ĐỒ ÁN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỨC NĂNG PHÁT
HÀNH TIỀN CỦA NHTW VỚI MỤC TIÊU KIỂM SOÁT
LẠM PHÁT
Ngành:
KẾ TOÁN
Chuyên ngành:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN
Giảng viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN LAN HƯƠNG
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN HẢI NAM
MSSV: 1154030390
Lớp:11DKKT8
TP. Hồ Chí Minh, 2013
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan :
1 Những nội dung trong đồ án này là do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn trực tiếp của Th.S Nguyễn Lan Hương.
2 Mọi tham khảo dùng trong đồ án đều được trích dẫn rõ ràng tên
tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố.
3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá,
tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
4
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn ThS.Nguyễn Lan Hương vì sự giúp đỡ
tận tình của cô trong thời gian em thực hiện đồ án.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và bè bạn đã tạo điều kiện và đóng góp ý kiến để em
hoàn thành đồ án tốt hơn.
6
MỤC LỤC
7
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ Số trang
Biểu đồ 2.1: Diễn biến lãi suất năm 2009 14
Biểu đồ 2.2: Diễn biến lãi suất năm 2010 15
Biểu đồ 2.3: Diễn biến lãi suất năm 2011 16
Biểu đồ 2.4: Diễn biến CPI năm 2009 33
Biểu đồ 2.5: Diễn biến CPI năm 2010 36
Biểu đồ 2.6: Diễn biến CPI năm 2011 38
8
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Tên bảng biểu Số trang
Bảng 2.1: Tỷ lệ DTBB áp dụng từ ngày 24/02/2009 17
Bảng 2.2: tỷ lệ DTBB áp dụng từ ngày 01/03/2009 17
Bảng 2.3: Tỷ lệ DTBB áp dụng từ ngày 01/02/2010 19
- Phương pháp phân tích tổng hợp
4. Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Các tổ chức kinh tế, chính phủ Việt Nam.
10
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu mối quan hệ giữa chức năng phát hành tiền
của NHTW với mục tiêu kiểm soát lạm phát.
- Phạm vi thời gian: từ 2009-2011
5. Kết cấu bài
- Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa chức năng phát hành tiền của
NHTW và mục tiêu kiểm soát lạm phát.
- Chương 2: Thực trạng phát hành tiền và mục tiêu kiếm soát lạm phát.
- Chương 3: Nhận xét và kiến nghị.
11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỨC NĂNG PHÁT
HÀNH TIỀN CỦA NHTW VÀ MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT.
1.1. Ngân hàng trung ương(NHTW)
1.1.1. Khái quát về NHTW:
1.1.1.1. Khái niệm:
Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về tiền
tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc gia/vùng lãnh
thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ. Mục đích hoạt động của ngân hàng
trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các
ngân hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ. Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc sở
hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có một mức độ độc lập nhất định đối với Chính phủ.
1.1.1.2. Lịch sử hình thành:
Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của
từng thời kỳ cách mạng và công cuộc xây dựng Đất nước.
Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính – kinh tế mà Đại hội Đảng lần thứ II
(tháng 2/1951) đã đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc
hàng không phải là thành phần duy nhất, cũng không chiếm tỷ trọng cao nhất trong
khối tiền tệ cung ứng, nhưng lại là yếu tố chi phối quyết định các thành phần khác của
khối tiền. Các NHTM không thể tạo tiền nếu như không có giấy bạc của NHTW. Mặt
khác, với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về lỉnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng
và thanh toán, NHTW nắm trong tay các công cụ thực thi chính sách tiền tệ, qua đó có
thể điều tiết khả năng cung ứng tiền của các chủ thể khác. Từ đó, hoạt động cung ứng
tiền của NHTW tác động trực tiếp đến độ tăng, giảm của tổng cung tiền tệ trong nên
kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu dùng.
1.1.3.2. NHTW là ngân hàng của các ngân hàng:
Ngân hàng nhà nước Việt Nam có vị trí pháp lý là một cơ quan của Chính phủ. Với vị
trí pháp lý này, Ngân hàng Nhà nước VN có tư cách là một cơ quan ngang bộ thực hiện
chức năng quản lý hành chính nhà nước chuyên ngành về tiền tệ và hoạt động ngân
hàng.
Khi thực hiện chức năng này NHTW cung ứng đầy đủ các dịch vụ của một ngân hàng
cho các NHTM. Bao gồm:
13
+ Mở tài khoản tiền gửi và quản lý tiền dự trữ của hệ thống NHTM. Tiền gửi của NHTM
tại NHTW gồm: tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán.
