉ là bối cảnh, phông nền cho những truyện kể.
7
1.1.1. Thế nào là một thành phố?
1.1.1.1.
Thành phố- một thực thể vật chất
thưa thớt, nhắc đến không gian nông thôn là nhắc đến sự thoáng đãng và khoáng
đạt. Trong khi đó, dù diện tích thường được đo bằng những con số rất lớn nhưng
không gian đô thị chưa bao giờ thôi đem đến cảm giác chật chội cho những cư dân
của nó. Cho dù diện tích có được mở rộng đến đâu thì hình như vẫn cứ là chưa đủ
so với quy mô dân số ngày càng phình to và mật độ cư dân nơi đô thị. Nông thôn là
không gian liền khối. Sự phân cắt không gian duy nhất hiện diện trong hình ảnh con
đường làng. Đây là trục giao thông chính nối hai nửa đặc trưng của không gian
nông thôn: không gian sản xuất (nông trại, cánh đồng) và không gian cư trú (xóm
làng). Trong khi đó, thành phố liên tục bị phân cắt thành các mảng không gian chức
năng hết sức đa dạng: không gian cư trú, không gian làm việc, không gian của các
dịch vụ y tế, thể thao, mua sắm, giải trí…Xen giữa những mảnh vỡ không gian đó là
hệ thống giao thông phức tạp. Nếu như ở nông thôn chỉ có một con đường duy nhất,
thằng tắp ít những ngã rẽ cắt ngang thì ở thành thị, đường phố tạo thành một mê
cung chằng chịt những phố, những đường, những ngõ nhỏ quanh co, sâu hun hút và
chúng lại có khả năng vô tận trong việc kết nối những con đường lại với nhau…
Không ai bị lạc trên những con đường nông thôn trong khi đó là cảm giác thường
trực ở chốn thị thành, ta liên tục bị đẩy vào tình huống lựa chọn, chỉ cần một chút lơ
đãng là ngay lập tức con người bị rơi vào những miền không gian xa lạ, loay hoay
xác định phương hướng để tìm về cảm giác quen. Những ngôi nhà ở nông thôn
thường nổi bật ở sự mộc mạc và giản dị, các công trình kiến trúc thường không quá
cao, về cơ bản là phù hợp với công năng sử dụng cũng như hài hòa với không gian
xung quanh. Trong khi đó thị thành trưng ra một diện mạo lộng lẫy, xa hoa với
những công trình kiến trúc bề thế, kiểu cách và hết sức cầu kì. Đó là những khối
nhà cao tầng với cửa kính, đèn gương sáng loáng, những tòa nhà chọc trời cao ngất,
thậm chí vượt khỏi tầm mắt ngước lên. Diện mạo thành phố chia thành những mảng
đầy màu sắc và kiểu dáng: những mảng kiến trúc phương Đông xen giữa mảng kiến
trúc phương Tây, những công trình hiện diện như biểu tượng của sự giao thoa văn
hóa bên cạnh những công trình mang dấu ấn truyền thống hay sừng sững những
biểu tượng của nền văn mình toàn cầu… Những mảng khối ấy đặt bên cạnh nhau,
máy, những công xưởng lớn với hệ thống máy móc hiện đại… Cho đến nay bước
chuyển quan trọng nhất trong quá trình đô thị hóa trên đất nước chúng ta vẫn là sự
thay thế hoạt động sản xuất nông nghiệp bằng sản xuất công nghiệp, sự thay thế có
10
thể nhận thấy rất dễ dàng trên diện mạo: những con đường đất được thay bằng
đường nhựa, đường rộng thêm ra, tăng cường chiếu sáng…, trên mảnh đất từng là
đồng ruộng mọc lên những dãy nhà, những cột ống khói, những biển hiệu của các
khu công nghiệp, khu chế xuất, những dãy cột điện và đèn cao áp thay thế ấn tượng
về những hàng cây xanh rì rào trong buổi chiều quê lộng gió… Thành phố hôm nay,
thành phố của thời kì toàn cầu hóa trưng ra lộng lẫy những trung tâm thương mại
sầm uất, những tòa nhà chọc trời, đâu đâu người ta cũng bắt gặp hệ thống biển hiệu
