TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN: TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------------

LÊ THỊ TUYẾT

TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN HUY THIỆP

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60.20.02.40

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Kim Phượng

HÀ NỘI, 2014


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Là một trong hai thành phần nghĩa quan trọng của câu, nghĩa tình thái luôn là vấn
đề nhận được sự quan tâm tìm hiểu chuyên sâu của giới nghiên cứu ngôn ngữ. Trong hệ
thống từ loại tiếng Việt có một nhóm từ có ý nghĩa rất lớn trong việc thể hiện nghĩa tình
thái, đặc biệt là những nội dung như thái độ, tình cảm, cách đánh giá của người nói đối
với vấn đề được nói tới hoặc đối với người đối thoại, đó là các tình thái từ.
Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng văn học mới lạ trong làng văn Việt Nam
sau 1975. Trong hệ thống ngôn từ được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng có sự góp mặt
không nhỏ của các tình thái từ và chúng đem lại những hiệu quả nghệ thuật đặc sắc
và giá trị cho tác phẩm của nhà văn. Từ đó, chúng tôi lựa chọn và tiến hành nghiên
cứu đề tài Tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.

- Làm rõ dấu hiệu nhận diện các tình thái từ đối với những trường hợp đa từ loại.
- Phân tích, miêu tả tình thái từ trong việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ, trong
mối quan hệ với đối tượng tham gia giao tiếp.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tình thái từ trong 46 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Chỉ nghiên cứu tình thái từ, không nghiên cứu các từ loại khác.
- Chỉ nghiên cứu tình thái từ trong Nguyễn Huy Thiệp truyện ngắn, Nxb Hội
nhà văn, 2005.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Thủ pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ
- Phương pháp phân tích diễn ngôn
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Về mặt lí luận
Làm sáng tỏ vai trò của tình thái từ đối với một văn bản cụ thể.
6.2. Về mặt thực tiễn
Vận dụng các kiến thức ngôn ngữ học để đọc - hiểu một tác phẩm văn học theo
hướng tích hợp.
7. Cấu trúc luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm có phần mở đầu, phần nội dung (gồm 3 chương),
kết luận. Ngoài ra, luận văn còn có mục lục, tài liệu tham khảo.

2


CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Vị trí của tình thái từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt
1.1.1. Hệ thống từ loại tiếng Việt

- Phân loại: tình thái từ gồm: trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ.
1.1.2.1. Trợ từ
* Khái niệm
Trợ từ là những từ dùng để “nhấn mạnh vào từ, cụm từ hay một câu nào đó mà
chúng đi kèm”. [36, 49].
* Phân loại
- Dựa vào chức năng ngữ nghĩa, trợ từ được chia thành:
+ Nhóm 1: Những trợ từ có chức năng thể hiện sự đánh giá về mặt số lượng,
mức độ: đến, tới, ngay, những, mãi, tận, có, độc, chỉ, mỗi…
+ Nhóm 2: Những trợ từ nhấn mạnh vào ý khẳng định: chính, đích, cả, quyết,
tịnh, quả, đích thị, đó, quả thực…
+ Nhóm 3: Những trợ từ nhấn mạnh vào ý phủ định: cóc, cóc khô, chẳng, đếch, qua…
+ Nhóm 4: Những trợ từ có chức năng bộc lộ sắc thái biểu cảm: cứ, lấy, rõ, mới…
- Dựa vào vị trí, trợ từ được chia thành hai nhóm:
+ Nhóm 1: Những trợ từ đi trước thành phần cần nhấn mạnh: ngay, cả, chính,
đến, những, tận,…
+ Nhóm 2: Những trợ từ đi sau thành phần cần nhấn mạnh: đó, đâu, đây, đấy,
qua...
* Đặc điểm:
- Vị trí: trợ từ thường đứng trước thành phần cần nhấn mạnh.
- Đặc điểm cú pháp: không đóng vai trò làm thành phần câu, có thể lược bỏ mà
không ảnh hưởng đến cấu trúc câu.
- Đặc điểm ngữ nghĩa, chức năng: thể hiện sự đánh giá của người nói đối với
nội dung của phát ngôn, người đối thoại hoặc một thực tế được nêu trong phát ngôn.
1.1.2.2. Tiểu từ tình thái
* Khái niệm
Tiểu từ tình thái “là những từ thường làm dấu hiệu chỉ rõ dấu hiệu mục đích
nói của câu (hỏi, ra lệnh, kể, cảm thán…) Chúng đứng ở cuối câu để biểu hiện các
sắc thái nghi vấn, cầu khiến hay cảm thán. Đồng thời chúng cũng bộc lộ thái độ, tình
cảm của người nói, người viết”. [36, 49]

