i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN NGỌC TUẤN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
RỪNG TRỒNG SA MỘC (Cunninghamia lanceota Hook)
TẠI HUYỆN HOÀNG SU PHÌ TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Chuyên ngành: Lâm học
ii
Thái Nguyên 2016
iii
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN NGỌC TUẤN
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
RỪNG TRỒNG SA MỘC (Cunninghamia lanceota
Hook)
TẠI HUYỆN HOÀNG SU PHÌ TỈNH HÀ GIANG
vi
LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp "Nghiên cứu thực trạng phát
triển rừng trồng Sa mộc (Cunninghamia lanceolata Hook) tại huyện
Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang” đã hoàn thành. Trước hết tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn tới Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, quý thầy giáo, cô giáo
trong và ngoài trường đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình học
tập và thực tập làm luận văn tốt nghiệp.
Nhân dịp này, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những
sự giúp đỡ quý báu đó, đặc biệt tới PGS. TS Trần Quốc Hưng là người
luôn tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Bên cạnh đó, tôi cũng không quên gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến
Ban lãnh đạo, cùng tập thể cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ, phòng Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn, UBND xã Bản Péo, xã Nậm Ty huyện Hoàng
Su Phì, Ban lãnh đạo Trường Cao đẳng nghề tỉnh Hà Giang và bạn bè đồng
nghiệp đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong thời gian học
tập và hoàn thành luận văn.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả luôn luôn cố gắng hết sức
mình, nhưng chắc chắn những thiếu sót và hạn chế là điều không thể tránh
khỏi, tôi rất mong nhận được sự góp ý quý báu từ phía các nhà khoa học
cùng bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày ........ tháng ...... năm 2016
TÁC GIẢ
vii
4. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH.................................................................................................. 4
4.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu.......................................................................................... 4
4.2. Thời gian nghiên cứu........................................................................................................ 4
CHƯƠNG II
..................................................................................................
25
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
...................................
25
2.1. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU............................................................................................................ 25
2.1.1. Đánh giá thực trạng trồng rừng Sa mộc tại huyện Hoàng Su Phì ............................... 25
2.1.2. Đánh giá sinh trưởng và chất lượng rừng trồng Sa mộc tại địa bàn nghiên cứu .........25
2.1.3. Đánh giá ảnh hưởng của chính sách và thị trường tới phát triển rừng trồng Sa mộc tại
địa phương............................................................................................................................ 25
2.1.4. Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của trồng rừng Sa mộc. ................... 25
2.1.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển trồng rừng Sa mộc tại địa phương ............25
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..................................................................................................... 26
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
...........................................
35
- Hạt giống phải lấy giống ở rừng giống chuyển hóa đã được công nhận. Những cây được chọn
giống phải đủ từ 10 năm trở lên. Hạt giống đảm bảo tiêu chuẩn có độ sạch 85-95%, mỗi kg hạt có
D1.3:
Đường kính thân cây tại vị trí 1,3m
FAO:
Tổ chức nông lương quốc tế
Hvn min:
Giá trị chiều cao vút ngọn nhỏ nhất
ix
Hvn max:
Giá trị chiều cao vút ngọn lớn nhất
Hvn:
Chiều cao vút ngọn
M:
Mật độ
NĐ CP:
Nghị định của chính phủ
Biểu điều tra đánh giá sinh trưởng
Biểu điều tra đánh giá độ dốc và thành phần cơ
giới đất
30
30
Biểu 2.3:
Biểu điều tra, đánh giá độ tàn che và độ che phủ
31
Bảng 2.4:
Thang điểm độ dốc và thành phần cơ giới đất
32
Bảng 2.5:
Bảng 2.6:
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:
Bảng 3.3:
Bảng 3.4:
Thang điểm về độ tàn che và độ che phủ của rừng
trồng Sa mộc
Tổng hợp điểm cấp phòng hộ rừng trồng
Chi phí sản xuất cho 1 ha Sa mộc ( 1000đ )
56
Bảng 3.8:
Lợi nhuận kinh tế từ 1 ha Sa mộc Bán theo m3
57
Bảng 3.9:
Lợi nhuận kinh tế từ 1 ha Sa mộc bán theo cây
58
xi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1:
Bản đồ hành chính huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang
22
Hình 2.1:
Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài
năm qua.