của những thương hiệu toàn cầu. Thành phố của hôm nay không chỉ sống trong giấc
mơ nhỏ bé của mình mà ôm mộng trở thành những thành phố quốc tế, biểu tượng
của toàn thế giới…
Sự nhận diện một thành phố có thể dựa trên những tiêu chí tổng thể, vĩ mô,
đôi khi có thể chỉ bắt đầu từ cảm nhận hết sức quen thuộc giữa đời thường. Thành
phố- đó là nơi ta hàng ngày lội giữa biển người và mắc kẹt giữa dòng xe cộ vào giờ
cao điểm, nơi cảm giác ngột ngạt khó thở lơ lửng giữa khói bụi của phương tiện và
hơi nóng hầm hập tỏa ra từ mặt đường và những tòa nhà xây dựng bằng bê tông cao
ngất… Thành phố- đó là nơi tầm mắt liên tục bị giới hạn bởi các công trình, đôi mắt
trong veo tìm kiếm mãi mà vẫn không sao chạm được đến chân trời, nơi đôi tai luôn
bị đặt giữa một dòng âm thanh hỗn loạn của tiếng nhạc ầm ĩ vọng ra từ các cửa
hàng, tiếng còi xe nhốn nháo, tiếng người nói léo xéo, tiếng máy móc ầm ì…và
tuyệt vọng trong nỗ lực thanh lọc lấy những thanh âm trong trẻo và thuần khiết nhất
của đời sống như tiếng chim hót, tiếng gió vi vút, âm thanh rì rào của những hàng
cây… Đôi khi ánh mắt tìm thấy bầu trời cao rộng nhất là bầu trời in hình rõ rệt trên
những mảng kính lớn của các tòa nhà chọc trời và đôi khi âm thanh trong trẻo nhất
từng biết thế nào là đô thị, chưa từng có bất kì trải nghiệm trực tiếp nào với khung
cảnh hay cuộc sống nơi thị thành thì hai chữ “thành phố” vẫn gợi ra trong họ rất
nhiều suy nghĩ. Những cảm thức ấy không phải đợi đến khi con người ta tiếp xúc
với đô thị mới hình thành mà nó đã có từ trước, trước những trải nghiệm của ta,
trước cả sự ra đời của ta, của cha ông ta, nó nằm ở tầng sâu của vô thức xã hội.
Những kinh nghiệm cá nhân của chúng ta với thị thành chỉ là sự nối dài, bồi đắp
thêm, cũng có khi đối thoại và làm phong phú thêm cho ý niệm xã hội đó. Chúng tôi
gọi nó là vô thức đô thị- ở đó thành thị và nông thôn, từ hai miền không gian có
nhiều đặc điểm trái ngược đã nâng lên thành trung tâm của một hệ thống ý niệm và
cảm thức hoàn toàn đối lập nhau. Trong tiểu luận nổi tiếng Nông thôn và thành thị
(The country and the city), Raymond Williams ngay từ đầu đã khẳng định “Nông
12
thôn và thành thị là những từ ngữ đầy quyền lực và không có gì đáng ngạc nhiên khi
chúng ta nhớ ra nó hàm chứa bên trong bao nhiêu kinh nghiệm của cộng đồng” [55,
1]. Ông khẳng định “Trên cơ sở sự định cư thực tế, cái mà lịch sử sẽ làm biến dạng
đi một cách đáng ngạc nhiên, những cảm thức quyền lực tập hợp lại và trở nên phổ
biến. Trong từ nông thôn tập trung ý niệm về phương diện tự nhiên của đời sống: về
sự thanh bình, hồn nhiên, trong trẻo và thuần khiết. Trong từ thành phố dồn nén ý
tưởng về trung tâm của những thành tựu: về học tập, giao tiếp và ánh sáng. Những
liên tưởng đối nghịch mang tính quyền lực cũng liên tục phát triển: thành phố được
xem như là không gian của sự ồn ào náo nhiệt, và tham vọng trong khi nông thôn là
nơi lạc hậu, không gian của sự giới hạn và là miền đất bị lãng quên.” [55, 1]
Từ những đặc điểm mang tính vật chất, những ý niệm về nông thôn và thành
thị vẫn không ngừng sản sinh và từ bao giờ con người đã quen nhìn nhận chúng như
là những đặc tính tự nhiên. Thành thị- nông thôn là sự đối lập ánh sáng và bóng tối.
