Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Khoa học chính trị: Tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay - Pdf 18

1 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TRƯƠNG THỊ BẠCH YẾN
TẠO NGUỒN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Chuyên ngành : Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 62 31 23 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2014
2

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược của cả nước. Đội ngũ cán bộ, công
chức (CB, CC) người dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm 30,15% tổng số
CB,CC cấp cơ sở, hiện đang đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển
và ổn định xã hội ở Tây Nguyên, nhất là các xã có đông đồng bào DTTS
sinh sống. Trước yêu cầu đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới
theo hướng CNH, HĐH, đội ngũ CB, CC xã là người DTTS ở Tây Nguyên
đang đứng trước những bất cập, hạn chế. Số lượng, cơ cấu thành phần,
năng lực, trình độ, mức độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cả đội ngũ chưa
đồng bộ. Một nguyên nhân trực tiếp của tình trạng đó là do chất lượng tạo
nguồn CB, CC xã người DTTS thời gian qua còn nhiều bất cập, do đó,
khắc phục nguyên nhân đó là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết của các cấp
ủy đảng, chính quyền, đoàn thể ở Tây Nguyên trong công tác xây dựng đội
ngũ cán bộ cơ sở hiện nay.
Xuất phát từ tình hình trên, tôi chọn vấn đề “Tạo nguồn cán bộ, công
chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay”
làm đề tài Luận án tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam, với mong muốn góp phần làm rõ những vấn đề
lý luận và thực tiễn, thúc đẩy việc tạo nguồn CB, CC xã người DTTS ở
Tây Nguyên ngày một tốt hơn.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
* Mục đích: Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc tạo
nguồn CB, CC xã người DTTS ở Tây Nguyên giai đoạn hiện nay, đề
xuất những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh việc tạo nguồn đội ngũ này đến
năm 2020.
4

* Nhiệm vụ: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài; khái
quát tình hình, đặc điểm, vai trò của CB, CC và nguồn CB, CC xã người
DTTS ở Tây Nguyên; làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức, vai trò của

5. Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận án
- Làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức tạo nguồn CB, CC xã
người DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên.
- Rút ra kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra trong tạo nguồn CB, CC
xã người DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên những năm vừa qua.
- Đề xuất hai giải pháp có tính đặc thù, khả thi nhằm đẩy mạnh tạo
nguồn CB, CC xã người DTTS đến năm 2020: Một là, củng cố, phát triển
và giao trách nhiệm cụ thể cho hệ thống các trường dân tộc nội trú, các cơ
sở giáo dục – đào tạo trên địa bàn Tây Nguyên tham gia tạo nguồn CB, CC
xã người DTTS. Hai là, xây dựng, củng cố và phát huy vai trò HTCT xã,
lực lượng người có uy tín trong cộng đồng DTTS ở thôn, buôn trong tạo
nguồn CB, CC xã người DTTS.
6. Ý nghĩa thực tiễn của Luận án
Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham
khảo, giúp các cấp ủy đảng đẩy mạnh công tác tạo nguồn CB, CC xã người
DTTS ở Tây Nguyên. Luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo
phục vụ nghiên cứu, học tập môn Xây dựng Đảng trong hệ thống Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị tỉnh, trung tâm bồi
dưỡng chính trị huyện.
7. Kết cấu của Luận án: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục
các công trình khoa học của tác giả liên quan đến đề tài, Danh mục tài liệu
tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của Luận án gồm Tổng quan tình
hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và 3 chương, 6 tiết.
6

