BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN KIÊN
TÌNH THÁI TỪ
TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN KIÊN
TÌNH THÁI TỪ
TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số:
60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. BÙI MINH TOÁN
2.1.1.1. Tiểu từ tình thái: ................................................................................... 31
2.1.1.2. Trợ từ: ................................................................................................... 45
2.1.1.3. Thán từ: .......................................................................................... 54
2.1.2. Tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao với chức năng thể hiện vị thế giao
tiếp của các nhân vật: ................................................................................................61
2.1.2.1. Tình thái từ thể hiện nhân vật giao tiếp ở vị thế cao: ........................... 62
2.1.2.2. Tình thái từ thể hiện nhân vật giao tiếp ở vị thế thấp: .......................... 73
2.1.2.3. Tình thái từ thể hiện nhân vật giao tiếp ở vị thế ngang bằng: .............. 76
2.2. TIỂU KẾT: ......................................................................................................... 81
CHƢƠNG 3: CÔNG DỤNG CỦA TÌNH THÁI TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN
NAM CAO TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945. ................................. 84
3.1. TÌNH THÁI TỪ VỚI VAI TRÕ BỘC LỘ TÍNH CÁCH NHÂN VẬT:........... 84
3.1.1. Nhân vật Chí Phèo: ....................................................................................85
3.1.2. Nhân vật Hộ: .............................................................................................. 93
3.2. Tình thái từ bộc lộ phong cách trữ tình, bộc lộ tình cảm chủ quan của ngƣời kể
chuyện ....................................................................................................................... 96
3.4. Biểu hiện nghĩa hàm ẩn: ................................................................................... 101
3.4. TIỂU KẾT: ....................................................................................................... 102
KẾT LUẬN..................................................................................................... 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 107
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngữ dụng học là ngành học nghiên cứu ngôn ngữ từ phía ngƣời dùng, đặc biệt
nghiên cứu những sự lựa chọn mà họ thực hiện, những bó buộc mà họ gặp phải khi
sử dụng ngôn ngữ trong tƣơng tác xã hội và nghiên cứu tác động của cách sử dụng
cảm, cảm xúc của mình với đối tƣợng giao tiếp, ngƣời Việt Nam thƣờng dùng nhiều
loại hành vi ngôn ngữ, mỗi loại hành vi ngôn ngữ đó đƣợc thể hiện bằng một số
kiểu câu có nội dung, hình thức nói năng nhất định. Theo các nhà nghiên cứu Việt
ngữ học, có thể thấy bốn kiểu câu thể hiện mục đích nói là:
- Câu kể (còn gọi là “câu miêu tả, trần thuật”)
- Câu cầu khiến (hay “câu mệnh lệnh”)
- Câu nghi vấn (còn gọi là “câu hỏi”)
- Câu cảm thán (còn gọi là “câu cảm”)
Nghĩa tình thái trong câu Tiếng Việt có tính ngữ dụng rất cao, hơn nữa mật độ
nghĩa tình thái trong giao tiếp của Tiếng Việt có thể nói rất dày đặc. Để có đƣợc
những câu mang nghĩa cảm thán, câu cầu khiến, câu hỏi tu từ… nhằm biểu thị tình
cảm – cảm xúc đa dạng, tinh tế và cao hơn là đạt mục đích trong quá trình giao tiếp
ngƣời Việt sử dụng phƣơng tiện ngôn ngữ tình thái trong câu nói của mình. Cũng
nhƣ vậy, từ loại tình thái từ (gồm thán từ, trợ từ, tiểu từ tình thái) đƣợc sử dụng
trong sáng tác văn chƣơng ở mỗi tác giả, mỗi tác phẩm lại có những điểm khác biệt,
nó thể hiện văn phong cũng nhƣ phong cách của nhà văn. Tuy nhiên, nghiên cứu về
tình thái từ trong tác phẩm văn học mà cụ thể hơn là nghiên cứu về các phƣơng tiện
diễn đạt trong tình thái từ ở một tác phẩm văn học cụ thể vẫn còn bỏ ngỏ cho dù
thực tế việc sử dụng các phƣơng tiện biểu thị tình thái là rất phổ biến trong tác
phẩm văn học.