+ Chức năng biểu thị hành động nói.
+ Chức năng định hướng lập luận.
1.1.2.3. Thán từ
* Khái niệm
Thán từ “là những từ dùng để bộc lộ trực tiếp xúc cảm của người nói. Chúng
không thể dùng làm tên gọi cho xúc cảm được mà chỉ làm dấu hiệu cho những xúc
5


cảm mà thôi. Chúng không thể làm thành phần cho cụm từ hay câu nhưng lại có thể
tách riêng khỏi câu để làm thành một câu riêng biệt”. [36, 50].
* Phân loại
- Các thán từ dùng để gọi đáp: ơi, vâng, dạ…
- Các thán từ dùng để bộc lộ cảm xúc: trời ơi, chao ôi…
* Đặc điểm:
- Thán từ không có mối liên hệ hình thức với những từ đi trước và đi sau,
không tham gia vào một cấu trúc ngữ, không làm thành tố của một ngữ và không làm
thành phần câu.
- Về mặt hình thức: thán từ có thể tách riêng để tạo câu.
- Đặc điểm ngữ nghĩa - chức năng: thán từ có chức năng dẫn xuất biểu hiện
cảm xúc, biểu lộ trực tiếp thái độ, tình cảm chủ quan của chủ thể phát ngôn.
1.2. Nghĩa tình thái của câu
1.2.1. Khái niệm nghĩa tình thái
1.2.1.1. Quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài
Bally định nghĩa: “Tình thái là thái độ của người nói được biểu thị đối với sự
việc hay trạng thái diễn đạt trong câu”. [Dẫn theo 20, 10].
1.2.1.2. Quan điểm của các nhà nghiên cứu Việt Nam
Nguyễn Thị Thìn quan niệm: tình thái “là thành phần nghĩa thể hiện mối quan
hệ giữa người nói với điều được nói tới trong câu, giữa người nói với người nghe. Vì
vậy nó mang đậm sắc thái chủ quan, đối lập với thông tin trí tuệ - thông tin phản ánh

kiểu câu như: X ơi là X (trời ơi là trời, tiền ơi là tiền…), động từ + cả + danh từ (điên
cả người, bực cả mình…),…
1.3. Vài nét về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
- Nguyễn Huy Thiệp hướng tới một mô hình văn học bình dân, thông tục với
nội dung triết lí về con người và lịch sử.
- Truyện của Nguyễn Huy Thiệp là tiếng nói thực của cuộc sống.
- Chủ thể kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thường là người
“đứng ngoài” nhưng đóng vai trò như một “người biết hết”, dẫn dắt bạn đọc vào thế
giới nhân vật, sự kiện.
- Về phương diện ngôn từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có thể thấy
một số đặc điểm sau:
+ Lời văn của Nguyễn Huy Thiệp thường hết sức ngắn gọn, cô đúc.
+ Phát ngôn của nhân vật chứa nhiều câu nói, câu hát dân gian.
+ Ngôn ngữ mang tinh thần “giải thiêng”, “gây hấn” với cách sử dụng ngôn từ
khá “tục”.
7


` + Ngôn ngữ giản lược tối đa.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày một số cơ sở lí luận của đề tài:
* Tình thái từ thuộc lớp hư từ, có vai trò to lớn trong việc thể hiện thái độ của
người nói đối với hiện thực được nói tới và đối với người nghe. Tình thái từ bao gồm:
trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ.
* Nghĩa tình thái là một phạm trù hết sức đa dạng, phức tạp, khó có thể có
được sự đồng nhất giữa các nhà nghiên cứu.
* Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn cá tính, có sức sáng tạo dồi dào. Truyện
ngắn của ông đem đến cho độc giả những trải nghiệm thú vị trên cả hai phương diện
nội dung và nghệ thuật.
Những cơ sở lí luận này được chúng tôi vận dụng để tiếp tục tìm hiểu chương 2