+ Cấp tín dụng cho NHTM
1.1.3.3. NHTW là ngân hàng của chính phủ
Ngân hàng nhà nước Việt Nam có vị trí pháp lý là một cơ quan của Chính phủ. Với vị
trí pháp lý này, Ngân hàng Nhà nước VN có tư cách là một cơ quan ngang bộ thực hiện
chức năng quản lý hành chính nhà nước chuyên ngành về tiền tệ và hoạt động ngân
hàng.
Ngân hàng Nhà nước VN có vị trí pháp lý là ngân hàng trung ương của nước
CHXCNVN. Với vị trí pháp lý này Ngân hàng nhà nước có tư cách là cơ quan duy nhất
ở VN được phép thực hiện các hoạt động ngân hàng trung ương, được đặc trưng bởi 3
yếu tố cơ bản sau:
+ Ngân hàng nhà nước là ngân hàng phát hành tiền. Ngân hàng nhà nước là ngân
hàng duy nhất có quyền phát hành tiền mặt (VND) và có giá trị lưu thông trên toàn
hiện rất lâu ở các nước XHCN theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
- Phát hành trái phiếu Nhà nước: Nhằm làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông qua
việc NHTW thỏa thuận với Bộ Tài chính về việc phát hành 1 khối lượng trái phiếu nhất
định, biện pháp này chỉ thực hiện khi không còn biện pháp nào khác. Nó có ưu điểm là
làm giảm bớt khối lượng tiền trong lưu thông nhưng có nhược điểm là phục vụ cho
mục tiêu chi tiêu của ngân sách.
- Phát hành tiền cho ngân sách và cho đầu tư: Khi ngân sách bị thiếu hụt, NHTW có thể
phát hành tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của ngân sách. Biện pháp này dễ đưa đến
lạm phát, thông thường biện pháp này được áp dụng để phát hành tiền cho đầu tư phát
triển xem như là ứng trước cho sản xuất.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường các công cụ trực tiếp thường được áp dụng trong
những trường hợp nhất định. NHTW thường sử dụng các công cụ gián tiếp để điều
hành chính sách tiền tệ
1.1.4.2.2. Các công cụ gián tiếp
15
- Quy định tỷ lệ dự trữ pháp định: Là phương thức quản lý khối lượng tiền trong lưu
thông bằng các quy định tỷ lệ mà các NHTM được phép cho vay khi nhận được 1 khối
lượng tiền gửi, tỷ lệ dự trữ pháp định là tỷ lệ % trên số tiền gửi mà 1 NHTM nhận được
phải gửi vào Tài khoản tại NHTW hoặc giữ tại ngân hàng theo quy định. Với biện pháp
này NHTW nắm được khối lượng tín dụng mà các NHTM và các tổ chức tín dụng khác
cung cấp và có khả năng cung cấp cho nền kinh tế. Do đó NHTW có thể tác động trực
tiếp đến khối lượng tín dụng bằng cách tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ pháp định.
- Biện pháp thị trường mở: Nội dung của biện pháp này là NHTW tiến hành mua và bán
các giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ theo mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng
thời kỳ. Trong trường hợp NHTW muốn tăng khối lượng tiền trong lưu thông NHTW
sẽ mua vào 1 lượng chứng khoán nhất định, việc các NHTM bán chứng khoán cho
NHTW sẽ làm tăng dự trữ cho các NHTM nhờ vào lượng tiền nhận được từ NHTW.
Ngược lại, nếu NHTW muốn thu hẹp khối lượng tiền tệ NHTW sẽ bán ra một lượng
chứng khoán nhất định.
- Biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu và cho vay của NHTW: Là hình thức cung cấp tín
Khi giá trị của hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền
giảm đi, và với cùng một số tiền nhất định, người ta chỉ có thể mua được số lượng hàng
hoá ít hơn so với năm trước. Có nhiều dạng lạm phát khác nhau, như lạm phát một con
số, lạm phát hai con số, lạm phát phi mã, siêu lạm phát
1.2.2. Các loại lạm phát
1.2.2.1. Lạm phát vừa phải
Lạm phát vừa phải hay còn gọi lạm phát nước kiệu là lạm phát xảy ra khi giá cả hàng
hóa tăng chậm ở mức độ một con số hằng năm(dưới 10%/năm). Loại lạm phát này
thường được các nước duy trì như một chất xúc tác thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.2.2.2. Lạm phát cao
Lạm phát cao hay còn gọi là lạm phát phi mã là lạm phát xảy ra khi giá cả hàng hóa
tăng ở mức độ 2 con số hẳng năm( từ 10% - 100%/ năm). Lạm phát phi mã gây ra
nhiều tác hại đên sự phát triển kinh tế – xã hội.
1.2.2.3. Siêu lạm phát
Siêu lạm phát hay còn gọi là lạm phát siêu tốc là khi giá cả hàng hóa tăng ở mức độ ba
con số hàng năm trở lên. Siêu lạm phát như căn bệnh ung thư gây chết người, có tác
hại rất lớn đến kinh tế –xã hội.