Không gian thị thành luôn tràn ngập ánh sáng, buổi tối nơi phố phường thậm chí
còn lung linh hơn bởi những biển hiệu và hệ thống đèn chiếu sáng. Trong khi đó, ở
vượt ra ngoài bóng tối để tìm kiếm ánh sáng, thoát ra khỏi sự giới hạn để tìm đến tự
do, theo đuổi khát vọng. Thành phố luôn hiện ra như một chân trời mơ ước, một
miền đất hứa, đích đến mời gọi khát khao dấn thân đô thị. Nhân vật Rastinhac trong
bộ tiểu thuyết Tấn trò đời đã rời bỏ quê hương đến Paris, đầu tiên ngưỡng vọng về
nó như một quầng sáng xa hoa sau đó từng bước từng bước tìm cách nhập vào trong
quầng sáng đó, trở thành một phần trong giới thượng lưu ở thành phố này. Đầu thế
kỉ XX, rất nhiều nhà thơ Mới đã rời làng quê lên đô thị, “Bỏ vườn cam, bỏ mái
gianh/ Tôi đi dan díu với kinh thành” (thơ Nguyễn Bính) ôm giấc mơ xây đắp
“mộng huy hoàng”. Rời nông thôn lên đô thị là phản ứng tâm lý tất yếu của con
người từ bóng tối hướng về ánh sáng, từ nơi lạc hậu hướng về chốn văn minh.
Nhưng trong đó còn có cả một giấc mơ đô thị, giấc mơ đổi đời của những thôn dân
thậm chí là cả một cơn cuồng say đô thị- ngưỡng vọng sự xa hoa và một thứ khao
khát đến vĩ cuồng được thuộc về nơi đó. Với miền không gian có tính chất hai mặt
như thế, tất yếu sẽ có những người đô thị tự hào một cách kín đáo, cũng có thể kiêu
hãnh một cách phô phang về cái mác “thị dân” của mình, cũng có những người
chán ngán sự phức tạp, ngổn ngang, bất trắc, những giá trị nhân tạo và đời sống
cuồng quay nơi thị thành. Nếu như hành động rời nông thôn lên thành thị không
14
đơn thuần là hành động dịch chuyển qua những miền không gian thì hành động rời
thành thị tìm về nông thôn cũng chứa đựng trong nó nhiều ý niệm tinh thần. Đó là
nỗi chán chường đô thị, quan niệm thành phố là nơi ở tạm, là chốn vong thân, nông
thôn mới là nơi trở về. Cảm giác bất an mà thành phố thời hiện đại mang lại còn gắn
với những bí mật, những âm mưu, thủ đoạn, những màn kịch che đậy những tham
vọng tăm tối… Trong tâm thức xã hội nảy sinh thêm ý niệm về sự tha hóa đô thị và
tất nhiên cả ý niệm về nông thôn tha hóa, nhất là khi đối diện với sự xâm lăng của
đô thị. Như vậy, thành phố không chỉ là sự tập hợp, phân hóa cảnh quan không gian
gắn với chức năng của chúng trong đời sống của cư dân đô thị, thành phố còn là sự
huyền thoại. Phần lịch sử đó là kí ức chung của cả cộng đồng hay là phần kí ức tái
tạo được cả cộng đồng chấp nhận để rồi từ đó mỗi biến cố, mỗi dấu tích đều gợi
nhắc một hình dung, một cảm thức giống nhau. Trong thành phố đang hiện hữu của
hôm nay có bóng dáng của thành phố ngày hôm qua, thành phố từ hàng trăm thậm
chí hàng nghìn năm trước và tiềm tàng cả những giấc mơ về thành phố của tương
lai. Trong cuốn Hà Nội tiểu sử một đô thị, tác giả đã trích lại ý kiến của Alan
Balfour trong cuốn Tính chính trị của trật tự (The politics of orders) bàn về sự phức
tạp của trong diện mạo cũng như trong ý niệm về thành phố: “Sự hiện diện của quá
khứ đan xen bền chặt với niềm hứa hẹn của tương lai. Không có giấc mơ trong sự
biệt lập, tất cả đều được phản ánh và tác động trong một vòng xoáy hỗn độn của sự
tồn tại đã qua. Sự tích tụ này, trên mảnh đất và trong tâm trí đã gây nên một sự lẫn
lộn không thể nào hòa hợp được trong trật tự các sự vật” [45, 10]. Sự tồn tại đồng
thời trên nhiều khung tham chiếu không gian- thời gian khiến cho thành phố giống
một bức tranh chồng hình, và bất kì hình ảnh nào của thành phố cũng chập chờn
giữa bao nhiêu phiên bản.