- Có trường hợp tổ hợp trợ từ được tạo ra bằng cách kết hợp ba trợ từ đơn lại
với nhau: đến ngay cả, mãi đến tận.
- Những tổ hợp trợ từ có tần số xuất hiện cao nhất là đến nỗi (17 lượt) , đến thế
(13 lượt), thật là (13 lượt)…
- 17 tổ hợp có tần số xuất hiện 1 lượt như nhất là, những là,cả đến, cả ngay,
chỉ đến,…
2.1.2. Miêu tả trợ từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp theo vị trí
2.1.2.1. Trợ từ đứng trước thành phần cần nhấn mạnh
- Có 1509 lần trợ từ đứng trước thành phần cần nhấn mạnh, chiếm 96,11% và
xảy ra ở hầu hết các trợ từ: những, cả, tận, thật, cái, đã, có, tự, ngay, đúng, đúng là,
thật là…
- Thành phần cần nhấn mạnh đứng sau trợ từ có thể là: danh từ/cụm danh từ,
động từ, tính từ.
+ Khi đứng trước danh từ/cụm danh từ, trợ từ nhấn mạnh đối tượng được nói đến.
(3) Không còn ngờ vực gì nữa, thằng khốn nạn và ghê gớm ấy chính là thằng
con trai tôi. (Thổ cẩm, 455)
Ở phát ngôn (3), trợ từ chính nhấn mạnh ý khẳng định: đó là con trai tôi chứ
không phải ai khác.
+ Đứng trước kết hợp số từ + danh từ, trợ từ biểu thị ý đánh giá về lượng
(nhiều hay ít).
(4) Đám đông lên tới 25000 người. (Thương cả cho đời bạc, 348)
Trợ từ tới nhấn mạnh số lượng 25000 người là nhiều.
+ Khi đứng trước danh từ chỉ địa điểm, nơi chốn, trợ từ biểu thị ý đánh giá về
mức độ xa - gần của không gian.
9


(5) Vợ chồng ông An có cô con gái tên là Xuân đang học đại học ở tận dưới
xuôi, mùa hè thường ghé về nhà. (Những người muôn năm cũ, 461)
Trong phát ngôn (5), trợ từ tận nhấn mạnh việc Xuân đi học ở dưới xuôi là xa.



(10) Văn học nước mình rôm rả thật. (Những người thợ xẻ, 100)
Ở phát ngôn (10), trợ từ thật nhấn mạnh ý khẳng định về đặc điểm phong phú,
sôi nổi của nền văn học nước nhà.
2.1.3. Miêu tả trợ từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp theo tần số sử
dụng trong một câu
Khi xem xét tần số sử dụng của trợ từ trong một câu, với một số tổ hợp trợ từ được tạo
bởi hai hoặc ba trợ từ đơn như ngay cả, chỉ có, đến cả… chúng tôi sẽ tách riêng thành hai, ba
trợ từ, mỗi trợ từ sẽ hoạt động độc lập, bổ sung và tăng cường ý nghĩa cho nhau. Khảo sát 46
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi thu được 1686 lượt trợ từ/tổng số 1487 câu.
2.1.3.1. Câu có một trợ từ: có số lượng rất lớn với 1305 câu, chiếm 87,76%
tổng số câu có trợ từ.
(11) Đám rước dâu bên nhà trai có đến hơn ba chục người. (Lòng mẹ, 383)
2.1.3.2. Câu có hai trợ từ
Câu có hai trợ từ gồm 169 câu, chiếm 11,37%, trong đó có 44 trường hợp hai
trợ từ đi liền nhau và 125 trường hợp hai trợ từ xuất hiện cách quãng nhau. VD:
(12) Mãi đến nửa đêm tôi mới thiếp đi, có lẽ vì tôi hoàn toàn kiệt sức. (Những
người thợ xẻ, 108)
(13) Cún nghe thấy tiếng nói của cô Diệu đâu đó và Cún hiểu rằng Cún vừa trải
qua một điều gì đấy thật ghê gớm, thật to lớn. (Cún, 38)
2.1.3.3. Câu có ba trợ từ
Có 11 trường hợp câu có ba trợ từ, chiếm 0,74%, chúng có thể đi liền hoặc
ngắt quãng. VD:
(14) Mãi đến tận mờ sáng tôi mới lần về đến rìa làng. (Thương nhớ đồng quê, 176)
2.1.3.4. Câu có năm trợ từ
Chúng tôi thống kê được 2 trường hợp, chiếm 0,13%. VD:
(15) Chàng hiểu cả tri huyện Thặng, cả chàng, cả ngay ông phủ Vĩnh Tường
cũng sẽ chẳng là gì cả, tất cả chỉ là nhân chứng cho sự tồn tại của một CON
NGƯỜI… (Chút thoáng Xuân Hương, 281)

