MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỒNG DAO TRUYỀN THỐNG VỚI ĐỒNG DAO HIỆN ĐẠI TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới quý Thầy
Cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Văn học dân gian khóa 23 –
trường Đại học Sư phạm Hà Nội, những người đã truyền đạt cho tôi những
kiến thức chuyên ngành quý báu về Văn hóa dân gian, văn học dân gian , làm
cơ sở nền tảng cho tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS. TS Vũ Anh Tuấn,
người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thành đề tài này.
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình – chỗ dựa vững
chắc luôn tạo điều kiện nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện
luận văn. Tôi xin cảm ơn những anh chị học viên, những người bạn đã ủng
hộ, động viên tinh thần cho tôi trong thời gian học tập và làm đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi không tránh khỏi
những thiếu sót, kính mong các nhà khoa học, quý Thầy giáo, Cô giáo chỉ dạy
thêm để giúp tôi mở rộng kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi vào thực tiễn
giảng dạy và nghiên cứu sau này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Thùy


BẢNG KÊ CHỮ CÁI VIẾT TẮT
- ĐTMC

:

Đỗ Thị Minh Chính

- NND

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..............................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề..................................................................................................................2
3. Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu......................................................................................7
4. Mục đích – Nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................................7
5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................................8
6. Đóng góp của luận văn...................................................................................................10
7. Cấu trúc luận văn...........................................................................................................10

PHẦN NỘI DUNG..........................................................................................................11
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG...........................................................................11
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài................................................................................................11
1.1.1.Một số vấn đề chung về đồng dao truyền thống..........................................................................11
1.1.2. Một số vấn đề chung về đồng dao hiện đại.................................................................................15
1.1.3. Thi pháp văn học dân gian và thi pháp đồng dao........................................................................18

1.2.Cơ sở thực tiễn của đề tài.............................................................................................19
1.2.1.Đồng dao trong xã hội cổ truyền...................................................................................................19
1.2.2.Đồng dao trong xã hội hiện đại.....................................................................................................20

1.3.Bức tranh toàn cảnh đồng dao từ truyền thống đến hiện đại.........................................23
1.3.1.Khảo sát, phân loại các đề tài trong đồng dao truyền thống........................................................23
1.3.2.Khảo sát, phân loại các đề tài trong đồng dao hiện đại................................................................24
1.3.3. Nhận xét.......................................................................................................................................25

1.4. Tiểu kết chương 1.......................................................................................................26

CHƯƠNG 2: SỰ TƯƠNG ĐỒNG ....................................................................................27
GIỮA ĐỒNG DAO TRUYỀN THỐNG VỚI ĐỒNG DAO HIỆN ĐẠI.......................................27


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lý do khoa học
1.1.1. Đồng dao là một tiểu loại thuộc ca dao – dân ca của văn học dân
gian Việt Nam, là những lời hát ân tình gắn liền với kí ức hoạt động của trẻ
nhỏ. Bước vào thế giới đồng dao, mỗi người như được trở về với tuổi ấu thơ
hồn nhiên và trong sáng, với những vui đùa trong trẻo, với những lời ca vang
vọng xóm làng, ngõ phố. Đồng dao mang đến cho những cô bé, cậu bé cả
một thế giới tươi vui, sống động, đam mê. Thời gian trôi đi nhưng hành trang
ấu thơ với những câu hát, lời ru, sự trong trẻo của những khúc hát đồng dao
còn in dấu, theo mãi trong tâm hồn của mỗi con người, giúp họ lạc quan,
thêm tình yêu cuộc sống.
1.1.2. Đồng dao là loại hình văn hóa dân gian mang đặc trưng lứa tuổi.
Nó là một tiểu loại mang những đặc trưng loại biệt của “văn nghệ” trẻ thơ.
Mặt khác, sự tồn tại của đồng dao là bằng chứng về sự bảo tồn và phát triển
nền văn hóa dân gian trong xu thế hội nhập hiện nay.
Các nhà nghiên cứu đương đại đã khẳng định sự tồn tại của văn học
dân gian hiện đại, và văn học dân gian hiện đại là sự tiếp nối của văn học dân
gian truyền thống, việc nghiên cứu nó vẫn đang được tiếp tục. Một trong
những vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm hiện nay là tiểu loại đồng
dao trong mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại. Đây là vấn đề vẫn đang
đặt ra tính thời sự để khảo sát, tìm hiểu . Chính những điều này đã thôi thúc
chúng tôi đến với đề tài “Mối quan hệ giữa đồng dao truyền thống với đồng
dao hiện đại trong văn học dân gian người Việt”.
1.2. Lý do cá nhân
Là một giảng viên trẻ giảng dạy Văn học tại khoa Giáo dục Mầm non,
trực tiếp đứng lớp dạy phần Văn học Dân gian Việt Nam, được thường xuyên