TỔNG QUAN
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
I. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM
1.1. Những nghiên cứu liên quan đến công tác cán bộ và tạo
nguồn cán bộ nói chung

gia, Hà Nội, 2000); sách: “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta
hiện nay” của Hoàng Chí Bảo (Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005); đề
tài khoa học cấp Bộ 2007 “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở theo Nghị quyết
Trung ương 5 (khóa IX)” của Nguyễn Thế Vịnh
Cán bộ người DTTS được nhiều tác giả xác định là then chốt của
công tác cán bộ vùng miền núi, dân tộc. Tiêu biểu có: sách “Xây dựng đội
ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa - Luận cứ và giải pháp” (2005) của Lê Thị
Phương Thảo, Nguyễn Cúc, Doãn Hùng (Nxb Lý luận chính trị, Hà
Nội); sách “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi
phía Bắc nước ta hiện nay” của Lô Quốc Toản (Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2010)
1.3. Những nghiên cứu liên quan đến Tây Nguyên, các dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên và tạo nguồn cán bộ ở Tây Nguyên
Tây Nguyên và các DTTS ở Tây Nguyên với thực trạng và xu hướng
phát triển được nhiều tác giả luận giải, như: sách “Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên” (2005) và “Xây
dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên” (2008) của
Trương Minh Dục (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); sách “Văn hóa xã hội
và con người Tây Nguyên” (2005) của Nguyễn Tấn Đắc (Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội); sách “Một số vấn đề về văn hóa - xã hội các dân tộc thiểu số
8

ở Tây Nguyên hiện nay” (2010) của Dương Thị Hưởng, Đỗ Đình Hãng,
Đậu Tuấn Nam đồng chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; sách “Tổ
chức và hoạt động buôn làng trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên”
(2010) của Bùi Minh Đạo (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội)
Tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS ở Tây Nguyên là đối
tượng và là mục tiêu của nhiều công trình. Tiêu biểu có bài viết “Đặc điểm
tâm lý, văn hóa các dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên ảnh hưởng tới

Đảng điện tử, 1-9-2006); “Công tác giáo dục dân tộc được nâng cao về
chất lượng” và bài “Nơi tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số” (Webside của
Sở Giáo dục Đào tạo Đăk Lăk); “Đăk Lăk tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng ở thôn, buôn, tổ dân phố” của Nguyễn Phú Lập (Tạp chí Xây dựng
Đảng điện tử, 7-8-2012) Đây là những nghiên cứu thực tế, gắn với từng
địa phương cụ thể. Luận án có nhiệm vụ khái quát thành lý luận chung về
tạo nguồn CB, CC xã người DTTS.
2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NƯỚC NGOÀI
2.1. Vấn đề nhân lực, chất lượng nhân lực và việc phát triển
nguồn nhân lực được các tác giả Nhật Bản quan tâm: Mitokaza Aoki
(sách “Nguyên tắc quản lý kiểu Nhật”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1993), Matsushita Konouke (sách “Nhân sự - chìa khóa của thành công”,
Nxb Giao thông vận tải, 1999); Yasuhiko Inoue (bài viết “Kinh nghiệm
Nhật Bản về phát triển nguồn nhân lực (HRD)”, )
2.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Các tác giả Lào trong các bài viết: “Công tác tổ chức cán bộ cấp tỉnh
ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay” của Unkẹo Sipasợt (Tạp chí
xây dựng Đảng điện tử, 24-8-2009); “Đột phá về công tác cán bộ” của
Litthi Sisouvong (Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử, 02-12-2011); Luận án
tiến sĩ “Đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn Lào hiện nay”
10

(2011) của La Chay Sinh Su Van đều nhấn mạnh công tác cán bộ là giải
pháp cho chất lượng HTCT.
Các tác giả Trung Quốc tại Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt
Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Xây dựng đảng cầm quyền - kinh
nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc” (2004), đề cập đến
nhiều kinh nghiệm trong xây dựng đội ngũ cán bộ.
2.3. Vấn đề tạo nguồn cán bộ
Bài viết “Xuất phát từ đại cục, hướng tới lâu dài, cố gắng xây dựng

