Tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh tây nguyên giai đoạn hiện nay ( Luận án tiến sĩ) - Pdf 48

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG THỊ BẠCH YẾN

TẠO NGUỒN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2014


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG THỊ BẠCH YẾN

TẠO NGUỒN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành : Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số́

: 62 31 23 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2014



KINH NGHIỆM VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

2.1. Thực trạng nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở
các tỉnh Tây Nguyên hiện nay
2.2. Thực trạng tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu
số ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
ĐẨY MẠNH TẠO NGUỒN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TỈNH TÂY
NGUYÊN ĐẾN NĂM 2020

3.1. Dự báo những yếu tố tác động và phương hướng tạo nguồn cán
bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên
đến năm 2020
3.2. Những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh công tác tạo nguồn cán bộ,
công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên đến
năm 2020
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

28
28
54

76
76
82


HĐND

: Hội đồng nhân dân

HTCT

: Hệ thống chính trị

KT-XH

: Kinh tế - xã hội

Nxb

: Nhà xuất bản

PGS

: Phó giáo sư

ThS

: Thạc sĩ

TS

: Tiến sĩ

UBND

cán bộ. Bước vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(CNH, HĐH) đất nước, việc chủ động phát hiện tài năng trẻ, cán bộ có triển
vọng đưa vào quy hoạch dự nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, tăng tỷ lệ cán bộ trẻ, xuất
thân từ công nhân, nông dân, con em các gia đình có công với cách mạng, cán bộ
dân tộc thiểu số (DTTS), cán bộ nữ, không phân biệt đảng viên hay quần
chúng... được các cấp bộ đảng quán triệt sâu sắc và quyết liệt tổ chức thực hiện,
mang lại những chuyển biến tích cực về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tổ chức đảng ở nhiều địa phương, đơn vị trên cả nước.


2

Tây Nguyên là địa bàn chiến lược của cả nước, nơi cư trú của hơn 5,2 triệu
người, trong đó có gần 2 triệu người thuộc 46 DTTS (chiếm tỷ lệ 37,84% số dân).
Đội ngũ CB, CC cấp cơ sở hiện có trên 23.500 người, trong đó 26,8% là người
DTTS. Bên cạnh cán bộ người Kinh đến từ nhiều nguồn, đội ngũ cán bộ người
DTTS đang đóng một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội
(KT-XH), giữ vững ổn định an ninh, trật tự ở cơ sở, nhất là các xã có đông đồng
bào DTTS sinh sống. Đó là kết quả của quá trình tạo nguồn và xây dựng đội ngũ
cán bộ cơ sở có kế hoạch của các cấp ủy đảng ở Tây Nguyên, đặc biệt là từ khi có
Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước của Đảng.
Tuy nhiên, trước yêu cầu đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới
theo hướng CNH, HĐH, xét một cách toàn diện, đội ngũ CB, CC xã là người
DTTS ở Tây Nguyên hiện vẫn còn không ít hạn chế. Số lượng, cơ cấu thành
phần, năng lực, trình độ, mức độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cả đội ngũ chưa
đồng bộ. Khá phổ biến tình trạng cán bộ có trình độ thấp; năng lực bao quát,
quyết đoán trong chỉ đạo thực tiễn không cao; có nơi bắt đầu hẫng hụt cán bộ sau
khi lớp cán bộ trưởng thành trong kháng chiến nghỉ công tác... Thực tế đó tạo
nên trở ngại lớn cho việc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở một địa bàn miền
núi chiến lược trọng yếu đông đồng bào DTTS sinh sống.

trò của CB, CC và nguồn CB, CC xã người DTTS ở Tây Nguyên.
- Làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức, vai trò tạo nguồn CB, CC xã
người DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên.
- Đánh giá đúng thực trạng nguồn và công tác tạo nguồn CB, CC xã người
DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên, rút ra nguyên nhân của thực trạng, những kinh
nghiệm và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn.
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh việc
tạo nguồn CB, CC xã là người DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
* Đối tượng nghiên cứu của Luận án: là tạo nguồn CB, CC xã người
DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên nước ta hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Luận án khảo sát, nghiên cứu việc tạo nguồn CB, CC xã người DTTS ở
5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắc, Đắk Nông, Lâm Đồng.


4

- Thời gian nghiên cứu từ khi có Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước ra đời đến nay, phương hướng, giải pháp đến năm 2020.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của Luận án
4.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
* Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công tác cán
bộ, công tác tạo nguồn cán bộ. Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các công
trình khoa học có liên quan đã được công bố.
* Cơ sở thực tiễn: Luận án được nghiên cứu từ thực tiễn xây dựng đội ngũ
cán bộ nói chung, công tác tạo nguồn CB, CC xã người DTTS ở các tỉnh Tây
Nguyên nói riêng, được phản ánh trong các văn bản báo cáo, các bảng biểu
thống kê lưu trữ của các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể và các cơ quan

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả liên
quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của Luận
án gồm Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và 3 chương, 6 tiết.