Trước tình hình đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây
dựng "Đề án Tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp" với mục tiêu phát triển lâm
nghiệp bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; từng bước chuyển
đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng
lực cạnh tranh. Từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu, góp phần xóa đói giảm nghèo cải thiện sinh kế…
2
Hiện nay công tác phát triển rừng kinh tế trên địa bàn Hà Giang nói
riêng v à các tỉnh miền núi phía bắc nói chung vẫn còn gặp rất nhiều khó
khăn v à tồn tại, ảnh hưởng đến quá trình phát triển rừng kinh tế. Chưa có
định hướng phát triển và kế hoạch cụ thể. Việc xác định các mục tiêu và
các yếu tố kỹ thuật phù hợp cho khu vực còn chưa rõ ràng, từ đó dẫn đến
chất lượng rừng trồng còn thấp nên chưa thể mang lại hiệu quả kinh tế
thiết thực. Bên cạnh đó, công tác lựa chọn loài cây cho một số rừng trồng
chưa thật phù hợp với thổ nhưỡng và tiểu vùng khí hậu dẫn đến rừng phát
triển kém. Các cơ quan chuyên môn chưa làm tốt công tác tư vấn cho người
dân và nhà đầu tư trong việc lựa chọn loài cây trồng phù hợp với điều kiện
thổ nhưỡng và tiểu vùng khí hậu của từng vùng sinh thái, dẫn đến nhiều
diện tích rừng sau khi trồng 3 – 5 năm không phát triển được, gây thiệt hại
về kinh tế và giảm lòng tin của các nhà đầu tư.
Cơ cấu cây trồng của rừng kinh tế chưa đa dạng, bên cạnh đó tình
trạng sử dụng đất của các hộ gia đình trong quá trình trồng rừng kinh tế
còn manh mún, nhỏ lẻ không theo quy hoạch. Tình trạng trồng rừng manh
mún, nhỏ lẻ không theo quy hoạch chung sẽ gây nhiều khó khăn cho quá
trình khai thác rừng sau này. Chế biến lâm sản trên địa bàn của tỉnh tuy phát
triển nhưng chủ yếu là tự phát, chưa bền vững, thiếu quy hoạch và tầm
nhìn chiến lược; các doanh nghiệp chế biến lâm sản chưa xây dựng được
tuổi:
+ Tuổi trung bình thường khai thác sử dụng 13 tuổi;
+ Tuổi khai thác gỗ lớn 21 tuổi.
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu hiện trạng trồng rừng, các chỉ tiêu sinh trưởng,
4
hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường, thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ Sa
mộc và ảnh hưởng của chính sách phát triển rừng trồng đến người dân của
huyện Hoàng Su Phì.
4. Địa điểm và thời gian tiến hành
4.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu
Xã Nậm Ty và xã Bản Péo, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang.
4.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 7 năm 2016.
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Để nâng cao năng suất và duy trì tính ổn định, bền vững của rừng
trồng kinh tế,nên các nhà khoa học ở các nước trên thế giới đã quan tâm
nghiên cứu từ rất sớm, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu điển
hình thuộc các chuyên đề sau đây:
1.1.1. Những nghiên cứu về lập địa
Tập hợp kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chức
Nông lương Quốc tế (FAO, 1984) đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng của
rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất
rõ vào bốn nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: 1) khí hậu,
2) địa hình, 3) loại đất, 4) hiện trạng thực bì. Điển hình là các công trình
Bằng con đường chọn lọc nhân tạo, Brazil đã chọn được giống Eucalyptus
grandis đạt tới 55m3/ha/năm sau 7 năm trồng, ở Swaziland cũng đã chọn
đựơc giống Pinus patala sau 15 năm tuổi đạt 19m3/ha/năm (Pandey, 1983)
[37]. Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống E. grandis đạt từ 35
40m3/ha/năm, giống E. urophylla đạt trung bình tới 55m3/ha/năm, có nơi lên
6
đến 70m3/ha/năm (Campinhos và Ikenmori, 1988) [30].
1.1.3. Những nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ
Mật độ trồng rừng ban đầu là một trong những biện pháp kỹ thuật
lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng khá rõ đến năng suất rừng trồng. Vấn
đề này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau
trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình như: Công trình nghiên cứu của
Evans, J.(1992) [32], tác giả đã bố trí 4 công thức mật độ trồng khác nhau
(2985 ;1680 ;1075 và 750 cây/ha) cho Bạch đàn E.deglupta ở Papua New
Guinea, số liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân
của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng
tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ, có nghĩa là
rừng trồng ở mật độ thấp tuy tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng
trữ lượng gỗ cây đứng của rừng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng mật
độ cao.