Nền quốc văn mới hình thành ở cuối thế kỷ XIX và nhất là đầu thế kỷ XX là
một sự kiện hết sức quan trọng, một cột mốc trong sự hình thành ngôn ngữ văn học
hiện đại tiếng Việt có nhiều nhân tố tác động tích cực đến sự hình thành nền quốc
văn mới và ngôn ngữ văn học tiếng Việt hiện đại [31]. Quá trình hiện đại hóa văn
học Việt Nam diễn ra đầu thế kỷ XX, nhƣng đến những năm 1930-1945 văn xuôi
hiện thực mới thực sự hình hành những phong cách nhà văn nổi bật. Đó là cây bút
Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao...Trong số các tác giả
2
3
Tuy nhiên, qua quá trình tổng hợp và tham khảo tài liệu chúng tôi nhận thấy
vấn đề phân tích từ loại về mặt ngữ pháp và đặc biệt là mặt ngữ dụng trong một tác
phẩm văn chƣơng đều còn hạn chế. Bởi vậy, trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi
xin điểm qua một số công trình nghiên cứu có tính chất nổi trội về vấn đề tình thái
trong Tiếng Việt nói chung, trong đó có những nghiên cứu đề cập đến vấn đề
phƣơng tiện biểu thị tình thái.
2.1. Về các tác giả nƣớc ngoài:
Các tác giả I. I. Glebova, V.M. Solntsev, Yu. Lekomtsev, Bystrov khi
viết
về ngữ pháp tiếng Việt (bằng tiếng Nga) đã có đề cập đến tiểu từ tình thái. Họ cũng
đã phân loại tiểu từ tình thái theo tiêu chí ngữ nghĩa nhƣ: Tiểu từ có tính chất nghi
vấn, tiểu từ nhấn mạnh, tiểu từ chỉ ra sự đối lập. Tuy nhiên họ xem tiểu từ tình thái
nhƣ là một từ loại tiếng Việt hơn là một phƣơng tiện biểu thị tình thái [33; 34].
Một tác giả nƣớc ngoài khác cũng quan tâm đến ngữ pháp tiếng Việt là
V.S. Panfilov (2003), trong chƣơng VIII của cuốn “Cơ cấu ngữ pháp Tiếng Việt”
[38] (bằng tiếng Nga, do Nguyễn Thủy Minh dịch) ông đã trình bày về bán hƣ từ,
trong đó có đề cập đến từ tình thái. Ông cho rằng: “Lớp ngữ pháp này bao gồm
những từ nhƣ: có lẽ, hình như, quả nhiên, đương nhiên… những từ này đƣợc dùng
với chức năng định ngữ của câu, thể hiện sự đánh giá đối với sự việc đƣợc nhắc tới
trong câu, hoặc đối với sự việc đƣợc nhắc tới trong câu, hoặc đối với chính phát
ngôn nhƣ một hành động lời nói” [38; 277]. Nhƣ vậy, có thể thấy chƣa có một tác
giả nƣớc ngoài nào nghiên cứu chuyên sâu về tình thái cũng nhƣ những phƣơng tiện
biểu thị ý nghĩa tình thái trong Tiếng Việt.
2.2. Về các tác giả trong nƣớc:
Với các kiểu câu phân loại theo mục đích nói (trong đó có câu cảm
tháng Tám, phân tích công dụng của chúng để góp phần làm sang tỏ đặc điểm và
công dụng của tình thái từ trong tiếng Việt, góp phần làm rõ đặc điểm ngôn ngữ của
Nam Cao.