17
1.2.3. Các nguyên nhân gây ra lạm phát
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó "lạm phát do cầu kéo"
và "lạm phát do chi phí đẩy" được coi là hai thủ phạm chính.
1.2.3.1. Lạm phát do cầu kéo
Nhiều người có trong tay một khoản tiền lớn và họ sẵn sàng chi trả cho một hàng hoá
hay dịch vụ với mức giá cao hơn bình thường. Khi nhu cầu về một mặt hàng tăng lên
sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng
theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hoá trên thị trường.
Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về một
hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá hay dịch vụ đó lên mức cao
hơn. Các nhà khoa học mô tả tình trạng lạm phát này là “quá nhiều tiền đuổi theo quá ít
hàng hoá”.
1.2.4. Tác động của lạm phát
1.2.4.1. Đối với lĩnh vực sản xuất
Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra biến động
không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất. Sự mất giá của đồng
tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh - sản xuất ở
một vài danh nghiệp có thể thay đổi, gây ra những xáo động về kinh tế. Nếu một doanh
nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn.
1.2.4.2. Đối với lĩnh vực lưu thông
Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hoá. Các nhà
doanh nghiệp thấy rằng việc đầu tư vốn vào lĩnh vực lưu thông. Thậm chí khi lạm phát
trở nên khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất sẽ gặp phải rủi ro cao.
Do có nhiều người tham gia vào lĩnh vực lưu thông nên lĩnh vực này trở nên hỗn loạn.
Tiền ở trong tay những người vừa mới bán hàng xong lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh
lưu thông, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng vọt và điều này làm thúc đẩy lạm phát gia tăng.
1.2.4.3. Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng
Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàn bị thu hẹp. Số người gửi
tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều. Về phía hệ thống ngân hàng, do lượng tiền gửi
vào giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của người đi vay, cộng với việc sụt
19
giá của đồng tiền quá nhanh, sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi không làm an tâm những
người hiện đang có lượng tiền mặt nhàn rỗi trong tay. Về phía người đi vay, họ là
những người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền một cách nhanh chóng. Do vậy, hoạt
động của hệ thống ngân hàng không còn bình thường nữa. Chức năng kinh doanh tiền
bị hạn chế, các chức năng của tiền tệ không còn nguyên vẹn bởi khi có lạm phát thì
chẳng có ai tích trữ của cải hình thức tiền mặt.
1.2.4.4. Đối với chính sách kinh tế tài chính của nhà nước
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá, khi lạm phát xảy
ra những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động của giá cả làm cho thị trường
bị rối loạn. Người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp làm ăn tốt và kém. Đồng
thời lạm phát làm cho nhà nước thiếu vốn, do đó nhà nước không còn đủ sức cung cấp
nghiệp vừa và nhỏ đang trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc” và các doanh nghiệp
lớn cũng điêu đứng trong nên kinh tế Việt Nam thời kì hậu khủng hoảng. Do đó
NHTW bằng những chính sách tiền tệ hợp lý trong thời kì này nhằm ổn định nền kinh
tế đồng thời cứu các doanh nghiệp qua cơn hiểm nghèo. Để thấy được NHTW đã làm
gì trong thời kì này chúng ta cùng nhìn lại những chính sách thông qua các kênh phát
hành tiền mà NHTW đã sử dụng.
2.1.1. Nghiệp vụ tín dụng giữa NHTW với NHTM
2.1.1.1. Lãi suất
2.1.1.1.1. Tình hình lãi suất năm 2009
Năm 2009, NHTW tiếp tục điều hành lãi suất theo cơ chế lãi suất cơ bản, theo đó các
TCTD ấn định lãi suất huy động và cho vay bằng VND không quá 150% lãi suất cơ
21
bản. Tuy nhiên, đối với các nhu cầu vay vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua
nghiệp vụ phát hành, sử dụng thẻ tín dụng, NHTW đã ban hành Thông tư số
01/2009/TT-NHTW ngày 23/1/2009, cho phép cácTCTD được thực hiện cơ chế lãi suất
thỏa thuận.
Biểu đồ 2.1: Diễn biến lãi suất năm 2009
(Nguồn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Những tháng đầu năm, nhu cầu tiêu dùng tăng rất cao đã làm cho lạm phát tăng cao.
Do đó NHTW đã giảm lãi suất nhưng ở mức chậm nhằm kiềm chế lạm phát vừa đáp
ứng cầu tiền phục vụ tiêu dùng. Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế
phát triển, nhất là những lĩnh vực ưu tiên, sản xuất – kinh doanh có hiệu quả, tháng
2/2009, NHTW đã điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản từ 8,5% xuống 7%/năm, và duy trì
ổn định đến hết tháng 11/2009. Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm 2 lần từ
9,5%/ năm xuống 8%/năm (tháng 2) và xuống 7%/ năm (ngày 10/4/2009); lãi suất tái
chiết khấu được điều chỉnh giảm 2 lần từ 7,5% xuống 6%/năm (tháng 2) và xuống
5%/năm (ngày 10/4/2009).