6

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Xây dựng đội ngũ cán bộ, trong đó có tạo nguồn cán bộ của đảng cộng sản
là vấn đề đã được trình bày trong nhiều tác phẩm kinh điển của C.Mác,
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh; bài viết của các lãnh tụ của Đảng, Nhà
nước; công trình nghiên cứu của các nhà khoa học. Trong thời gian gần đây, có
thể tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án như sau:
I. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM

1.1. Những nghiên cứu liên quan đến công tác cán bộ và tạo nguồn
cán bộ nói chung
Công tác cán bộ là khâu then chốt trong toàn bộ hoạt động xây dựng Đảng
Cộng sản Việt Nam. Bài học mà V.I.Lênin từng tổng kết: “Trong lịch sử, chưa
hề có một giai cấp nào nắm được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được
trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có
đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [82, tr.473] trở thành mối quan tâm
hàng đầu của Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Khi Đảng ta tiến
hành công cuộc đổi mới, đặc biệt là từ khi Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ra đời (1997) đến nay, nhiều công trình
khoa học được triển khai, đề cập tổng thể những vấn đề lý luận và thực tiễn công
tác cán bộ của Đảng.
Sách “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ
thống chính trị đổi mới” (1998) của PGS,TS Trần Xuân Sầm (chủ biên) và sách
“Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thời kỳ đẩy

quan điểm, mục tiêu, phương hướng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng
đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH. Luận án có thể kế thừa
các kết quả nghiên cứu trên để vận dụng vào việc làm rõ vai trò của đội ngũ CB, CC
và những yêu cầu đặt ra trong tạo nguồn CB, CC xã người DTTS ở Tây Nguyên.
Bài viết “Công tác cán bộ và việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của
Đảng” (2004) của Vũ Văn Hiền và Tạ Xuân Đại (Hội thảo lý luận giữa Đảng
Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc: Xây dựng đảng cầm quyền kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc) khẳng định công tác
cán bộ của Đảng ta là vấn đề then chốt của nhiệm vụ then chốt; xây dựng đội


8

ngũ cán bộ chủ chốt là điều cốt lõi của vấn đề then chốt, vì vậy cần chuẩn bị
chiến lược cán bộ, với nội dung quan trọng là tạo nguồn, xây dựng quy hoạch và
chăm lo bồi dưỡng, đào tạo, giáo dục cán bộ.
Đối với hai khâu quan trọng của công tác cán bộ là đào tạo và luân chuyển,
có các công trình: Đề tài khoa học cấp Bộ (1998-1999) “Những căn cứ lý luận và
thực tiễn xác định nội dung, chương trình đào tạo cán bộ chủ chốt cơ sở miền núi
đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn hiện nay” do TS Trần Ngọc Uẩn
(Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) làm chủ nhiệm, nhấn mạnh việc xây
dựng một chương trình phù hợp phải được coi là nội dung cốt lõi trong công tác
đào tạo cán bộ. Đề tài độc lập cấp Nhà nước (2002)-07 "Cơ sở lý luận và thực tiễn
đánh giá, luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đạ hóa đất nước", chủ nhiệm PGS, TS Trần Đình Hoan lần đầu tiên bàn về công
tác luân chuyển với tư cách là khâu góp phần đào tạo cán bộ qua thực tiễn. Luân
chuyển gắn liền với quy hoạch, và có thể theo 3 hướng: luân chuyển ngang, trên
xuống, dưới lên. Vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nơi đi và nơi đến của
cán bộ luân chuyển đều được nhấn mạnh. Những vấn đề liên quan đến chế độ
chính sách hỗ trợ đời sống, điều kiện, phương tiện để hoàn thành tốt nhất nhiệm
vụ cũng là nội dung được tổng kết và đề xuất trong Đề tài. Những kết quả nghiên