1

2


tác điền dã. Đặc biệt, các bài hát đồng dao trong công trình này được chú
thích, ghi rõ xuất xứ nguồn nguồn tài liệu. Việc làm này rất thuận tiện cho
công tác nghiên cứu.
Nhóm nghiên cứu phân chia cuốn sách làm 3 phần và việc đưa thêm
phần hai và phần ba vào cuốn sách là việc làm có ý nghĩa. Về vấn đề này, nhà
nghiên cứu Nguyễn Phương Châm có ý kiến nhận xét: Phần hai cho phép các
nhà nghiên cứu có cái nhìn động đối với đồng dao, thấy được sự phát triển và
biến đổi của thể loại này theo thời gian và cũng là sự gợi mở một hướng
nghiên cứu đang được chú ý hiện nay là sự ảnh hưởng qua lại giữa những
sáng tác dân gian và văn chương bác học. Phần ba cho độc giả một cái nhìn
hệ thống trong việc nghiên cứu đánh giá về đồng dao từ đầu thế kỷ đến nay
và điều mà người đọc nhận thức được qua phần này là giới nghiên cứu còn ít
quan tâm đến đồng dao, chưa thực sự nghiên cứu nó công phu như đã làm với
một số thể loại khác gần nó như ca dao, dân ca… Điều này là một gợi ý đối
với đề tài mà chúng tôi đang theo đuổi.
2.1.2. Trần Gia Linh trong cuốn “Kho tàng đồng dao Việt Nam” [21]
đã thống kê được 279 bài, chia làm 6 chủ đề lớn. Cuốn sách đã cung cấp cho
người đọc một cái nhìn hệ thống về các bài hát đồng dao truyền thống từ xưa
đến nay. Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại ở việc tuyển tập, sưu tầm và phân
loại theo nội dung của tác phẩm mà chưa cho người đọc thấy được một trong
những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian là chức năng diễn xướng. Các
bài đồng dao gắn với các trò chơi của trẻ cũng chưa diễn giải được hết mà
mới chỉ dừng lại ở mức độ miêu tả đơn giản một số bài quen thuộc như: Mèo
săn chuột, Rồng rắn… Mặt khác, việc phân loại như tác giả còn có sự trùng
lặp, chưa thực sự rõ nét.
2.1.3. Cuốn sách “Đồng dao Việt Nam” [4] của Nguyễn Nghĩa Dân đã
mang đến một cái nhìn tổng hợp về hệ thống đồng dao Việt Nam nói chung.