thực, kèm theo thái độ ngạc nhiên của người nói.
- Một số tổ hợp tình thái có tần số sử dụng rất thấp: ấy à, ấy chứ…
2.2.2. Miêu tả tiểu từ tình thái trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp theo vị trí
2.2.2.1. Các tiểu từ tình thái đứng ở vị trí đầu phát ngôn
- Tần số sử dụng các tiểu từ tình thái ở vị trí đầu phát ngôn rất thấp, chỉ có 92
lượt, chiếm 8,59% tổng số lượt xuất hiện của tiểu từ tình thái: thôi, sao, chứ, thế mà,
thế đấy, đấy, hả…
- Các tiểu từ tình thái khi đứng đầu phát ngôn có thể đi liền với nòng cốt câu
hoặc tách biệt với nòng cốt câu bằng dấu phẩy. VD:
(21) Kìa, cẩn thận con dao! (Không có vua, 43)
12


(22) Thôi con ạ, mẹ mười đốt thì tám đốt là quỷ, đốt rưỡi là ma, có nửa đốt là
người. (Những bài học nông thôn, 128)
- Đứng đầu phát ngôn thường là các tiểu từ tình thái đơn âm.
- Các tiểu từ tình thái đứng đầu phát ngôn có thể biểu thị các sắc thái tình cảm khác
nhau của người nói như ngạc nhiên, trách móc, chấp nhận ít nhiều miễn cưỡng…
2.2.2.2. Các tiểu từ tình thái đứng ở vị trí cuối phát ngôn
- Tần số sử dụng các tiểu từ tình thái ở vị trí cuối phát ngôn rất cao với 978
lượt, chiếm 91,41%: nhé, nhỉ, đi, thôi, à, đâu, đấy, chứ…
- Các tiểu từ tình thái đứng cuối phát ngôn không có sự ngăn cách với thành phần câu,
góp phần tham gia hoàn thiện câu, tạo kiểu câu và biểu thị tính tình thái của phát ngôn.
(23) Chương ơi, hôm nay cày chân ruộng Gò mả ngụy nhé! (Con gái thủy thần, 69)
- Tiểu từ tình thái đứng cuối phát ngôn có tần số xuất hiện cao nhất là đi với
122 lượt, tiếp đến là đấy 115 lượt, thôi 69 lượt .
- Đứng cuối phát ngôn, ngoài các tiểu từ tình thái đơn âm tiết còn có các tổ hợp
tình thái được tạo thành do sự kết hợp của 2, 3 hoặc 4 tiểu từ tình thái đơn âm tiết.
Nghĩa của các tổ hợp tình thái khi đứng cuối phát ngôn là sự tổng hợp nét nghĩa của
từng tiểu từ. VD:

những điều cơ cực nhọc nhằn xảy ra trong cuộc đời mình: nào người chồng tính nết
dở hơi thô bạo, nào đói kém, nào con, nào cháu, nào bệnh tật, nào chiến tranh…
(Mưa Nhã Nam, 195)
2.3. Thán từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
2.3.1. Miêu tả thán từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp theo cấu tạo
2.3.1.1. Thán từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có cấu tạo là từ đơn
- Có 21 thán từ đơn âm tiết với tần số sử dụng rất cao 351 lượt, chiếm 84,17% tổng
số lượt xuất hiện của thán từ. Đó là các thán từ: ơi, này, thưa, vâng, ừ, chết, ôi, hỡi, dạ…
- Những thán từ có tần số sử dụng cao nhất là ơi (114 lượt), này (55 lượt), thưa
(52 lượt)…VD:
(30) Anh ơi, anh buông ra đi. (Đưa sáo sang sông, 423)
Ơi kết hợp với các danh từ hoặc đại từ nhân xưng tạo thành thành phần hô ngữ,
có tác dụng làm người nghe chú ý tới cuộc giao tiếp. Nó là thành phần dùng để gọi,
cùng nhóm với này, à… Nhưng nếu này, à chỉ gọi đối tượng ở gần thì ơi có thể gọi
đối tượng ở gần hoặc xa.
- Có một số thán từ đơn âm tiết có tần số sử dụng rất thấp: chà, dạ, khiếp, lạy, ối, ơ…
- Thán từ đơn tiết chủ yếu là thán từ gọi đáp: ơi, này, vâng, ừ,…
2.3.1.2. Thán từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có cấu tạo là một tổ hợp từ
- Có 27 tổ hợp thán từ với tần số sử dụng rất thấp, chỉ có 66 lượt, chiếm
15,83%: trời ơi, chao ôi, ơi hời, chết thật, thôi chết, a ha, dào ôi…
14