bài “Vấn đề tạo nguồn trong quy hoạch cán bộ” bàn về hai cách tạo nguồn: từ xa và
trực tiếp. Theo tác giả, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, nâng cao dân trí là
cách tạo nguồn từ xa, còn việc đưa cán bộ vào hoạt động thực tiễn và phong trào
cách mạng của quần chúng để giáo dục, rèn luyện, đào tạo, sàng lọc là cách tạo
nguồn trực tiếp từng loại cán bộ. Thực chất của tạo nguồn trực tiếp là “sự tiếp tục
đào tạo trong thực tiễn”, là “sự đào tạo trong quá trình sử dụng”, vì vậy cần sử dụng
đúng chuyên ngành đào tạo, bố trí công việc thích hợp, từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp. Trong tạo nguồn, không chỉ đòi hỏi cao về đạo đức, năng lực công tác
cán bộ, mà phải chú ý đến chính sách đãi ngộ, khuyến khích lợi ích vật chất, bởi nó
“như là một tất yếu đi đôi với những giá trị tinh thần và việc bồi dưỡng lý tưởng
cách mạng”. Những tiếp cận mang tính khái quát này là gợi mở quan trọng cho việc
xây dựng bộ khung lý thuyết về nội dung tạo nguồn của Luận án.
Đề tài khoa học cấp Bộ (2005) “Tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị cơ sở ở
các tỉnh Tây Bắc nước ta hiện nay” do TS Đoàn Minh Huấn làm chủ nhiệm, đưa ra


10

các khái niệm và cách tiếp cận vấn đề tạo nguồn cán bộ chủ chốt, phân tích đánh giá
thực trạng công tác tạo nguồn cán bộ chủ chốt cho HTCT cấp xã các tỉnh Tây Bắc
nước ta những năm qua. Đề tài cũng tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn trong việc tạo
nguồn cán bộ chủ chốt của HTCT cơ sở ở các tỉnh Tây Bắc qua việc nghiên cứu
hoạt động này ở một số trường chính trị trong khu vực, đề xuất những giải pháp đẩy
mạnh công tác tạo nguồn cán bộ HTCT cơ sở các tỉnh Tây Bắc trong thời gian tới.
Đề tài khoa học “Vấn đề tạo nguồn cán bộ các xã vùng sâu, vùng xa đặc biệt
khó khăn - thực trạng và giải pháp” (Mã số KHBD (2009) - 51) của ThS Trần Thị
Hương đưa ra khái niệm “Tạo nguồn cán bộ cơ sở cấp xã vùng cao, vùng xa đặc
biệt khó khăn là quá trình phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng những người
công tác tại cơ sở xã, thôn bản thuộc khu vực này, hoặc có thể là học sinh, sinh
viên, để giúp họ có đủ các điều kiện tiêu chuẩn của cán bộ cơ sở”. Khái niệm cho

xây dựng tiêu chuẩn nguồn (cơ cấu đội ngũ, phẩm chất cá nhân) để định hình mục
tiêu tạo nguồn; hay xây dựng môi trường (phong trào hành động cách mạng, cơ chế
chính sách…) để phát hiện, thu hút và thử thách, rèn luyện nguồn v.v.. khá quan
trọng nhưng chưa được đề cập trong phần lý luận chung về tạo nguồn cán bộ. Trên
cơ sở các kết quả nghiên cứu nói trên, Luận án sẽ tiếp tục khảo sát thực tiễn ở Tây
Nguyên và khảo cứu quan điểm của Đảng qua các giai đoạn lịch sử để xác định đầy
đủ hơn các nội dung tạo nguồn cán bộ.
1.2. Những nghiên cứu liên quan đến cán bộ cấp xã, cán bộ dân tộc
thiểu số và tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số
Xây dựng đội ngũ cán bộ của HTCT cấp xã là đối tượng nghiên cứu được
nhiều nhà khoa học quan tâm, không chỉ bởi vai trò của HTCT cấp cơ sở, mà
còn liên quan đến vai trò và thực tế việc xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ cán
bộ cơ sở, nhất là cán bộ chủ chốt ở đây. Nhiều sách, đề tài, luận án, luận văn, bài
viết đã phân tích sâu sắc, trên từng góc độ tiếp cận thực trạng của HTCT cấp cơ
sở, nhất là ở vùng nông thôn miền núi, vùng DTTS, với những khó khăn, vướng
mắc về điều kiện kinh tế - xã hội, về đội ngũ CB, CC, với nhiều nguyên nhân
khách quan, chủ quan, trong đó có 2 yếu tố quan trọng nhất: con người và cơ chế
- những điều kiện đảm bảo cho HTCT vững mạnh. Tiêu biểu như: sách: “Hệ
thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa đời sống xã hội vùng nông thôn miền
núi, vùng DTTS” của Nguyễn Quốc Phẩm chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà


12

Nội, 2000); sách: “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay” của
Hoàng Chí Bảo (Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005); sách “Hệ thống chính trị
cơ sở - thực trạng và một số giải pháp đổi mới” của Bộ Nội vụ - Viện nghiên cứu
khoa học tổ chức nhà nước (Nxb CTQG, Hà Nội, 2004); đề tài khoa học cấp Bộ
2007 “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở theo Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX)”
của ThS Nguyễn Thế Vịnh; luận văn thạc sĩ “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công