và phổ nhạc được một số bài đồng dao theo lời đồng dao truyền thống hoặc
viết lời mới, nhạc mới cho các bài đồng dao dành cho lứa tuổi mầm non và
4


tiểu học. Đây là một trong những đóng góp lớn của luận án vào nền văn học
dân gian hiện đại.
2.1.6. Năm 2013, Đồng dao Việt Nam – Câu đố và trò chơi Việt Nam
[44] ra đời được chia làm năm phần rõ ràng. Điều đặc biệt của cuốn sách này
là ngay ở phần một tác giả đã có một cái nhìn tổng quan về hệ thống đồng
dao, tập hợp được bộ phận đồng dao của các dân tộc thiểu số (phần 2), phân
loại được các bộ phận của hát đồng dao (phần 4) và miêu tả kĩ một số trò chơi
đồng dao ở phần 5. Tác giả của cuốn sách còn chú trọng đặt tên cho từng bài
đồng dao để dễ theo dõi.
2.1.6. Những năm gần đây, văn học dân gian các dân tộc thiểu số ngày
càng được giới nghiên cứu quan tâm. Với đề tài “Đồng dao dân tộc Tày ở
Việt Nam”[13], Nông Thị Huế đã khái quát tương đối đầy đủ những thuộc
tính bản chất của tiểu loại này trong hệ thống văn học dân gian dân tộc Tày.
Tác giả luận văn đã phần nào cho người đọc thấy được những nét đặc sắc về
nội dung và hình thức nghệ thuật của đồng dao dân tộc Tày. Trên cơ sở
những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của đồng dao, tác giả khẳng định giá
trị và vai trò to lớn của tiểu loại này trong hệ thống thể loại của nền văn học
dân gian nước nhà. Đồng thời, góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị dân
gian và bản sắc văn hóa dân tộc Tày.
2.1.7. Năm 2014 với đề tài “Đồng dao dân tộc Thái ở Tây Bắc” [3],
tác giả Đỗ Viết Cường đã tập hợp một cách hệ thống 144 bài đồng dao dân
tộc Thái Tây Bắc, bổ sung vào nguồn tư liệu văn học dân gian nói chung và
văn học dân gian Thái nói riêng. Đồng thời trong công trình của mình, tác giả
luận văn đã chỉ ra những phương hướng và cách thức bảo tồn và phát huy giá
trị tinh thần của đồng dao Thái ở Tây Bắc.

độ văn học dân gian. Chính điều này đã thôi thúc chúng tôi đến với đề tài này để
tham gia vào việc tiếp cận, khám phá, lí giải vấn đề một cách hệ thống, đầy đủ
và khoa học.

6


Đề tài mà chúng tôi hướng tới là “Mối quan hệ giữa đồng dao truyền
thống với đồng dao hiện đại trong văn học dân gian người Việt” với mong
muốn được góp thêm một tiếng nói vào việc nghiên cứu tiểu loại văn học này
trong văn học dân gian Việt Nam.
3. Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát các tác phẩm đồng
dao của người Việt qua một số phương diện về nội dung, nghệ thuật, gắn với
một số trò chơi dân gian tiêu biểu có liên quan đến các bài đồng dao đã được
trích dẫn. Điều đó cho chúng tôi có cách nhìn khái quát và tổng quan hơn về
bước chuyển tiếp từ truyền thống đến hiện đại của tiểu loại này.
Đồng dao khảo sát trong luận văn được chúng tôi thu thập và tổng hợp
từ các nguồn tài liệu sau:
• Tài liệu điền dã:
- Các bài hát đồng dao được chúng tôi ghi chép lại qua những lần đi
thực tế ở các trường mầm non, do các bé chơi và hát.
- Các bài đồng dao do người viết ghi lại qua trí nhớ của bản thân
trong quá trình tham gia diễn xướng thời thơ ấu.
• Tài liệu văn bản
- Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt [23]
- Kho tàng đồng dao Việt Nam [21]
- Đồng dao Việt Nam [4]
- Gọi mưa [42]
• Tài liệu internet

trong tương quan với tiểu loại đồng dao truyền thống.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương
pháp nghiên cứu sau đây:
5.1. Phương pháp tiếp cận hệ thống
Xuất phát từ quan niệm mỗi bài đồng dao là sự tập hợp các yếu tố có
mối quan hệ chặt chẽ, chịu sự chi phối lẫn nhau và chịu sự tác động của hoạt
động diễn xướng, chính vì vậy trong quá trình nghiên cứu chúng tôi coi đồng