4.2. Nhiệm vụ:
Tiếp thu thành tựu của các nhà Việt ngữ học, luận văn trình bày khái niệm về
tình thái, nội dung của tình thái, vai trò của tình thái từ trong tiếng Việt nói chung
và truyện ngắn Nam Cao trƣớc 1945 nói riêng.
5
Thu thập và khảo sát ngữ liệu, lọc ra các dẫn chứng có biểu thị tình thái.
Thuyết minh việc sử dụng và công dụng của tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao
trƣớc 1945.
Miêu tả, phân tích những đặc điểm cơ bản của các phƣơng tiện biểu thị, phân
tích công dụng của tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trƣớc 1945 trong từng
ngữ cảnh cụ thể.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
5.1. Thống kê: Khi làm việc với nguồn ngữ liệu là các tác phẩm Chí Phèo 1941, Trăng sáng - 1942, Lão Hạc - 1943, Đời thừa – 1943 chúng tôi sử dụng
phƣơng pháp thống kê để định lƣợng ngữ liệu và xác lập hệ thống các từ ngữ thuộc
tình thái từ.
5.2. Phƣơng pháp phân tích văn bản, phân tích ngữ nghĩa – ngữ dụng, phân
tích diễn ngôn (đặt vào ngữ cảnh): Quá trình giao tiếp, diễn ngôn bao gồm cả các
yếu tố ngoài ngôn ngữ nhƣ cảnh huống, yếu tố dụng học và các tác động của các
chiến lƣợc văn hóa ở ngƣời sử dụng ngôn ngữ.
5.3. Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu: Thấy đƣợc vị trí các phƣơng tiện tình
thái trong câu, trong diễn ngôn qua đó mà thấy đƣợc sắc thái nội dung, ý nghĩa…
tình thái trong diễn ngôn của từng ngữ cảnh.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:
6.1. Về mặt lí luận:
nhƣ sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và tổng quan về Nam Cao
Chƣơng 2: Hệ thống tình thái từ trong truyện ngắn Nam Cao trƣớc cách
mạng tháng Tám 1945
Chƣơng 3: Công dụng của việc sử dụng tình thái từ trong truyện ngắn
Nam Cao trƣớc cách mạng tháng Tám 1945
7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. LỚP TỪ TÌNH THÁI:
1.1.1.Từ loại trong Tiếng Việt và sự phân chia từ loại: Thƣờng thấy có 2
cách phân chia:
1.1.1.1. Quan điểm thứ nhất: Quan điểm này chia từ loại thành 2 loại: Thực
từ và Hƣ từ
a. Thực từ: Gồm Danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ
Theo Nguyễn Kim Thản: Những từ có ý nghĩa từ vựng chân thực và có thể làm
thành phần câu gọi là thực từ. [40; 147]
Theo Hồng Dân: Từ thực là những từ có khả năng một mình tạo thành câu,
một mình làm phần nêu hoặc phần báo trong phần chính của câu; đồng thời có chức
năng gọi tên (hoặc trỏ) sự vật, thuộc tính sự vật [12; 68].
Theo Nguyễn Tài Cẩn: Tiếng độc lập, thực, chính là những yếu tố xƣa nay ta
thƣờng quen gọi là thực từ [3; 33].
Theo Đinh Văn Đức: Trong bản thân ý nghĩa của mỗi từ loại, thực từ bao
giờ cũng chứa đựng sự thống nhất của các nhân tố "từ vựng" và nhân tố "ngữ
pháp" [14; 39].
Trong quyển "Ngữ pháp tiếng Việt" của nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà
từ (hay từ công cụ) [3; 33].
Hƣ từ là những từ dùng để biểu thị một số những quan hệ cú pháp nhất
định [48; 29].
Đó là tập hợp không lớn về số lƣợng các từ, bản chất của ý nghĩa hƣ từ là tính
chất ngữ pháp, là phƣơng tiện biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tƣ duy
theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của ngƣời bản ngữ [14; 43].