- Những tổ hợp thán từ có tần số sử dụng cao nhất là trời ơi (9 lượt), chao ôi (6
lượt), ơi hời (5 lượt)… VD:
(31) Trời ơi, Cún đã làm cho cô Diệu thích. (Cún, 35)
- Có tới 16 tổ hợp chỉ có một lượt sử dụng: à ơi, chúa ơi, dạ thưa, eo ôi, ê hê…
- Các tổ hợp thán từ bộc lộ cảm xúc (trời ơi, chao ôi, ơi hời…) chiếm số lượng
lớn, các tổ hợp thán từ gọi - đáp (tâu lạy, dạ thưa, này này, ừ ừ…)
chỉ được sử dụng 7 lượt.

95,75%.
(34) Ngọc ơi, mày chép lấy câu này. (Những người thợ xẻ, 119)
2.3.3.2. Câu có 2 thán từ: có 17 trường hợp, chiếm 4,25%.
(35) Ừ thì con bà xinh, ừ thì con bà đẹp… (Những người muôn năm cũ, 462)
2.4. Nhận diện tình thái từ trong phát ngôn
Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có nhiều hiện tượng đa từ loại. Để tránh
nhầm lẫn, chúng tôi tiến hành nhận diện tình thái từ với 12 trường hợp tiêu biểu: có,
đã, đấy, đến, độc, mới, những, nào, này, thế, thôi, trời. Trong khuôn khổ luận văn
tóm tắt, chúng tôi chỉ trình bày 2 trường hợp nhận diện sau:
2.4.1. Có: có thể xuất hiện với tư cách động từ, phó từ hoặc trợ từ
- Có - động từ:
(36) Được cái việc nặng Sinh không phải làm, có Tốn giúp đỡ. (Không có vua, 42)
Dấu hiệu nhận diện có - động từ: kết hợp với danh từ ở phía sau, trước nó
không có động từ nào khác, biểu thị trạng thái tồn tại. Mô hình cơ bản của có - động
từ là S có P.
- Có - phó từ
(37) Nhà nó có xa hay không?
Dấu hiệu nhận diện có - phó từ: có kết hợp với không tạo thành cặp phó từ nghi
vấn. Mô hình cơ bản là có + động từ/tính từ + không?
- Trợ từ:
Trường hợp 1:
(38) Buổi chiều thấy gây gây sốt, ăn có nửa bát cơm rồi bỏ mứa. (Giọt máu, 254)
Trước có là một động từ, sau có là một cụm danh từ chỉ lượng, biểu thị ý nghĩa
đánh giá về lượng (chỉ đến thế, không hơn không kém); có thể thay thế bằng trợ từ:
mỗi. Mô hình cơ bản là P1 có P2.
Trường hợp 2:
(39) Đừng có lãng mạn viển vông gì cả… (Sống dễ lắm, 438)
Có xuất hiện trong mô hình phó từ (phủ định/mệnh lệnh) + có + động từ để
nhấn mạnh sắc thái khẳng định trong lời khuyên ngăn hoặc lời phủ nhận.
16

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Ở chương 2, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê, miêu tả các tiểu loại tình thái
từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa:
17