vững mạnh với đội ngũ CB,CC vững vàng người DTTS làm nòng cốt.
1.1.1.2. Hệ thống chính trị các xã ở Tây Nguyên
HTCT các xã ở Tây Nguyên gồm các tổ chức được pháp luật công
nhận: Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
CT-XH (Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam; Hội Cựu chiến binh Việt Nam).
HTCT các xã ở Tây Nguyên được hình thành từ năm 1975, nay cơ bản ổn
định về tổ chức. Bộ máy, chức danh CB,CC được xây dựng theo quy định
chung, song có những vận dụng phù hợp với yêu cầu của từng xã. Chất
lượng hoạt động của HTCT không đồng đều, phụ thuộc vào chất lượng
CB,CC và độ phức tạp ở mỗi địa bàn. Cơ sở vật chất, phương tiện làm
việc, chế độ, chính sách đối với CB, CC chưa đáp ứng đủ nhu cầu thiết yếu
của đời sống và công tác.
1.1.1.3. Các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
* Đặc điểm các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên liên quan đến việc tạo
nguồn cán bộ, công chức xã: Các DTTS có lịch sử biến thiên phức tạp,
ngày càng đa dạng về nguồn gốc, phong phú về thành phần, đông đảo về
số lượng, có sự khác biệt về địa bàn cư trú và tập quán sống; văn hóa các
DTTS Tây Nguyên giàu bản sắc, thống nhất trong đa dạng do sự giao thoa,
tiếp biến lâu dài; phong tục, tập quán cổ truyền chi phối đời sống tâm lý
12

người dân, mang tính tích cực, tiến bộ lẫn tiêu cực, lạc hậu; đồng bào các
DTTS đang trong quá trình nâng cao trình độ học vấn, nhưng nhìn chung
mặt bằng dân trí còn thấp; một bộ phận đồng bào DTTS đang khá lên về
kinh tế, song đa phần chưa thoát khỏi đói nghèo do tập quán canh tác lạc
hậu và tâm lý ỷ lại vào sự ưu đãi của Nhà nước. * Vai trò của đồng bào các
DTTS ở Tây Nguyên: Đồng bào các DTTS là chủ nhân lâu đời của vùng
đất Tây Nguyên, là người sáng tạo, phát triển và bảo tồn giá trị văn hóa
Tây Nguyên; Cộng đồng các DTTS đã góp phần to lớn vào lịch sử dựng

tập quán lạc hậu, tiêu cực trong quá trình thực thi nhiệm vụ; công tác trên
địa bàn phức tạp, chịu sức ép từ nhiều phía (điều kiện sống; các thế lực thù
địch; tập quán dân tộc; các mâu thuẫn xã hội ), nên nguy cơ sai lầm cao.
* Vai trò của đội ngũ CB, CC xã người DTTS ở Tây Nguyên:
CB, CC xã người DTTS là người góp phần xây dựng và trực tiếp tổ
chức cho nhân dân, nhất là đồng bào DTTS thực hiện chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước ở xã; CB, CC xã người DTTS là người có ảnh
hưởng quan trọng, tích cực đối với cộng đồng DTTS; CB, CC người DTTS
tạo nên sự cân bằng, hài hòa về chất lượng hoạt động của HTCT cơ sở.
1.1.2.2. Nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các
tỉnh Tây Nguyên
* Khái niệm: Nguồn CB, CC xã người DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên
là đội ngũ những người DTTS được phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng, bảo
đảm sẵn sàng cho việc bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm các chức danh CB,
CC xã trên địa bàn Tây Nguyên.
* Phân loại nguồn CB, CC xã: Nguồn gần (nguồn trực tiếp, nguồn kế
cận) là những người đã nằm trong quy hoạch của cấp ủy, gắn với một số
chức danh cụ thể, có tiêu chuẩn, điều kiện phù hợp (hoặc gần phù hợp) với
14