Tuy nhiên thành phố không chỉ gắn với kinh nghiệm của cộng đồng mà còn
có mối quan hệ rất đặc biệt với những kinh nghiệm cá nhân, đặc biệt là trải nghiệm
của cá nhân với đời sống đô thị. Hơn bất kì miền không gian nào, thành thị là nơi
giải phóng mạnh mẽ những khát vọng cá nhân của con người, nhịp sống đổi thay
nhanh chóng càng khiến thành phố không bao giờ là một ý niệm thuần nhất, trùng
khít trong trải nghiệm của mỗi người. Với mỗi người nó gắn bó một khác. Luôn có
sự vênh lệch khi đặt thành phố trong kí ức cộng đồng bên cạnh thành phố trong hồi
tưởng của mỗi cá nhân và kí ức của mỗi cá nhân cũng lưu lại những ấn tượng rất
16
khác biệt về cùng một thành phố. Trên nền thành phố như chúng ta thấy, như chúng
ta biết có thành phố tuổi thơ của mỗi người, có thành phố trong dòng hồi tưởng đứt
nối của một trí nhớ đã nhiều sai lệch, có thành phố ngập tràn tình yêu, có thành phố
chúng ta nó vẫn hiện diện kiêu hãnh “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không
thanh lịch cũng người Tràng An”. Một thành phố luôn luôn được tạo nên bởi phần
diện mạo vật chất và diện mạo tinh thần. Tuy nhiên, phần diện mạo vật chất không
đơn giản chỉ là phần nổi, là lớp vỏ bên ngoài ẩn chứa bên trong diện mạo tinh thần
và diện mạo tinh thần cũng không chỉ là phần chìm giấu mình ở bên trong. Chúng
không phải là hai phần tách rời, được đặt cạnh nhau, kết nối một cách lỏng lẻo. Mối
quan hệ giữa hai phần trong diện mạo một thành phố là sự gắn bó chặt chẽ mang
tính triết học. Ở đó diện mạo vật chất không thuần túy là hình thức mà là hình thức
mang tính tinh thần và cái tinh thần cũng không thuần túy là phần linh hồn vô hình,
trừu tượng, khó nắm bắt mà nó đã tìm được cách hiện diện trong không gian vật
chất cụ thể của thành phố. Cái tinh thần còn bao trùm lên toàn bộ không gian, một
cách vô thức chi phối đến sự cải tạo cảnh quan đô thị của chúng ta. Không gian
sống của chúng ta chính là sự chuyển hóa, sự hữu hình hóa những ý niệm tinh thần
và bất cứ sự thay đổi nào trên diện mạo vật chất của thành phố cũng ngay lập tức
sản sinh ra những cảm thức mới mẻ. Thành phố là một hiện tượng phức tạp tự thân,
vì thế sự xuất hiện của thành phố trong sáng tác văn chương sẽ không đơn giản chỉ
là phản ánh một không gian thực trên trang sách.