8


dao từ truyền thống đến hiện đại là một chỉnh thể hệ thống để tiếp cận nghiên
cứu, không tách từng yếu tố, từng bộ phận ra để nghiên cứu.
5.2. Phương pháp tổng hợp tư liệu, thống kê, phân tích
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, chúng tôi sử dụng phương pháp
này để tiến hành thống kê và tổng hợp các tác phẩm đồng dao, phân loại các
chủ đề của tiểu loại... Việc thống kê, phân loại sẽ giúp chúng tôi có những
căn cứ xác đáng để tìm hiểu, nhận xét, kết luận mang tính khoa học về những
đặc điểm của đồng dao.
Dựa vào kết quả của thống kê, phân loại chúng tôi tiến hành phân tích
văn bản đồng dao để thấy được giá trị nội dung và ý nghĩa nhân sinh gắn với
hoạt động diễn xướng, từ đó tổng hợp lại để rút ra những nhận xét và đánh
giá. Mặt khác, qua quá trình phân tích, chứng minh, chúng tôi có thể nhìn
nhận sâu sắc hơn nhiều vấn đề trong các tác phẩm đồng dao ở nhiều khía
cạnh khác nhau.
5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Sử dụng phương pháp này giúp chúng tôi có cái nhìn khái quát về nội
dung các tác phẩm đồng dao truyền thống và đồng dao hiện đại. Việc so sánh
văn học sẽ có tác dụng làm nổi bật lên những nét riêng và sự kế thừa của đồng

Chương 3: Nhữ ng đặ c điể m mớ i củ a đồ ng dao hiệ n đạ i trong mố i
quan hệ so sá nh vớ i đồ ng dao truyề n thố ng

10


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Một số vấn đề chung về đồng dao truyền thống
1.1.1.1. Khái niệm đồng dao truyền thống
Đồng dao là một dạng thức văn hóa dân gian dành cho trẻ em, xuất
hiện từ khá sớm và được lưu truyền rộng rãi. Tuy nhiên, vấn đề khái niệm
đồng dao trong khoa học văn học dân gian vẫn còn những ý kiến khác nhau.
Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam [40], tác giả Hoàng Tiến Tựu
trong khi nghiên cứu về ca dao đã dành một phần giới thiệu về đồng dao. Tác
giả đưa ra định nghĩa vắn tắt “đồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ
em” [40, tr.143]. Chúng bao gồm cả những bài vè (vè kể chim, kể quả…), bài
ca gọi trâu, gọi nghé và một số lời sấm truyền, sấm ký. Như vậy, tuy coi đồng
dao là một bộ phận của ca dao, song trong quá trình phân tích, phân loại, tác
giả lại mở rộng sang cả một số thể loại văn học dân gian như vè.
Đồng tình với ý kiến của Hoàng Tiến Tựu, tác giả Trần Đức Ngôn
trong cuốn Văn học thiếu nhi Việt Nam [27] cũng cho rằng đồng dao không
thể được xác định như một thể loại văn học dân gian riêng biệt được. Tuy
nhiên, ông cho rằng đây là khái niệm tập hợp những tác phẩm từ vài thể loại
khác nhau. Chúng bao gồm ca dao cho thiếu nhi (những bài hát ru, những bài
ca vui chơi) và những bài vè cho thiếu nhi [27, tr.41].
Nhà nghiên cứu Phạm Thu Yến trong cuốn Giáo trình văn học dân
gian [39] cũng có phần thống nhất với Hoàng Tiến Tựu khi phân loại đồng
dao vào phần ca dao, mục “Những bài hát cho trẻ em”. Theo tác giả, “Đồng

được trẻ em truyền miệng trong quá trình chơi, có nội dung và hình thức nghệ
thuật phù hợp với thế giới quan, tâm sinh lý và trình độ nhận thức của trẻ.

