LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TÀI CHÍNH TIỀN TỆ PHÂN TÍCH VAI TRÒ NGƯỜI CHO VAY CUỐI CÙNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM - Pdf 14



Lê Võ Mai Chi MSSV: 1154020123 Lớp: 12DTC01
Huỳnh Thị Kiều Hương MSSV: 1211190032 Lớp: 12DTC01
Lê Thị Yến Nhi MSSV: 1211190069 Lớp: 12DTC01
Bùi Phương Thảo MSSV: 1211190084 Lớp: 12DTC01
Lềnh Sau Kiều MSSV: 1211191751 Lớp: 12DTC01
TP. Hồ Chí Minh, 2014
i LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi: Sinh viên lớp 12DTC01, Khoa kế toán – Tài chính – Ngân hàng, trường
ĐH Công Nghệ TPHCM.

Chúng tôi Xin cam đoan: Toàn bộ nội dung đồ án “PHÂN TÍCH VAI TRÒ
NGƯỜI CHO VAY CUỐI CÙNG”. Do chúng tôi tự học tập từ bài giảng của cô
trên lớp, nghiên cứu trên Internet, sách báo, và các tài liệu trong và ngoài nước có
liên quan. Không sao chép hay sử dụng bài làm của bất kỳ ai khác.

Mọi tham khảo trong đồ án đều được trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của mình trước Quý thầy cô và

dựng, hoàn thiện đề cương sơ bộ cho đến khi hoàn thành đồ án.

Cuối cùng xin cảm ơn, các bạn học viên cùng lớp đã động viên và hỗ trợ chúng tôi
trong suốt thời gian học tập cũng như thực hiện đồ án này.

Với khuôn khổ của đồ án này không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự
đóng góp quan tâm giúp đỡ của Quý Thầy, Cô và các bạn.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

………………, ngày … tháng … năm ……
(SV Ký và ghi rõ họ tên)
iii

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN

Họ và tên sinh viên :
Lê Võ Mai Chi ____________ MSSV: 1154020123 ______ Lớp: 12DTC01
Huỳnh Thị Kiều Hương _____ MSSV: 1211190032 ______ Lớp: 12DTC01

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƢƠNG 1 : Vai trò “Ngƣời cho vay cuối cùng” của Ngân hàng Nhà nƣớc
Việt Nam 2
1.1. Cách thức thực hiện chức năng Người cho vay cuối cùng 3
1.1.1. Tái chiết khấu 3
1.1.2. Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá 7
1.1.3. Cho vay theo hồ sơ tín dụng 8
1.1.4. Cho vay bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho các ngân hàng thương mại 9

CHƢƠNG 2: Chức năng “Ngƣời cho vay cuối cùng” của NHNN Việt Nam
đƣợc áp dụng trong các năm gần đây 9
2.1. Rút tiền ồ ạt trên quy mô hệ thống đối với hợp tác xã tín dụng (HTXTD) và quỹ
tín dụng (QTD) 12
2.2. Rút tiền ồ ạt ở Ngân hàng ACB 13
2.2.1. Năm 2003 13
2.2.1. Năm 2012 14
2.3. Rút tiền ồ ạt ở Ngân hàng Phương Nam: 16
2.4. NHTMCP Nông thôn Ninh Bình: 16

CHƢƠNG 3: Nhận Xét và Biện Pháp giúp Ngân hàng Nhà nƣớc thực hiện
chức năng “Ngƣời cho vay cuối cùng” 17
3.1. Nhận xét chung 17
3.2. Giải pháp đẩy mạnh tính hiệu quả của chức năng NCVCC của NHNN 17
3.2.1. Tăng cường chức năng,củng cố niềm tin ở các NHTM và người dân 17
3.2.2. Cải thiện các chính sách vĩ mô tạo sự ổn định cho nền kinh tể 19
3.2.3. Ngườỉ gửi tiền cần có nhận định sáng suốt trước mọi tình huống 20
v

Đề tài đƣợc chia thành 3 phần chính:
Chƣơng I: Vai trò “Người cho vay cuối cùng” của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Chƣơng II: Chức năng “Người cho vay cuối cùng” của NHNN Việt Nam được áp
dụng trong các năm gần đây.
Chƣơng III: Nhận Xét và Biện Pháp giúp Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức
năng “Người cho vay cuối cùng”.