Hƣ từ chân chính thì không thể thay thế bằng từ khác trong một văn cảnh cụ
thể đƣợc. Thuộc vào đây có các chỉ tố về số (những, các), các mạo từ (mọi, mỗi,
từng, cái), các chỉ tố thời gian (đã, sẽ, đang, vừa, mới, từng), hệ từ (là), giới từ
(cùng, bằng, với), liên từ (nếu, tuy, nên), liên giới từ (của, vì, bởi) [45; 43].
1.1.1.2. Quan điểm thứ hai: Quan điểm này chia từ loại thành 3 loại: Thực từ,
hƣ từ và tình thái từ
9
a. Thực từ (Nằm trong nòng cốt câu, làm thành tố chính): Những từ có đầy đủ
ý nghĩa từ vựng, nó là đơn vị cơ bản thực hiện chức năng gọi tên các sự vật, nó
chiếm số lƣợng lớn. Thực từ có khả năng độc lập đảm nhận các chức vụ ngữ pháp
trong câu, có khả năng làm trung tâm của một cụm từ (đoản ngữ)
b. Hư từ (Nằm trong nòng cốt câu, làm thành tố phụ): Những đơn vị chủ yếu
có ý nghĩa ngữ pháp, có chức năng liên kết các thực từ lại trong câu, trong phát
ngôn có chức năng biểu thị mối quan hệ giữa từ này với từ khác trong dòng ngữ
lƣu. Bản thân hƣ từ không có khả năng hoạt động độc lập mà phải dựa vào thực từ
mới bộc lộ khả năng ngữ pháp.
c. Tình thái từ (Không nằm trong nòng cốt câu): Những đơn vị chủ yếu biểu
thị tình cảm, sự bình giá, sự nhận xét hoặc trạng thái cảm xúc con ngƣời đối với sự
vật, hiện tƣợng đƣợc đề cập đến. Về chức năng, tình thái từ không nằm trong các
cấu trúc ngữ pháp, không tham gia thực hiện nòng cốt câu, nó tách khỏi nòng cốt
câu, chúng chỉ đƣợc dùng trong câu để bày tỏ thái độ tình cảm.
quay về nhà thƣơng Chợ Quán.
(Trần Đình Vân)
Theo Diệp Quang Ban: Là những từ dùng để nhấn mạnh vào một từ, một cụm
từ, một câu nào đó với nó đi kèm. Trợ từ không có ý nghĩa riêng của mình. [1, 342]
Trợ từ dùng trong câu biểu thị ý nghĩa tình thái, bằng cách nhấn mạnh vào từ,
kết hợp từ… có nội dung phản ánh liên quan với thực tại mà ngƣời nói, ngƣời viết
muốn lƣu ý ngƣời nghe. [2, 166]
Vị trí của trợ từ thƣờng tƣơng ứng với chỗ ngừng hay chỗ ngắt đoạn khi phát
ngôn câu. Do đó, trợ từ có thể có tác dụng phân tách các thành phần câu.
1.1.2.2. Tiểu từ tình thái:
Theo Hà Quang Năng: Từ tình thái là những từ làm dấu hiệu chỉ rõ mục đích
nói của câu hỏi, câu kể, câu mệnh lệnh, câu cảm thán… Từ tình thái thƣờng đứng
cuối câu biểu hiện sắc thái: cầu khiến, cảm thán, nghi vấn… bộc lộ tình cảm thái độ
ngƣời nói, ngƣời viết với sự vật hiện tƣợng. Chúng gồm các từ nhƣ: với, đã bảo mà,
đấy nhé, đấy, nhé, đi, mau, nhanh…[36; 76]
Theo Diệp Quang Ban: Tiểu từ tình thái là những từ dùng tạo dạng cho câu
phân biệt theo mục đích nói (câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán) và bày tỏ
11
quan hệ của ngƣời nói đối với nội dung câu nói hay với ngƣời nghe, có khi cả chức
năng tạo câu theo mục đích nói và chức năng diễn đạt quan hệ xã hội của ngƣời nói
cùng có trong một yếu tố tình thái [1; 343].