tiêu chuẩn chức danh được quy hoạch, có thể đưa ngay vào danh sách bầu
cử, bổ nhiệm khi có nhu cầu sắp xếp, kiện toàn đội ngũ CB, CC. Nguồn xa
(nguồn dài hạn): là những người đã được dự kiến, định hướng quy hoạch
vào diện CB, CC nguồn, nhưng không gắn với chức danh cụ thể, cần được
đầu tư nhiều, nhất là đào tạo, bồi dưỡng mới đạt tới tiêu chuẩn chức danh.
* Vai trò của nguồn CB, CC xã người DTTS ở Tây Nguyên: Nguồn
CB, CC người DTTS là đội ngũ những người được chuẩn bị cho việc sẵn
sàng bổ sung vào lực lượng CB, CC, vì vậy số lượng, cơ cấu và chất lượng
nguồn CB, CC là yếu tố quan trọng trong quyết định số lượng, cơ cấu và
chất lượng của đội ngũ CB, CC; Nguồn gần đa phần là những CB, CC

- Chủ thể tạo nguồn: Tạo nguồn CB, CC xã người DTTS là trách
nhiệm của Đảng, từ Trung ương đến cơ sở, nhưng trực tiếp là các tỉnh ủy,
huyện ủy và đảng ủy xã ở Tây Nguyên.
- Các lực lượng tham gia tạo nguồn: Các cơ quan nhà nước ở Trung
ương và các tỉnh Tây Nguyên; các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của
Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các ban, ngành; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
CT-XH, các lực lượng xã hội khác.
* Đối tượng tạo nguồn CB, CC xã người DTTS
- Đối tượng tạo nguồn xa: học sinh, sinh viên, lao động trẻ, thanh niên
hoàn thành nghĩa vụ quân sự; hội viên các đoàn thể quần chúng; cán bộ
hoạt động không chuyên trách ở xã và thôn, buôn.
- Đối tượng tạo nguồn gần cho công chức: học sinh, sinh viên đã tốt
nghiệp đáp ứng yêu cầu ngành chuyên môn của cấp xã; cán bộ hoạt động
không chuyên trách.
16

- Đối tượng tạo nguồn gần cho cán bộ: CB, CC, cán bộ không
chuyên trách ở xã và thôn, buôn; giáo viên phổ thông, sĩ quan, hạ sĩ
quan quân đội, CB, CC trẻ có triển vọng đang công tác ở cấp huyện.
1.2.2. Nội dung, phương thức tạo nguồn cán bộ, công chức xã
người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên
Gồm: Xây dựng tiêu chuẩn, cơ cấu nguồn CB, CC xã người DTTS ở
Tây Nguyên; phát triển giáo dục - đào tạo, nâng cao dân trí, bồi dưỡng
nhân tài vùng đồng bào DTTS để tạo nguồn xa và tăng cường đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ nguồn gần; thông qua phong trào quần chúng để
phát hiện, bồi dưỡng nguồn, kết nạp đảng viên mới nhằm tạo nguồn CB,
CC xã người DTTS; thu hút đối tượng tạo nguồn CB, CC xã người DTTS
vào các tổ chức trong HTCT cơ sở, điều động, luân chuyển, bố trí qua các
vị trí công tác khác nhau để đào tạo, bồi dưỡng nguồn; quy hoạch nguồn
cán bộ xã người DTTS theo từng chức danh; thực hiện các chính sách hỗ

trình độ các mặt đang từng bước nâng lên, nhiều nơi đạt và vượt chuẩn.
2.1.2. Hạn chế: Cơ cấu, tỷ lệ nguồn CB, CC người DTTS so với cơ
cấu dân tộc, tỷ lệ dân số chưa tương ứng. Số lượng nguồn xa thiếu ổn định.
Nguồn đang công tác ở thôn, buôn hạn chế về trình độ, kỹ năng; khả năng
phát triển không nhiều. Một bộ phận cán bộ nguồn đã qua đào tạo chính
quy vẫn không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tỷ lệ nguồn cán bộ chưa được
đào tạo chuyên môn, nguồn công chức chưa được đào tạo lý luận chính trị
còn khá lớn lớn.
2.2. THỰC TRẠNG TẠO NGUỒN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN HIỆN NAY
2.2.1. Ưu điểm: Việc cụ thể hóa tiêu chuẩn, cơ cấu nguồn CB, CC xã
người DTTS đang từng bước triển khai. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo, nâng
cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài vùng DTTS được đầu tư, duy trì và phát
18