- Về cấu tạo: các tình thái từ chủ yếu có cấu tạo đa âm tiết nhưng tần số sử
dụng lại thấp hơn hẳn so với các tình thái từ đơn âm tiết.
- Về vị trí: trợ từ thường đứng trước thành phần cần nhấn mạnh, tiểu từ tình
thái chủ yếu đứng cuối phát ngôn, thán từ có vị trí rất linh hoạt.
- Về tần số sử dụng của tình thái từ trong một câu: đa phần các câu chỉ sử dụng 1 2 tình thái từ, có những trường hợp sử dụng 4 - 5 tình thái từ nhưng số lượng rất ít.
- Tiêu chí khả năng kết hợp giúp phân biệt trợ từ với các từ đồng âm một cách
dễ dàng nhất. Tiêu chí vị trí xuất hiện giúp nhận diện tiểu từ tình thái, thán từ một
cách đơn giản và chính xác nhất.
CHƯƠNG 3. TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY
THIỆP NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NGỮ DỤNG
3.1. Tình thái từ trong việc biểu thị tình thái đánh giá sự việc trong phát ngôn
3.1.1. Đánh giá về lượng
3.1.1.1. Đánh giá về lượng nhiều hơn mức bình thường
(1) Trợ từ
* Trợ từ đánh giá về lượng nhiều hơn mức bình thường có thể kể đến là những,
đến, tới, mãi, tận, đến thế…
- Những, đến, tới nhấn mạnh mức độ số lượng được đề cập đến là nhiều, là cao,
là nặng so với mức thông thường. VD:
(46) Sơ sơ, Hạnh nhẩm chi phí lên tới chục nghìn. (Huyền thoại phố phường, 234)
- Mãi, tận, đến mãi… thiên về đánh giá mức độ dài của thời gian hoặc độ cao,
xa của không gian. VD:
(47) Nàng đang đi đào củ mài mãi trong nguồn nước. (Nàng Sinh, 222)
* Khi đánh giá về lượng nhiều so với mức thông thường, người nói thường bày tỏ
thái độ, cảm xúc của mình, có khi là ngạc nhiên, bất ngờ, có khi đó là sự đau đớn, xót xa.

Không còn con đường nào khác.
3.1.2. Đánh giá tính chân ngụy của sự tình
(1) Đánh giá về tính hiện thực, phi hiện thực của sự tình
* Tình thái từ biểu thị tính hiện thực của sự tình: thật, thực, quả, đấy, đấy thôi,
thật đấy … VD:
(55) Thời giờ thật chật chội quá. (Huyền thoại phố phường, 239)
Trợ từ thật nhấn mạnh mức độ eo hẹp của thời gian.
* Tình thái từ biểu hiện tính phi hiện thực: chắc, chăng… VD:
(56) Con mẹ này là phù thủy chắc? (Giọt máu, 255)
Tiểu từ tình thái chắc vừa cho thấy thái độ ngạc nhiên, nửa tin nửa ngờ của
Phong vừa cho thấy nội dung sự tình này không phải là sự thật.
19


(2) Đánh giá về tính tích cực, tiêu cực của sự việc
* Tình thái từ đánh giá tính tích cực của sự việc: được, đúng, đấy, nhá, chứ … VD:
(57) Đúng kẹo thực, mà kẹo chanh. (Tâm hồn mẹ, 228)
Trợ từ đúng đi với nội dung sự tình mang ý nghĩa tốt lành, tích cực: có một cái
kẹo trong lúc đang đói, mệt và sợ hãi khi bị lạc.
* Tình thái từ biểu thị tính tiêu cực của sự việc: đến nỗi, rõ, thế mà, ấy thế mà,
mất thôi… VD:
(58) Ấy thế mà sao năm nay giáp tết thằng Bột lại lên cơn điên là cớ thế nào?
(Đưa sáo sang sông, 415)
Ấy thế mà đánh giá tính bất thường của nội dung sự tình mang tính tiêu cực:
thằng Bột bất ngờ lên cơn điên giữa những ngày giáp tết.
3.2. Tình thái từ trong việc biểu thị tình thái hành động nói
3.2.1. Hành động biểu hiện
Các trợ từ và các tiểu từ tình thái có thể giúp người nói dễ dàng thực hiện hành
động biểu hiện dưới dạng phủ định, khẳng định, đánh giá, nhận xét,…
3.2.1.1. Hành động khẳng định: chính, ngay, cả, rồi đấy, đấy,…