Như vậy, mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến năng suất, chất lượng
sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì thế cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh
doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp.
1.1.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng và
năng suất rừng trồng
Bón phân cho cây trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm
canh nhằm nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng đã được nhiều nhà
khoa học trên thế giới quan tâm, điển hình như công trình nghiên cứu của
Giảm thuế đánh vào các lâm sản;
Đầu tư tái chính cho tư nhân trồng rừng;
Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát
triển trồng rừng.
8
Các tác giả trên thế giới cũng quan tâm nhiều đến các hình thức
khuyến khích trồng rừng. Điển hình có những nghiên cứu của Ashadi và
Nina Mindawati (2004) [28] ở Indonesia... Qua những nghiên cứu của mình,
các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề được xem là quan trọng, khuyến
khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc gia Đông Nam Á chính là:
Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất;
Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ trồng rừng;
Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân.
Tóm lại: Điểm qua những vấn đề nghiên cứu trên thế giới có liên
quan cho thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu khá sâu và công phu. Tuy
các công trình nghiên cứu ở các nước trên thế giới đã giải quyết khá đầy
đủ các vấn đề có liên quan, nhưng hầu hết các công trình được nghiên cứu
trong những hoàn cảnh sinh thái và các điều kiện kinh tế kỹ thuật hết sức
khác nhau nên không thể ứng dụng một cách máy móc vào điều kiện cụ thể
của nước ta nói chung cũng như ở Hà Giang nói riêng.
1.2. Ở Việt Nam
Cho đến nay ngành lâm nghiệp nước ta đã có những đổi mới đáng
kể. Cùng với những đổi mới về công tác quản lý, các hoạt động nghiên cứu
khoa học về xây dựng và phát triển rừng cũng được quan tâm. Các chương
trình dự án trồng rừng với quy mô lớn được thực hiện trên khắp cả nước
với nhiều mô hình rừng trồng sản xuất được thử nghiệm và phát triển,
nhiều biện pháp kỹ thuật đã được đúc rút và xây dựng quy trình, quy phạm
phục vụ đắc lực cho công tác trồng rừng, trong đó có trồng rừng sản xuất.
là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng để nâng cao năng suất rừng
trồng.
10
1.2.2. Nghiên cứu về giống
Công tác giống cây rừng trong những năm gần đây phục vụ cho sản
xuất trên phạm vi cả nước đã đạt được những kết quả rõ rệt, điển hình là
những công trình trong nghiên cứu của Trung Tâm Nghiên cứu giống cây
rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Đặc biệt là những công
trình nghiên cứu của các tác giả Lê Đình Khả (1999) [ 6], Nguyễn Hoàng
Nghĩa (2001) [14] đã nghiên cứu tuyển chọn các dòng Keo lai tự nhiên,
Bạch đàn có năng suất cao và khả năng kháng bệnh. Hơn nữa, đã lai giống
nhân tạo thành công cho các loài Keo và Bạch đàn, kết quả đã chọn tạo ra
các dòng lai có khả năng sinh trưởng gấp từ 1.52.5 lần các giống bố mẹ,
năng xuất rừng trồng thử nghiệm ở một số vùng đạt từ 2030m 3/ha/năm, có
nơi đạt tới 40m3/ha/năm;
Qua nhiều năm nghiên cứu, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã
tổng hợp và đề xuất được 100 loài cây bản địa phục vụ các chương trình
trồng rừng, trong đó có nhiều loài đã được đưa và sản xuất đại trà và có
quy mô lớn như: Quế, Mỡ, trẩu, Sở, Thông đuôi ngựa, Samu... nhiều loài
khác với quy mô nhỏ hơn như Lim xẹt, Lát hoa, Giổi xanh, Dó giấy...