12


Mặt khác, Dan Ben-Amots cho rằng văn hóa dân gian là "Sự truyền
thông tin một cách nghệ thuật trong các nhóm nhỏ" [35, tr389]. Ông xem
folklore như một quá trình giao tiếp. Theo Dan Ben-Amots, folklore là hành
động diễn ra lúc đó, là hành động nghệ thuật. Nó bao gồm sự sáng tạo và đáp
ứng thẩm mĩ, cả hai đều hội tụ về hình thức nghệ thuật. Định nghĩa khẳng
định, folklore là một quá trình hiện thực, nếu tách ra ngoài giao tiếp thì không
mang tính nghệ thuật và folklore là một hành động giao tiếp chưa hoàn tất.
Như vậy, đồng dao truyền thống ra đời trong xã hội cổ truyền, lưu
truyền trong dân gian bằng hình thức giao tiếp – tức là truyền miệng. Trong
quá trình đó, nó biến đổi để thích nghi, không giữ nguyên “bản thảo” ban đầu
(tính dị bản). Sáng tạo và lưu truyền đồng dao phải luôn đi kèm yếu tố diễn
xướng, đây là một quá trình nghệ thuật có mối liên kết không thể tách rời.
1.1.1.2. Phân loại tiểu loại đồng dao truyền thống
Việc phân loại nhằm mục đích chia tách đối tượng để việc nghiên cứu,
phân tích được dễ dàng và chính xác. Với đồng dao, ngay trong nội hàm ý
nghĩa của nó còn nhiều tranh cãi nên việc phân loại cũng chưa có sự thống
nhất rõ ràng. Có nhiều ý kiến trái chiều trong vấn đề phân loại đồng dao.
Hoàng Tiến Tựu trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam [41] phân
loại đồng dao thành các bộ phận tương đối rõ ràng:
- Đồng dao gắn với công việc trẻ em phải đảm nhiệm hàng ngày, như
việc chăn trâu bò, việc giữ em.
- Đồng dao gắn với các trò chơi trẻ em.
- Đồng dao gắn với các nhu cầu hiểu biết, học hỏi mở mang trí tuệ.
- Sấm truyền, sấm ký do trẻ em hát. [41, tr.144]

gọi nghé. [32, tr.24-25]
Theo quan điểm của chúng tôi, cách phân loại của Chu Thị Hà Thanh
tương đối hợp lí, khoa học và chúng tôi kế thừa cách phân loại này để tiến
hành khảo sát, thống kê trong công trình của mình.

14


1.1.2. Một số vấn đề chung về đồng dao hiện đại
1.1.2.1. Thực tế tồn tại của đồng dao hiện đại
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đều khẳng định sự
tồn tại của văn học dân gian hiện đại trong đời sống xã hội hiện đại. Mặt
khác, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thảo cũng khẳng định sự tồn tại của ca
dao hiện đại “như một thể loại điển hình” [33, tr.49]. Như trên chúng tôi đã
quan niệm, đồng dao là một biệt loại của ca dao, tồn tại ca dao hiện đại tức là
không thể phủ nhận sự tồn tại của tiểu loại này. Đây là một tiểu loại khá tiêu
biểu và có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội nói chung, đời sống trẻ em
nói riêng. Nó không những không mất đi trong lòng xã hội hiện đại mà ngược
lại, nó tồn tại, phát triển và đi vào cuộc sống tâm hồn trẻ thơ một cách sâu sắc.
Với ưu thế ngắn gọn, dễ thuộc, vần điệu dễ nhớ nên đồng dao tạo được
sức hấp dẫn đối với cộng đồng nói chung và bộ phận trẻ em nói riêng. Người
lớn mượn đồng dao để dạy trẻ, dỗ trẻ, tạo sự chú ý cho trẻ. Trẻ coi đồng dao
là một bộ phận trò chơi không thể thiếu trong cuộc vui của mình. Ngoài ra,
chúng tôi nhận thấy rằng, đồng dao hiện đại tồn tại được là do nhu cầu và khả
năng sáng tạo của trẻ thơ. Đây có lẽ là yếu tố tiên quyết quyết định cho sự tồn
tại của đồng dao hiện đại.
Với những lý do trên, đồng dao hiện đại có cơ sở để tồn tại và phát
triển trong xã hội ngày nay.
Như đã nói ở phần Lịch sử nghiên cứu vấn đề, đồng dao hiện đại không
chỉ lưu truyền theo phương thức truyền thống (là truyền miệng) mà đã và