Tiểu từ tình thái có vị trí linh hoạt trong câu. Chúng có thể đặt đầu câu, trong
câu hay cuối câu. Khi đứng trong câu, tiểu từ tình thái thƣờng có tác dụng phân tách
ranh giới các thành phần câu, tạo dạng thức các kiểu câu theo mục đích phát ngôn.
Những từ này tuy bao gồm một số lƣợng không nhiều nhƣng diễn đạt những
sắc thái tình cảm, cảm xúc tế nhị, phức tạp. Chúng bao gồm những từ nhƣ: à, ư, nhỉ,
nhé, chứ, vậy, đâu, chăng, ừ, ạ, hử .... Nhờ chúng mà ngƣời nói hay ngƣời viết có
mà thôi. Chúng không thể làm thành phần cho cụm từ hay câu, nhƣng lại có thể tách
riêng khỏi câu để làm thành một câu riêng biệt.
Trong khi sử dụng chúng thƣờng gắn liền với một ngữ điệu hay cử chỉ, nét
mặt, điệu bộ của ngƣời nói. Các thán từ có thể dùng để gọi đáp ơi, vâng, dạ, bẩm,
thưa, ừ,...; có thể dùng để bộc lộ cảm xúc vui mừng, ngạc nhiên, đau đớn, sợ hãi,
tức giận ôi, trời ơi, ô, ủa, kìa, ái, ối, than ôi, hỡi ôi, eo ôi, ôi giời ôi,... Có thể nói,
chúng dùng để bộc lộ những cảm xúc đột ngột, mạnh mẽ thuộc các loại khác nhau.
Ô hay! Sao lại vất thang lại thế này?
(Trần Đăng)
Ồ, sao mà ngu si làm vậy?
(Chu Văn)
Theo Hà Quang Năng: Từ cảm thán bộc lộ cảm xúc ngƣời nói, làm dấu hiệu
chỉ dẫn những xúc cảm con ngƣời mà thôi, vì thế không làm thành phần trong câu,
trong cụm từ mà nó tách ra làm một bộ phận riêng khỏi câu. Vì thế có rất nhiều
trƣờng hợp thán từ đứng riêng làm nhiệm vụ của câu đặc biệt. [36, 122]
- Giời ơi là giời!
(Nam Cao)
- Vẽ chuyện!
(Nam Cao)
Theo Diệp Quang Ban: Thán từ là từ - tín hiệu phản ánh các trạng thái tâm sinh lí. Chúng gần với tiếng kêu tự phát nhiều hơn. Thán từ có nét riêng về cú pháp
là nó có thể một mình làm thành một câu riêng, hoặc là một vế câu cùng với vế câu
khác chỉ sự việc làm hành một câu ghép [1, 347]. Trong một câu ghép nhƣ vậy,
thông thƣờng về câu chỉ sự việc có tác dụng giải thích lí do của sự cảm thán, nhƣ
trong vế câu cảm thán đƣợc in đậm.
13
- Ôi, đau quá.
Về cấu tạo, có thể chia thán từ ra thành 3 nhóm:
1.2. NGHĨA TÌNH THÁI:
1.2.1. Một số quan điểm nghiên cứu tiên phong về tình thái:
1.2.1.1. O. Jespersen (1949), khi bàn về tình thái, đã nhận xét về các thức
tƣờng giải/trực thuyết, giả định và cầu khiến trong cuốn “A Modern English
Grammar on Historical Principles I - IV, London and Copenhagen” nhƣ sau:
"Chúng biểu thị những thái độ nhất định của ngƣời nói hƣớng về nội dung của câu,
dù rằng, trong một số trƣờng hợp, sự lựa chọn thức đƣợc quyết định không phải bởi
thái độ của ngƣời nói mà bởi đặc điểm của bản thân mệnh đề và mối quan hệ của nó
với chuỗi (mệnh đề) liên hệ chính mà nó lệ thuộc vào". Theo nhận xét của F.