Tiểu từ tình thái nhé biểu thị ý nhấn mạnh vào lời nhắc nhở, dặn dò của cái Mị.
3.2.3. Hành động bộc lộ
Tình thái từ (tiêu biểu là các thán từ) tham gia biểu thị một cách đa dạng và
phong phú những trạng thái cảm xúc của con người.
3.2.3.1. Thán từ biểu thị hành động biểu cảm
* Trạng thái ngạc nhiên, bất ngờ của người nói: ồ, eo ôi… VD:
(65) Ồ, mà sao vị ngọt bùi cũng nhạt vậy à? (Con gái thủy thần, 88)
* Trạng thái lo lắng của người nói: chết, ơi trời, chết thật… VD:
(66) Ôi trời! Thiếu phụ gác chèo và lại chỗ anh. Chết thật! Khéo què thì khốn.
(Chút thoáng Xuân Hương, 285)
* Trạng thái tâm lý vui mừng của người nói: a, a ha… VD:
(67) A ha! Hạnh tự nhủ, y rất có thể nhồi vào hai tâm hồn ấy một ngọn lửa nhỏ
cho nó bùng lên. (Huyền thoại phố phường, 237)
3.2.3.2. Thán từ biểu thị hành động trách móc, than thở : trời ơi, chao ôi,…
(68) - Chao ôi, sao không đi khen ta lương thiện mà chỉ đi khen ta thông minh
sắc sảo mà thôi? - Vũ tê tái nghĩ. (Bài học tiếng Việt, 431)
3.2.4. Hành động kết ước
Các tiểu từ tình thái có tham gia biểu thị một số hành động thuộc nhóm kết
ước : giao hẹn, cam đoan.
3.2.4.1. Hành động giao hẹn: đấy nhá, đây, nhé… VD:
21


(69) Tao cho chú mày lên thuyền nhưng tao bảo gì chú mày phải nghe đấy nhá.
(Chảy đi sông ơi, 7)
3.2.4.2. Hành động cam đoan
(70) - Không có chuyện ấy đâu nhé! (Những người muôn năm cũ, 459)
Đâu nhấn mạnh vào ý phủ định: không có chuyện ấy còn nhé nhấn mạnh thêm
với ý thân mật, gần gũi. Từ đó bà Hinh cam đoan, khẳng định rằng dù thế nào bà vẫn
làm tốt công việc của mình.

(72) Anh phải nhắm mắt lại, phải buông xuôi tay dần đi… (Đưa sáo sang sông, 423)
Gián tiếp chối từ, cô gái khéo léo đưa ra một lời khuyên: Anh phải nhắm mắt
lại, phải buông xuôi tay dần đi. Tiểu từ tình thái đi giảm nhẹ sắc thái mệnh lệnh, bộc
lộ lời khuyên nhủ thiết tha chân thành của cô gái.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Ở chương 3, chúng tôi đi sâu tìm hiểu về tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp trên bình diện ngữ dụng với ba phương diện:
- Tình thái từ trong việc biểu thị tình thái đánh giá sự việc trong phát ngôn:
+ Tình thái đánh giá về lượng: đánh giá về lượng ở các mức nhiều hoặc ít hơn
so với mức bình thường.
+ Tình thái đánh giá về tính chân nguỵ của sự tình.
- Tình thái từ trong việc biểu thị tình thái hành động nói: trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp chủ yếu xuất hiện 4 nhóm hành động: biểu hiện, điều khiển, bộc
lộ, kết ước. Tình thái từ tham gia đắc lực vào việc biểu hiện những hành động này.
- Các tình thái từ có vai trò quan trọng trong việc biểu thị mối quan hệ giữa
người nói với người nghe và góp phần thể hiện phép lịch sự trong giao tiếp.
KẾT LUẬN
Qua quá trình đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu Tình thái từ trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi đi đến một số kết luận sau:
1. Tình thái từ là một trong những phương tiện đắc lực tham gia biểu đạt ý
nghĩa tình thái. Tình thái từ gồm: trợ từ, tiểu từ tình thái, thán từ.
- Về mặt cấu tạo: các tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chủ yếu
có cấu tạo gồm hai âm tiết trở lên nhưng tần số xuất hiện của chúng lại thấp hơn hẳn
so với các tình thái từ có cấu tạo đơn âm tiết.
- Về vị trí xuất hiện của các tình thái từ:
+ Vị trí của trợ từ phụ thuộc vào thành phần được nhấn mạnh và chủ yếu trợ từ
đứng trước thành phần được nhấn mạnh.
+ Tiểu từ tình thái chủ yếu đứng cuối phát ngôn.
+ Thán từ có thể đứng đầu, cuối, giữa phát ngôn thậm chí có thể độc lập tạo
phát ngôn.

Với việc sử dụng khá nhiều và linh hoạt các tình thái từ trong truyện ngắn của
mình, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng nên một thế giới nhân vật vô cùng sinh động,
phong phú về lời ăn tiếng nói, đa dạng về tính cách, phức tạp về đời sống tâm lý qua
đó ít nhiều gửi gắm những quan niệm, triết lý về cuộc đời và con người.

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status