Trong tháng 12/2009, để kiểm soát chặt chẽ quy mô và chất lượng tín dụng, kiềm chế
lạm phát đang tăng vọt, phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết của
Quốc hội và chủ trương của Chính phủ, đồng thời tạo điều kiện cho các TCTD huy
chỉnh lãi suất tiền gửi vượt DTBB bằng ngoại tệ từ 0,1%/năm xuống 0,05%/ năm,
tương đương với mức lãi suất mà NHTW sử dụng tiền gửi của TCTD để gửi tại Fed,
nhằm góp phần giảm chi phí lãi cho NHTW, phù hợp với chủ trương hạn chế găm giữ
ngoại tệ trên tài khoản và tác động chuyển dần quan hệ huy động – cho vay sang quan
hệ mua - bán bằng ngoại tệ.
2.1.1.2. Dự trữ bắt buộc
2.1.1.2.1. Dự trữ bắt buộc năm 2009
Ngay từ đầu năm 2009, để hỗ trợ các TCTD tăng cường cung ứng vốn cho nền kinh tế,
chống suy giảm kinh tế, NHTW đã 2 lần điều chỉnh giảm tỷ lệ DTBB bằng VND đối
23
với kỳ hạn dưới 12 tháng: từ 6% - 5% - 3% và 1 lần điều chỉnh giảm từ 2%-1% đối với
kỳ hạn từ 12 tháng trở lên; riêng đối với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn, điều chỉnh giảm từ 3% - 2% - 1% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng và giữ nguyên tỷ
lệ DTBB 1% đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.
Bảng 2.1: Tỷ lệ DTBB áp dụng từ ngày 24/02/2009
Loại TCTD
Tiền gửi VND Tiền gửi ngoại tệ
Không kỳ
hạn và
dưới 12
tháng
Từ 12
tháng trở
lên
Không
kỳ hạn
và dưới
12 tháng
Từ 12
tháng trở
24
dưới 12
tháng
lên
dưới 12
tháng
lên
Các NHTM Nhà nước (không bao gồm
NHNo & PTNT), NHTMCP đô thị, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng
liên doanh, công ty tài chính, công ty cho
thuê tài chính
3% 1% 7% 3%
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn 1% 1% 6% 2%
NHTMCP nông thôn, ngân hàng hợp tác,
Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương 1% 1% 6% 2%
TCTD có số dư tiền gửi phải tính dự trữ
bắt buộc dưới 500 triệu đồng, QTĐN cơ
sở, Ngân hàng Chính sách xã hội
0% 0% 0% 0%
(Nguồn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ được giữ nguyên như năm 2008, ở mức 7% đối với tiền gửi
dưới 12 tháng, 3% đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên, để duy trì ổn định lãi suất ngoại
tệ. Riêng Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ là
6% đối với tiền gửi dưới 12 tháng, 2% đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên. Đối với lãi
suất tiền gửi DTBB bằng VND, NHTW điều chỉnh giảm từ 8,5%-3,6%-1,2%/ năm. Lãi
suất đối với tiền gửi vượt DTBB bằng ngoại tệ giảm từ 0,5%/năm xuống 0,1%/năm.
Việc điều chỉnh giảm các mức lãi suất như nêu trên là để phù hợp với các mức lãi suất
điều hành khác của NHTW và khuyến khích các TCTD sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
lên
Các NHTM Nhà nước (không bao gồm
NHNo & PTNT), NHTMCP đô thị, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng
liên doanh, công ty tài chính, công ty cho
thuê tài chính
4% 2% 7% 3%
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn
3% 1% 6% 2%
NHTMCP nông thôn, ngân hàng hợp tác,
Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
3% 1% 6% 2%
TCTD có số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt
buộc dưới 500 triệu đồng, QTĐN cơ sở,
Ngân hàng Chính sách xã hội
0% 0% 0% 0%
(Nguồn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Đối với tỷ lệ DTBB bằng ngoại tệ, đầu năm 2010, NHTW điều chỉnh tỷ lệ DTBB đối
với tiền gửi ngoại tệ dưới 12 tháng từ 7% xuống 4% (giảm 3%), đối với tiền gửi từ 12
tháng trở lên giảm từ 3% xuống 2% (giảm 1%) để hổ trợ TCTD tăng cung vốn ngoại tệ
nhằm giảm lãi suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ.
2.1.1.2.3. Dự trữ bắt buộc năm 2011