1.1.2. Diễn ngôn- những vấn đề chung
Thế kỉ XX là thế kỉ chứng kiến nhiều biến động trên hầu hết các lĩnh vực của
đời sống xã hội và đặc biệt là văn hóa, tư tưởng. Từ khoảng giữa những năm 1960
đến nay, có một hướng nghiên cứu thu hút được sự chú ý nhiều nhất của các học giả
và cũng có ảnh hưởng quan trọng, toàn diện đến nhiều ngành nghiên cứu khoa học
xã hội thậm chí dẫn đến sự phát triển của những nghiên cứu liên ngành như triết học
khoa học, triết học nghệ thuật, sự kết nối giữa nghệ thuật và khoa học, khoa học và
tôn giáo… Đó chính là hướng nghiên cứu diễn ngôn. Trong bài viết mang tính chất
tổng thuật về hướng nghiên cứu diễn ngôn Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại: Kinh
nghiệm phân loại, tác giả O. F. Rusakova đã nhận xét: “Suốt cả thế kỉ XX, các khoa
nghiên cứu diễn ngôn đang mở ra rất nhiều hướng đi tiềm năng cho nghiên cứu văn
học nói riêng và nghiên cứu văn hóa, xã hội ở Việt Nam nói chung.
1.1.2.1.
Bước ngoặt diễn ngôn.
Lí thuyết diễn ngôn thực sự đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng không chỉ
trong lĩnh vực nghiên cứu mà còn làm thay đổi căn bản cái nhìn của chúng ta về thế
19
giới xung quanh. Nhiều nhà nghiên cứu còn đánh giá bước ngoặt diễn ngôn như
một sự thay đổi hệ hình tri thức và tư duy của con người. Trước hết, việc thừa nhận
thuật ngữ diễn ngôn đã thay đổi quan niệm của chúng ta về bản thể. Sự thay đổi
không chỉ diễn ra trong nhận thức của con người về bản thế thế giới mà còn diễn ra
trong chính nhận thức của chúng ta về bản thân mình. Quan niệm về nhận thức của
chúng ta từ trước đến nay thường gắn với lí thuyết phản ánh. Theo đó, thế giới bên
ngoài tồn tại khách quan, hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan
của con người, tồn tại xã hội là cái có trước, ý thức ra đời sau, nhằm nhận thức
những yếu tố có trong thực tại. Lí thuyết phản ánh nhìn nhận tồn tại xã hội và ý
thức xã hội trong mối quan hệ nhân quả: tồn tại xã hội là nguyên nhân, là nơi khởi
sinh nhu cầu nhận thức, là cơ sở cho quá trình nhận thức còn ý thức xã hội chính là
kết quả của quá trình nhận thức đó. Trong mối quan hệ này, thực tế không chỉ có vai
trò định hình nhận thức của chúng ta mà còn là nơi kiểm chứng tính đúng đắn của
những nhận thức đó. Những tri thức được hình thành trong quá trình con người
khám phá, tìm hiểu thế giới đều phải đảm bảo phản ánh đúng đắn chân thực những
sự vật, hiện tượng đang diễn ra. Những quy luật được đúc kết sẽ mãi mãi ở dạng giả
thuyết mà không được thừa nhận nếu như không chứng minh được sự phù hợp với
các quá trình hoạt động của thế giới trong thực tế. Chỉ khi ấy, những tri thức và quy
luật mới được công nhận là chân lí. Trong lí thuyết phản ánh, sự phù hợp, tương
sử, chân lý. Không có hiện thực tuyệt đối mà chỉ có hiện thực của diễn ngôn. Không có
chân lý tuyệt đối, chân lý là những gì được xem là chân lý, dược tin là chân lý. Và lịch
sử không chỉnh xác là những gì đã xảy ra, nó chỉ là một trong vô số diễn ngôn về quá
khứ, một khả năng được cộng đồng đặt vào đó nhiều niềm tin nhất.