nghệ thuật trong đồng dao cổ truyền (đồng dao truyền thống) được cải biên và
những truyền thống nghệ thuật mới được xây dựng trên cơ sở tiếp thu truyền
thống nghệ thuật cổ truyền.
- Truyền thống nghệ thuật dân gian bao gồm cả nội dung và hình thức
nghệ thuật, song sự thể hiện rõ nét nhất ở hình thức nghệ thuật là ngôn ngữ,
thể thơ, công thức mở đầu và kết thúc trong mỗi bài đồng dao… Như vậy, chủ

16


yếu ở đây nhận diện theo tiêu chí hình thức – mặt tác động trực tiếp vào giác
quan người tiếp nhận.
Hai là: Đồng dao hiện đại ra đời và tồn tại trong môi trường diễn
xướng, được công nhận trong xã hội hiện đại. Tức là nhấn mạnh vai trò của
diễn xướng đối với sự tồn tại của đồng dao hiện đại.
Ba là: Đồng dao hiện đại có thể ra đời từ nhiều nguồn: từ những sáng
tác mô phỏng đồng dao truyền thống, từ những sáng tạo của các nhà văn hiện
đại trên con đường tìm về nguồn cội trong tiến trình hiện đại hóa văn học, từ
trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Điều quan trọng là, những tác phẩm đồng
dao hiện đại phải được dân gian hóa, lưu truyền rộng rãi trong dân gian bằng
hình thức truyền miệng, phù hợp với nghệ thuật diễn xướng dân gian.
Để đưa ra những tiêu chí nhận diện cho một thể loại văn học trong xã
hội mới không phải là điều đơn giản. Bởi lẽ, không phải thể loại văn học nào
cũng ra đời, tồn tại và phát triển giống nhau và tại một thời điểm. Việc lý giải
một cách thuyết phục tiêu chí nhận diện đồng dao hiện đại hiện nay còn là
một công việc khó. Chúng tôi chỉ hi vọng những phân tích trên sẽ góp phần
định hướng tiêu chí nhận diện và bản chất đồng dao hiện đại.
1.1.2.3. Khái niệm và phân loại đồng dao hiện đại
Đồng dao hiện đại ra đời và tồn tại trong giai đoạn lịch sử mới, bởi vậy
hoàn cảnh sáng tác, lực lượng sáng tác cùng những phương thức và phương

vận dụng lý thuyết thi pháp vào nghiên cứu vấn đề văn học. Cụ thể trong đề
tài của mình, chúng tôi tiến hành so sánh một số vấn đề của thi pháp giữa
đồng dao truyền thống với đồng dao hiện đại nhằm thấy được sự kế thừa và
đổi mới trong quá trình vận động của tiểu loại này.
Ở đây, ta mặc nhiên thừa nhận văn học dân gian như một loại của nghệ
thuật ngôn từ. Xét trên phương diện này sẽ thấy rằng, trong văn học dân gian
chỉ có sự khác biệt về thi pháp thể loại. Sở dĩ như vậy vì đặc thù của văn học
dân gian là phương thức sáng tác tập thể - truyền miệng, các sáng tác không