(Viện KHLN Việt Nam, 2002) [21];
Trong khoảng 10 năm trở lại đây công tác nghiên cứu giống cây rừng
ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhiều giống TBKT và
giống quốc gia đã được công nhận, khả năng sinh trưởng của các giống này
vượt trội từ 50100% về thể tích so với các giống bố mẹ. Đặc biệt, gần
đây nhiều tác giả đã đi sâu chọn giống theo hướng chất lượng. Trên cơ sở
các giống có khả năng sinh trưởng nhanh, các tác giả tiếp tục chọn giống
theo hướng kháng bệnh, điển hình là công trình nghiên cứu của Nguyễn
12
5m3/ha/năm. Ngược lại, trên đất dốc chưa bị thoái hoá ở Đông Nam Bộ,
Phạm Thế Dũng và cộng sự (2005) [19] đã thử nghiệm 2 phương pháp làm
đất thủ công và cơ giới để trồng rừng Keo lai, kết quả cho thấy khả năng
sinh trưởng của Keo lai ở phương pháp làm đất thủ công lại tốt hơn
phương pháp làm đất cơ giới, sau 3 năm tuổi ở công thức làm đất cơ giới
chỉ đạt từ 8,74 8,87 cm về đường kính và 9,82 9,92 m về chiều cao,
nhưng ở công thức làm đất thủ công lại đạt với các trị số tương ứng là
9,40 10,38 cm và 11,3311,71 m. Tác giả có nhận xét rằng trên đất dốc
còn tơi xốp, sử dụng cơ giới để xử lý thực bì, san ủi gốc cây và cày toàn
diện sẽ làm cho đất bị xói mòn, rửa trôi và thúc đẩy quá trình thoái hoá
nhanh hơn. Vì vậy, phải tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai và địa hình để xác
định phương pháp làm đất thích hợp.
1.2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng
trồng
Bón phân cho cây rừng cũng là một trong những biện pháp thâm canh
ở nước ta đã được áp dụng trong khoảng 1015 năm trở lại đây, bón phân
nhằm bổ sung dinh dưỡng cho đất và hỗ trợ cho cây trồng sinh trưởng
nhanh trong giai đoạn đầu. Đặc biệt, bón phân chuồng không những cải
thiện được hoá tính mà còn cải thiện được lý tính của đất, nổi bật là công
trình bón phân cho Keo lai ở Cẩm Quỳ (Ba vìHà Tây cũ) của Lê Đình Khả
và cộng sự (1999) [6]. Ngày nay do nguồn phân hữu cơ có hạn, để bón cho
rừng trồng thông thường là các loại phân khoáng tổng hợp như NPK, supe
lân hoặc phân vi sinh hữu cơ... và thường được dùng để bón lót và bón thúc
cho rừng trồng trong từ 12 năm đầu, có thể điểm qua một số công trình
nổi bật nhất trong thời gian gần đây như công trình nghiên cứu của Đỗ
Đình Sâm (2001) [4], tác giả đã bố trí 14 công thức phân khác nhau cho Keo
14
đều thống nhất rằng phân bón có ảnh hưởng khá rõ rệt đến khả năng sinh
trưởng của các loài cây trồng, nhất là các loài cây trồng rừng nguyên liệu
công nghiệp. Tuy nhiên, mỗi loài cây trên mỗi dạng lập địa có nhu cầu phân
bón khác nhau.
1.2.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến năng suất rừng
trồng
Mật độ là một trong những yếu tố quyết định năng suất của rừng
trồng, Mật độ quá cao sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng, nhưng
mật độ thấp sẽ lãng phí đất, phải tốn công chăm sóc và diệt cỏ dại. Hơn
nữa, mật độ thấp cành nhánh phát triển mạnh sẽ ảnh hưởng đến chất
lượng gỗ nguyên liệu. Mật độ trồng ban đầu như thế nào thì có hiệu quả
nhất? Vấn đề này phải căn cứ vào mục đích trồng rừng, đồng thời tuỳ
thuộc vào lập địa nơi gây trồng. Tuy nhiên, vấn đề này ở trong nước vẫn
còn ít các công trình nghiên cứu, theo kinh nghiệm ở một số công ty trồng
rừng nguyên liệu hiện nay thường trồng từ 16602500 cây/ha đối với các
loài cây mọc nhanh và trung bình, mật độ này đã phải là tối ưu chưa? Câu
hỏi này vẫn chưa có câu trả lời một cách có khoa học;
Quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp nguyên liệu giấy
ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã quy định cho một số loài Thông, Keo lá to
và Bồ Đề mật độ trồng từ l200 l500cây/ha, Bạch đàn là l000 cây/ha, quy
trình trồng rừng thâm canh Bạch đàn E.urophylla cũng quy định mật độ
trồng từ 1110 l660 cây/ha. Quy phạm kỹ thuật trồng rừng Tếch quy định
trồng thuần loài từ 200 2500 cây/ha, trồng xen có thể trồng từ l000
l250cây/ha (Vụ KHCN&CLSP) (2001) [26]. Tuy các quy trình quy phạm
trên đây đã quy định các loại mật độ cụ thể cho một số loại rừng trồng
thâm canh, nhưng cũng chỉ mang tính chất tạm thời, nó còn phụ thuộc rất