Cũng giống như nhận thức về thế giới, nhận thức về bản thân của chúng ta
không bao giờ nằm ngoài ngôn ngữ. Các nhà triết học ngôn ngữ đã chỉ cho chúng ta
thấy rằng “ngôn ngữ là ngôi nhà của tồn tại”, chúng ta gọi tên mình, định nghĩa
mình, tất cả đều bằng ngôn ngữ, chúng ta tồn tại trong một thế giới được tạo nên bởi
ngôn ngữ. Khi thừa nhận tính diễn ngôn, con người đồng thời nhận ra thế giới xung
quanh bao bọc sự tồn tại của mình là không tuyệt đối và những ý niệm về bản thể,
cái tôi cũng không tuyệt đối. Bản thế cũng chỉ là một kiến tạo của ngôn ngữ mà
chúng ta tin rằng có và cái tôi cũng chỉ là diễn ngôn chứ không phải sự thật.
Hướng nghiên cứu diễn ngôn đồng thời tạo ra bước ngoặt quan trọng trong
nhận thức của con người về ngôn ngữ. Ngôn ngữ không còn đơn thuần được xem là
21
phương tiện chuyên chở ý nghĩa, một công cụ biểu đạt thông tin một cách chính
xác, chân thực trong hoạt động giao tiếp. Ngược lại, ngôn ngữ là một thứ “công cụ”
đầy quyền năng, một thiết chế quyền lực có khả năng can thiệp rất sâu, chi phối,
thậm chí giới hạn các hành vi biểu đạt của con người. Từ khoảng giữa thế kỉ XIX
trở về trước, con người đặt niềm tin trọn vẹn ở ngôn ngữ như là phương tiện có khả
năng biểu đạt một cách chân thực và chính xác những suy nghĩ, tình cảm của con
người. Không mảy may có bất kì sự nghi ngờ nào đối với sự trong suốt của ngôn
ngữ. Khi viết bộ tiểu thuyết đồ sộ Tấn trò đời với tham vọng miêu tả chính xác diện
mạo Paris với những cảnh đời nông thôn, những cảnh đời đô thị và khi đưa ra nhận
xét rằng tác phẩm này đã đem đến thông tin đầy đủ, chính xác và thậm chí phong
phú hơn cả những tài liệu chính trị, kinh tế, xã hội học cộng lại, cả Balzac và Engels
đều tin vào sức mạnh truyền tải thông tin của ngôn ngữ. Nhưng từ nửa cuối thế kỉ
giống như một bản chất trôi tuột hết qua lời nói của nhà văn, mà không đem lại cho
lời nói ấy một hình thức nào hết, thậm chí cũng không nuôi dưỡng lời nói ấy: nó
như một địa hạt trừu tượng của các chân lý, mà chỉ bên ngoài đó mới bắt đầu lắng
lại tỷ trọng của một lời nói đơn độc. Nó bao bọc toàn bộ sự sáng tạo văn học gần
như kiểu bầu trời, mặt đất và sự nối kết giữa hai cái ấy phác ra cho con người một
chốn cư trú thân thuộc. Nó là một phạm vi hơn là một kho dự trữ chất liệu, tức vừa
là một giới hạn vừa là một nơi chốn, tóm lại một khoảng rộng yên ổn của một kết
cấu. Ðúng ra nhà văn chẳng rút ra được gì từ đấy cả: đối với anh ta ngôn ngữ giống
như một đường kẻ ngăn mà vi phạm vào đó có thể làm bật ra một siêu tính chất của
hành ngôn: nó là sân bãi của một hành động, là xác định và chờ đợi một khả năng.