Palmer, những đề xuất của O. Jesperson là ít quan trọng về mặt lý thuyết, ngoại trừ
nhận thức của ông về hai loại "thức":
a. Nhóm bao gồm yếu tố ý chí:
- Cầu khiến: Đi đi!
- Ép buộc: Nó buộc phải đi
- Nghĩa vụ: Nó phải đi/Chúng ta phải đi
- Khuyên bảo: Anh nên đi
- Khẩn cầu: Làm ơn đi cho!
- Khích lệ: Hãy để chúng tôi đi
- Cho phép: Anh có thể đi, nếu muốn
- Hứa hẹn: Tôi sẽ đi/Sẽ ổn thôi
- Mong mỏi (có thể thực hiện đƣợc): Mong cho nó vẫn sống
- Ƣớc vọng (không thể thực hiện đƣợc): Giá mà nó vẫn còn sống
- Dự tính: Để nó có thể đi
b. Nhóm không bao gồm gồm yếu tố ý chí:
- Xác thực: Hai lần hai là bốn
- Đòi hỏi cần phải có: Nó chắc hẳn giàu (nếu không thì nó chẳng tiêu hoang
như vậy)
- Xác nhận: Nó giàu
- Giả định có cơ sở: Nó rất có thể giàu có/nó sẽ biết
tích về chúng một cách khá chi tiết.
1.2.1.3. N. Rescher (1969), trong giới hạn của khung logic đƣợc trình bày
trong cuốn “Topics in philosophical logic”, đã đề nghị một hệ thống mở về tình
16
thái. Những nhận xét của ông về các loại tình thái đƣợc mở đầu bằng câu: "Một
phán đoán đƣợc trình bày bằng một câu thƣờng thuật. Cái mà đƣợc nhận thức nhƣ
một tổng thể, sẽ là đúng hoặc sai”.
Ví dụ: The cat is on the mat (Con mèo ở trên tấm thảm)".
Và khi một phán đoán nhƣ vậy tham gia vào một kết cấu lớn hơn cùng loại
một lần nữa tự nó là một phán đoán, thì kết cấu lớn hơn này đƣợc xem nhƣ đại diện
cho một tình thái đối với phán đoán gốc nhƣ: X believes "the cat ... mat". Cách hiểu
nhƣ vậy về tình thái tạo ra nhiều vấn đề về mặt lý luận. Bên cạnh các loại tình thái
hiện thực, nhận thức, trách nhiệm, ông đề cập đến các loại tình thái biểu thời
(temporal), tình thái vọng cảm (boulomaic), tình thái đánh giá (evaluative), tình thái
nguyên nhân (causal) và tình thái điều kiện (conditional).
1.2.1.4. J.R. Searle (1979) là ngƣời đã phát triển nội hàm khái niệm tình thái
lên một bƣớc mới. Sự tiếp cận của Searle hƣớng đến vấn đề hành vi ngôn ngữ. Sự
tiếp cận này cung cấp một khung ngữ nghĩa hữu ích cho việc thảo luận về tình thái.
Lý thuyết hành vi ngôn ngữ quan tâm tới mối quan hệ giữa ngƣời nói và cái mà anh
ta nói. Mối quan hệ này, nhƣ đã biết, chứa đựng rất nhiều vấn đề nội dung tình thái.
Chẳng hạn, hành vi khẳng định (assertive) đƣợc mô tả theo phƣơng diện lòng tin
(belief). Nhƣng, mức độ của “lòng tin” có thể ở mức zero. Nội dung này liên quan
đến tình thái nhận thức. Hay, loại chi phối (directive) có sự tƣơng ứng rất lớn với
tình thái trách nhiệm. Có thể nói rằng, cái mà Searle gọi là "khẳng định" và "chi
phối" thực sự là trung tâm của bất kỳ sự thảo luận nào về tình thái. Đối với ba loại
còn lại thì loại cam kết (commissive) không có sự phân biệt rõ ràng với loại chi
phối (directive) vì chúng đều có khuynh hƣớng “sẽ thực hiện một cái gì đó". Loại
- Xác nhận phi hiện thực (irrealis assertion);
- Xác nhận phủ định (negative assertion).