18


mang cá tính sáng tạo, không mang tính cá nhân nên không có thi pháp tác
gia; các tác phẩm không có tác giả cụ thể gắn liền với mỗi thời đại nên sẽ
không có phong cách thời đại, không có thi pháp thời kì văn học. Ở mỗi thể
loại sẽ thấy được tính điển hình về phương pháp lịch sử bởi nó được sáng tạo
theo nguyên tắc có tính lặp lại. Trong văn học dân gian, những yếu tố trùng lặp
chiếm một tỉ lệ lớn và có một vai trò quan trọng. Nó gắn liền với đặc điểm tư
tưởng nghệ thuật của sáng tác dân gian; nó trực tiếp liên hệ với tài năng văn
nghệ của nhân dân, với kinh nghiệm sống và thế giới quan của nhân dân.
Đồng dao là một hiện tượng văn học đặc biệt, bản thân nó chứa đựng
những đặc điểm nghệ thuật mang tính đặc thù làm nên nét riêng biệt. Chu Thị
Hà Thanh đã chứng minh rằng, trong đồng dao, nghệ thuật nhân hóa đóng vai
trò là phương tiện tu từ ngữ nghĩa tiêu biểu, điển hình và khái quát [32, tr.16].
Tương tự với thể thơ, tác giả cũng chứng minh rằng thể thơ tiêu biểu của tiểu
loại đồng dao là thể thơ bốn chữ, không phải lục bát như ca dao. Trong công
trình này chúng tôi tập trung tiến hành so sánh thi pháp đồng dao truyền thống
với hiện đại vì vậy chúng tôi kế thừa những thành tựu về thi pháp đồng dao đã
được nghiên cứu trước đó để thực hiện công trình của mình.
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài

sắc nét nhưng có lẽ ít nhiều cũng phản ánh tiến trình phát triển của đất nước.
Là Chồng lộng, chồng cà, ê hê… từ thời xa xưa; là Cầu thằng Bô đi tô đi tát,
đi hát nhà vong… có thể liên quan đến giai đoạn xã hội mà đạo giáo có ảnh
hưởng đến dân chúng hay trò chơi Đánh ô với lời bài hát Hết quan, toàn dân
kéo về… ít nhiều gắn với thời kì phong kiến (Dẫn theo Vũ Ngọc Khánh [17]).
1.2.2. Đồng dao trong xã hội hiện đại
Sự bùng nổ của khoa học công nghệ đã làm cho nền kinh tế thay đổi
từng giờ, kéo theo nó là sự thay đổi của mọi vấn đề trong cuộc sống. Ở nước
ta, những cánh đồng dần nhường chỗ cho những nhà máy, xí nghiệp; những

20


bờ lũy tre thành được thay thế bằng tường bê tông… cây xanh dần bị thu hẹp,
không gian thiên nhiên thay vì đầy nắng gió đã được thay thế bằng những
không gian nhân tạo cũng nhờ khoa học kĩ thuật mà ra. Chúng ta không phủ
nhận mặt tích cực mà công nghệ đem lại nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng
cần nhìn nhận trực tiếp và thẳng thắn về mặt hạn chế của nó. Không chỉ riêng
trẻ em thành thị thiếu không gian vui chơi mà ngay cả trẻ em nông thôn hiện
nay cũng “khát” khoảng không. Nếu như trước đây các em được nô đùa trên
những bãi đất trống, được vui chơi tập thể thì nay các em bị bó hẹp trong
không gian lớp học, thậm chí có trường ở thành thị còn không có nổi khoảng
sân cho các em học bộ môn thể dục. Những tập truyện văn học, truyện cổ tích
được thay thế bằng các tập truyện tranh ít chữ, nhiều hình, mang nặng tính
thông báo, mệnh lệnh. Thay vì giải trí bằng các trò chơi dân gian như nhảy
dây, đánh đáo, đánh chuyền… thì nay trẻ giải trí bằng máy tính, điện thoại...
Có thể việc tiếp thu với công nghệ tạo cho trẻ phản ứng nhanh nhẹn, hoạt bát,
nhưng bên cạnh đó cũng làm trẻ trở nên lạnh lùng, lười giao tiếp, lười bộc lộ
cảm xúc. Trẻ con không còn nét ngây thơ, hồn nhiên, trong trẻo mà có phần
“già” hơn so với độ tuổi. Những lời hát ru con trẻ, những khúc đồng dao vui


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status