Nó không là nơi diễn ra sự dấn thân xã nội, mà chỉ là một phản xạ không lựa chọn,
là tài sản chung của mọi người chứ không phải của các nhà văn, nó nằm ngoài nghi
thức của văn chương, nó là một sự vật có tính chất xã hội do định nghĩa chứ không
phải do lựa chọn; không có gia công trước, không ai có thể lồng sự tự do của nhà
văn của mình vào trong khoảng mờ đục của ngôn ngữ, bởi vì toàn bộ Lịch sử đã
chiếm hết cái khoảng đó, trọn vẹn và trơn phẳng, theo kiểu một Bản chất” [2]
Sự thay đổi trong quan niệm về nhận thức và ngôn ngữ tất yếu dẫn đến sự
thay đổi trong quan niệm của con người về văn chương. Ảnh hưởng từ lí thuyết
phản ánh, suốt một thời gian dài văn chương được quan niệm như là một hình thái ý
thức xã hội. Mặc dù được nhìn nhận như một dạng thức phản ánh với nhiều nét đặc
23
thù của tư duy nghệ thuật cũng như những đặc điểm về chất liệu, khác với chính trị,
tôn giáo, khoa học… nhưng về cơ bản, chúng ta vẫn hay quy chiếu văn chương về
thực tại, vẫn lấy khả năng khám phá, phản ánh hiện thực ra làm một trong những
tiêu chí quan trọng đánh giá tác phẩm văn chương. Bước ngoặt diễn ngôn khiến
chúng ta phải từ bỏ thói quen đánh giá văn chương từ góc độ phản ánh và xác định
lại bản chất của nó. Diễn ngôn ngay lập tức làm lung lay những định nghĩa của
nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Chúng tôi sẽ lược thuật lại các hướng tiếp
cận thuật ngữ diễn ngôn và đi sâu vào những phương diện có liên quan trực tiếp đến
quá trình tạo lập và diễn giải, sự khởi sinh và được chấp nhận của diễn ngôn về
thành phố trong văn học nói chung và diễn ngôn về thành phố Hà Nội trong văn học
miền Bắc Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến 1975.
Trước hết, trong các từ điển ngôn ngữ phổ thông, diễn ngôn thường được
hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, diễn ngôn là sự giao tiếp bằng tiếng nói (cuộc trò
chuyện, lời nói, bài phát biểu…). Thứ hai, diễn ngôn là sự nghiên cứu tường minh,
có hệ thống về một đề tài nào đó (luận án, luận văn, các sản phẩm của suy luận…)
Cả hai định nghĩa thông dụng này đều xem diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp ngôn
ngữ. Trong hai trường hợp này diễn ngôn là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ, được đồng nhất với văn bản (bao gồm cả văn bản nói và văn bản viết).
Cũng chính từ cách hiểu phổ biến này mà hướng phân tích diễn ngôn thường bị
nhầm lẫn về mặt bản chất với phân tích văn bản. Văn bản là khái niệm được khai
thác sâu sắc bởi hướng tiếp cận của chủ nghĩa cấu trúc, trong tương quan phân biệt
với tác phẩm. Văn bản là hình thức tồn tại của tác phẩm, nhấn mạnh khái niệm văn
bản là nhấn mạnh đến cấu trúc nội tại của tác phẩm, hệ thống tổ chức ngôn ngữ, tổ
chức hình tượng nhằm chuyển tải được ý nghĩa. Văn bản chỉ là dạng thức tồn tại cụ
thể của diễn ngôn mà thôi. Và một diễn ngôn không chỉ tồn tại trên một văn bản,
diễn ngôn là hiện tượng xuyên văn bản, liên văn bản, thậm chí siêu văn bản. Để
nhận diện một diễn ngôn, cần có cái nhìn xuyên qua, kết nối các văn bản có cùng
một nội dung biểu đạt, cùng hướng tiếp cận đối tượng, sử dụng cùng một hệ biểu
tượng… Sự kết nối này cũng không phải là một phép cộng giản đơn cho ra kết quả
là diễn ngôn bằng các văn bản cộng lại. Đó phải là sự nhìn nhận văn bản trong tính
liên kết và liên tục tương tác với nhau và tương tác với các yếu tố ngoài văn bản có
liên quan đến quá trình tạo lập văn bản. Trong bài biết Quan niệm diễn ngôn như là
yếu tố siêu ngôn ngữ của nghiên cứu văn học, nhà nghiên cứu Juri Rudnev đã trích
lại ý được diễn giải trong từ điển của Arutiunova: “diễn ngôn là văn bản có tính liên
25