đồng; phải tăng cường sức mạnh cho đội ngũ này bằng việc điều động, luân
chuyển cán bộ nơi khác về; đồng thời cương quyết sàng lọc nguồn trong quá trình
tạo nguồn trên cơ sở tiêu chuẩn CB, CC do pháp luật quy định.
Sách “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Luận cứ và giải pháp” (2005) của TS Lê Thị
Phương Thảo, PGS, TS Nguyễn Cúc, TS Doãn Hùng đồng chủ biên (Nxb Lý luận
chính trị, Hà Nội) là tập hợp kết quả nghiên cứu của 34 nhà khoa học, tập trung
vào những vấn đề: lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, cùng một số các yếu tố tác động
về tâm lý, văn hóa tộc người liên quan đến vấn đề dân tộc, cán bộ DTTS, công tác
cán bộ DTTS; thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS nói chung
và trên một số lĩnh vực chuyên môn cụ thể. Nhiều giải pháp đổi mới công tác cán
bộ DTTS được đề xuất có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, thể hiện trong
các chuyên đề: Quy hoạch cán bộ DTTS trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH (của
TS Ngô Kim Ngân); Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng (của TS Nguyễn Hữu
Ngà); Phát huy vai trò của HTCT trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
DTTS (của TS Nguyễn Văn Sáu); Đổi mới chính sách ưu tiên đại học, cao đẳng
đối với con em đồng bào DTTS (của PGS, TS Ngô Kim Khôi); Đổi mới cơ cấu
đầu tư theo hướng tạo cơ hội phát huy năng lực nội sinh của đồng bào các DTTS
(của TS Hoàng Văn Hiện). Các kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần làm sâu sắc
thêm những luận giải trong chương 1 và chương 3 của Luận án.
Sách “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía
Bắc nước ta hiện nay” của Lô Quốc Toản (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2010) đưa ra định nghĩa khái niệm Nguồn cán bộ DTTS “là những người có
nguồn gốc xuất thân từ các DTTS, được tuyển chọn, được đào tạo, bồi dưỡng,
được rèn luyện, thử thách để bố trí, sắp xếp vào các cương vị công tác trong bộ


14



15

hóa xã hội và con người Tây Nguyên” (2005) của GS Nguyễn Tấn Đắc (Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội); sách “Kinh tế - xã hội các tỉnh miền Trung, Tây
Nguyên những năm đầu thế kỷ XXI - Thực trạng và xu hướng phát triển” (2007)
của PGS,TS Phạm Hảo chủ biên (Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội); sách “Một số
vấn đề về văn hóa - xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay” (2010)
của Dương Thị Hưởng, Đỗ Đình Hãng, Đậu Tuấn Nam đồng chủ biên (Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội) v.v.. Điểm chung của các công trình là phản ánh được điều
kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Tây Nguyên, sự tác động
của các yếu tố dân tộc, tôn giáo, sự chống phá của các thế lực thù địch... cùng
những giải pháp có tính đồng bộ về tận dụng lợi thế, tiềm năng, về xây dựng
HTCT cơ sở, xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS, về phát huy bản sắc văn hóa các
dân tộc để tiếp tục xây dựng Tây Nguyên ngày càng ổn định và phát triển.
Cùng với các công trình trên, tác giả Bùi Minh Đạo (Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội) trong sách “Tổ chức và hoạt động buôn làng trong phát triển bền
vững vùng Tây Nguyên” (2010) đề cập đến nhiều đặc trưng văn hóa, xã hội, con
người Tây Nguyên hình thành từ những tác động của điều kiện tự nhiên - xã hội.
Trong đó, có một yếu tố quan trọng được nhiều tác giả lưu ý, đó là hình thái tổ
chức xã hội cổ truyền “làng” (plei, plơi, buôn, bon) - đơn vị tự quản, cư trú độc
lập và duy nhất, có chung quy tắc ứng xử lệ tục. Mỗi làng là một thể chế kinh tế,
văn hóa, xã hội và một không gian sinh tồn tự nhiên khép kín. Đồng bào DTTS
sống trong làng, chịu sự quy định của lệ tục làng, và nhân cách con người cũng
từ đó mà được hình thành. Tuy nhiên hiện nay, làng của các DTTS Tây Nguyên
không còn là thực thể đơn nhất, mà bao trùm lên nó là hệ thống thể chế chính trị
của Nhà nước. Vì vậy buôn làng trở thành “cánh tay nối dài” của chính quyền xã
đến các hộ gia đình. Đặc trưng xã hội này là điểm cần chú ý để Luận án xác định
những yếu tố tác động (cả tích cực lẫn tiêu cực) đối với mỗi con người thuộc
cộng đồng các DTTS Tây Nguyên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status