Theo W. Frawley (1992), "Phạm vi ngữ nghĩa liên quan đến vị thế hiện thực
của phát ngôn là tình thái". Tình thái ảnh hƣởng tới toàn bộ nội dung của một sự
diễn đạt nào đó. Và nhƣ vậy, nó liên quan đến toàn bộ phán đoán. Tình thái gợi lên
không chỉ các mức độ nhận thức khách quan về hiện thực, mà cả các thái độ và sự
định hƣớng chủ quan đối với nội dung của sự biểu đạt. Frawley cho rằng "hiện
thực" (realis) và "phi hiện thực" (irrealis) là hai thuộc tính cơ bản của tình thái,
tƣơng tự nhƣ nhận xét của M.A.K. Halliday. Ông cũng cho rằng, ba lớp tình thái
thƣờng đƣợc nói tới trong tất cả các ngôn ngữ là:
18
- Sự phủ định (tình thái phủ định) đƣợc cấu thành bởi sự tách rời giữa thế giới
đƣợc biểu đạt và thế giới tham chiếu (the expressed world and the reference world);
- Tình thái nhận thức bao gồm sự hội nhập tiềm tàng giữa thế giới đƣợc biểu
đạt và thế giới tham chiếu;
- Tình thái trách nhiệm quan tâm đến sự hội nhập bắt buộc giữa thế giới biểu
thị và thế giới tham chiếu.
1.2.1.6. F. Palmer: Theo Palmer, tình thái là một hiện tƣợng ngữ nghĩa còn
thức (mood) là một hiện tƣợng ngữ pháp. Sự khác biệt giữa chúng cũng giống nhƣ
sự khác biệt giữa thời gian (time) và thì (tense), giữa giới tính (sex) và giống
(gender). Palmer đã định nghĩa tình thái nhƣ là thông tin ngữ nghĩa gắn kết với thái
độ và ý kiến của ngƣời nói về nội dung đƣợc nói. Các nội dung tình thái đƣợc
Palmer đề cập rất đa dạng. Nhƣng trọng tâm vẫn là tình thái nhận thức và tình thái
trách nhiệm. Theo Palmer, tình thái nhận thức đƣợc chia thành hai lớp cơ bản: đánh
giá (judgement) và bằng chứng (evidence). Tình thái đánh giá gồm tất cả các khái
niệm nhận thức, tính khả năng và sự cần thiết. Ông còn phân lớp tình thái đánh giá
dựa vào mức độ tin tƣởng mà ngƣời nói có trong khi khẳng định thành hai tiểu lớp:
(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)
Câu biểu hiện trạng thái, tính chất, đặc điểm:
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao.
(Nguyễn Khuyến, Vịnh mùa thu)
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại.
(Hồ Xuân Hƣơng, Tự tình – bài II)
Câu biểu hiện quá trình:
Lá vàng trƣớc gió khẽ đƣa vèo.
(Nguyễn Khuyến, Câu cá mùa thu)
Câu biểu hiên tƣ thế:
Lom khom dƣới núi tiều vài chú.
(Bà Huyện Thanh Quan, Qua đèo ngang)
Giữa giƣờng thất bảo ngồi trên một bà.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Câu biểu hiện sự tồn tại:
Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử.
20
Hết cơm, hết rƣợu, hết ông tôi.
(Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thói đời)
Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Câu biểu hiện quan hệ:
Đội Tảo là một tay vai vế trong làng.
(Nam Cao, Chí Phèo)
Ngựa xe nhƣ nƣớc áo quần nhƣ nêm.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Nghĩa sự việc của câu thƣờng đƣợc biểu hiện nhờ những thành phần ngữ pháp