triển; việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ các mặt cho nguồn CB, CC
được triển khai quyết liệt, góp phần quan trọng trong chuẩn hóa nguồn gần,
tạo cơ sở chuẩn hóa nguồn xa. Thông qua phong trào quần chúng, nhiều
nhân tố tích cực được phát hiện, bồi dưỡng và kết nạp đảng. Việc thu hút
nguồn người DTTS vào tổ chức; điều động, luân chuyển, bố trí sử dụng
vào các chức danh CB, CC, cán bộ không chuyên trách, công chức dự bị đi
dần vào nền nếp. Quy hoạch nguồn cấp ủy và các chức danh chủ chốt trong
HTCT xã được thực hiện bài bản, nghiêm túc. Một số chính sách hỗ trợ tạo
nguồn mang lại hiệu quả rõ rệt, nhất là chính sách cử tuyển đào tạo và duy
trì, phát triển nguồn.
2.2.2. Hạn chế: Đa phần các địa phương chưa xây dựng tiêu chuẩn
chức danh nguồn CB, CC xã người DTTS. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn chưa
đáp ứng nhu cầu chuẩn hóa. Ở nhiều nơi, việc xây dựng môi trường để rèn
luyện, phát hiện nguồn, việc phát triển đảng viên mới người DTTS nhằm
mục tiêu tạo nguồn thiếu chủ động. Việc thu hút, tiếp nhận, điều động, luân

Nguyên để có cơ sở tổ chức tạo nguồn sát hợp với tình hình thực tế, phát
huy được vai trò của các lực lượng tham gia.
- Các cấp ủy đảng, chính quyền có sự quyết tâm cao độ trong xây
dựng chủ trương, định hướng chỉ đạo, điều hành, quản lý, phối hợp đồng
bộ, nhịp nhàng các lực lượng tiến hành công tác tạo nguồn.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước và
toàn xã hội cho công tác tạo nguồn CB, CC xã người DTTS.
- Thường xuyên giám sát, kiểm tra đối với từng nội dung tạo nguồn cụ
thể; nghiêm túc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm và điều chỉnh kịp thời để
đảm bảo mục tiêu.
20

2.3.3.2. Những vấn đề đặt ra hiện nay
Một là, quy định tiêu chuẩn về trình độ các mặt của cán bộ, công chức
cấp xã vùng miền núi không còn phù hợp với mặt bằng dân trí và yêu cầu
nhiệm vụ chính trị ở Tây Nguyên. Hai là, chính sách ưu tiên, hỗ trợ lâu
dài, dàn trải của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng bào DTTS đang tạo ra
tâm lý trông chờ, ỷ lại trong một bộ phận người DTTS ở Tây Nguyên. Ba
là, thiếu chính sách hỗ trợ phù hợp để thay thế CB, CC xã người DTTS hạn
chế về năng lực, trình độ bằng đội ngũ nguồn đạt chuẩn. Bốn là, nguồn CB,
CC xã người DTTS tại chỗ hạn chế về chất lượng, nguồn thu hút ngoài địa
phương có chất lượng cao nhưng không yên tâm công tác lâu dài ở xã.

Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU ĐẨY MẠNH TẠO NGUỒN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC
TỈNH TÂY NGUYÊN ĐẾN NĂM 2020

3.1. DỰ BÁO NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG

người DTTS được nâng lên. Số lượng nguồn phong phú, cơ cấu đa dạng.
Nguồn ổn định, đảm bảo cho cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể chủ
động trong bầu cử, bổ nhiệm, tuyển dụng CB, CC khi cần thiết.
1.1.2.3. Quan điểm định hướng đẩy mạnh công tác tạo nguồn cán
bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
Một là, CB, CC xã người DTTS là nhân tố quyết định sự thành bại của
sự nghiệp phát triển nền KT-XH ở Tây Nguyên, là khâu then chốt trong
công tác xây dựng Đảng nơi có đông đồng bào DTTS sinh sống. Hai là,
22

tạo nguồn CB, CC xã người DTTS phải xuất phát từ chiến lược phát triển
KT-XH, giữ vững quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên. Ba là, tạo
nguồn CB, CC xã người DTTS phải trên cơ sở đặc điểm kinh tế, chính trị,
văn hóa Tây Nguyên, đặc điểm các DTTS Tây Nguyên; phát huy khối
đoàn kết các dân tộc; trọng dụng nhân tài, không phân biệt dân tộc, tôn
giáo, nguồn tại chỗ hay nguồn nơi khác đến. Bốn là, gắn việc tạo nguồn
CB, CC xã người DTTS với xây dựng HTCT xã trong sạch, vững mạnh.
Năm là, thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân
dân vùng DTTS, nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng nguồn. Sáu là,
các cấp ủy đảng thống nhất lãnh đạo công tác tạo nguồn và quản lý đội
ngũ nguồn theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trách nhiệm của
các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong HTCT các cấp.
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TẠO
NGUỒN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN ĐẾN NĂM 2020
3.2.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của chủ thể, các lực lượng
tham gia tạo nguồn và đối tượng tạo nguồn cán bộ, công chức xã người
dân tộc thiểu số
Đẩy mạnh giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao nhận thức,

định. Hỗ trợ cho các cơ quan, đơn vị trực tiếp tham gia tạo nguồn. Đánh giá
hiệu quả chính sách tạo nguồn, tìm ra những vướng mắc để giải quyết.
3.2.3. Củng cố, phát triển, giao trách nhiệm cụ thể cho hệ thống các
trường dân tộc nội trú, các cơ sở giáo dục - đào tạo trên địa bàn Tây
Nguyên tham gia tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số
Để tạo nguồn xa, lâu dài cho CB, CC người DTTS cần đầu tư cơ sở
vật chất, đổi mới phương thức quản lý, nội dung chương trình đào tạo
24

cho các trường dạy con em đồng bào DTTS. Thường xuyên bồi dưỡng,
tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, giáo viên. Tăng cường
các điều kiện hỗ trợ hoạt động lên lớp và công tác quản lý của cán bộ,
giáo viên. Nâng cao chất lượng đầu vào của học sinh người DTTS. Đổi
mới nội dung đào tạo nguồn CB, CC người DTTS trong hệ thống trung
tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, trường chính trị cấp tỉnh, trường
nghiệp vụ của các bộ, ngành. Chú ý các kỹ năng lãnh đạo, điều hành
hoạt động các tổ chức trong HTCT; kỹ năng tuyên truyền, vận động
quần chúng; xử lý tình huống chính trị. Thu hẹp hoặc mở rộng một số
nội dung đào tạo nguồn công chức xã phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Phát triển tốt hệ bổ túc văn hóa, kết hợp chuẩn hóa trình độ học vấn với
chuẩn hóa lý luận chính trị - hành chính trong cùng một thời gian đào
tạo nhằm đẩy nhanh việc “trả nợ” chuẩn đối với một bộ phận CB, CC
người DTTS.
3.2.4. Xây dựng, củng cố và phát huy vai trò hệ thống chính trị xã,
lực lượng người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở thôn,
buôn trong tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số
Xây dựng đảng bộ xã, các chi bộ trực thuộc đảng ủy xã trong sạch,
vững mạnh. Xây dựng chính quyền xã thực sự là của dân, do dân và vì dân,
hoạt động đồng bộ, nhịp nhàng, đúng chức năng, nhiệm vụ và hiệu quả.
Xây dựng Mặt trận và các đoàn thể CT-XH vững mạnh, gắn mục tiêu tạo

dựng và thực hiện các chủ trương, đề án, kế hoạch tạo nguồn CB, CC xã ở
các cấp; thường xuyên đánh giá, rút kinh nghiệm.

Trích đoạn DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI CỦA TÁC GIẢ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status