2

CHƢƠNG 1
Vai trò “Ngƣời cho vay cuối cùng”
của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam

Theo luật NHNN Việt Nam năm 2010, NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối, thực hiện chức năng của NHNN
về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ
cho Chính phủ. NHNN Việt Nam đóng vai trò là ngân hàng của các ngân hàng, hoạt
động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số
nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua
tài khoản. NHNN xem xét, quyết định cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng
trong các trường hợp như các tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng mất khả năng chi
trả, đe doạ sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức tín dụng
có nguy cơ mất khả năng chi trả do sự cố nghiêm trọng khác. Hoạt động của NHNN
nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống
các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc
gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, NHNN có chức năng nhận tiền gửi và cấp tín dụng cho các tổ chức tín
dụng nhằm đảm bảo tính hiệu quả và an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng.
Những lúc ngân hàng trung gian hoặc tổ chức tín dụng kẹt tiền mặt hoặc những đợt

trung tâm tín dụng của nền kinh tế. Sau đây, đề tài nghiên cứu sẽ phân tích các cơ
sở pháp lý của công cụ cấp tín dụng qua các hình thức cho vay của NHNN đối với
tỏ chức tín dụng.

1.1.1. Tái chiết khấu:
Tái chiết khấu nói riêng và tái cấp vốn nói chung là việc NHNN tiếp vốn cho
các ngân hàng thương mại bằng cách mua lại những phiếu nợ chưa đến hạn mà
ngân hàng thương mại đã chiết khấu cho khách hàng trước đấy, nhằm khai thông
năng lực thanh toán hoặc khuyến khích họ mở rộng tín dụng cho nền kinh tế trên cơ
sở các hệ số tín dụng hoặc chứng từ được ngân hàng thương mại chiết khấu trước
đây. Vì vậy trong nghiệp vụ này, lãi suất tái chiết khấu cũng là công cụ quan trọng
4

hàng đầu để có thể tác động đến việc mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng cho
nền kinh tế. Vì vậy phải đòi hỏi tiến hành một cách thận trọng dựa trên tiêu chuẩn
định lượng và định tính. Nghĩa là, NHNN không là người tác nghiệp, không phải là
người rực tiếp cho vay đối với nền kinh tế nhưng hoàn toàn có khả năng chi phối
đến khối lượng tín dụng mà hệ thống ngân hàng trong nước cung ứng cho nền kinh
tế.
Lãi suất chiết khấu: là lãi suất NHNN áp dụng để tính số tiền thanh toán khi thực
hiện chiết khấu giấy tờ có giá. Lãi suất chiết khấu do NHNN xác định và công bố,
phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Thông qua lãi suất tái
chiêt khấu, NHNN có thể khuyến khích giảm hay tăng mức cung ứng tín dụng của
ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế, đồng thời giảm hay tăng mức cung tiền.
Khi thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, NHNN sẽ nâng lãi suất cho vay hoặc hạn
chế cơ hội cho vay. Ngược lại, nếu NHNN hạ thấp lãi suất chiết khấu ngân hàng
thương mại trong trường hợp này sẽ đi vay rẻ hơn nên có khuynh hướng giảm lãi
suất cho vay dẫn đến nhu cầu vay tăng. Ngoài ra chính sách chiết khấu, tái chiết
khấu còn là công cụ đăc lực trong ảnh hưởng phát triển kinh tế xã hội. Đối với
chính sách kích thích xuất khẩu ngân hàng tủng ương sẽ ưu tiên tái chiết khấu các

 Bản thân các ngân hàng thương mại đem hối phiếu để tái chiết khấu phải là
những hối phiếu tốt.
Phƣơng thức giao dịch:
Trong trường hợp cần thiết và theo yêu cầu của chính sách tiền tệ trong từng
thời kỳ, NHTW có thể thực hiện chiết khấu hẳn thời hạn còn lại của chứng từ có giá
hoặc chiết khấu có kỳ hạn kèm theo hợp đồng bán lại.

Công thức xác định số tiền thanh toán khi thực hiện nghiệp vụ chiết khấu:

St =
365*1001
*

TcLsc
Gt

6 Trong đó:
St: Số tiền NHNN thanh toán khi chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn.
Gt: Giá trị thanh toán giấy tờ có giá ngắn hạn khi hết hạn.
Tc: Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá ngắn hạn (từ ngày chiết khấu đến ngày
đến hạn thanh toán giấy tờ có giá ngắn hạn).
Lsc: Lại suất chiếu khấu.
365: Số ngày quy ước cho một năm.

Trong trường hợp NHNN thực hiện chiết khấu có kỳ hạn giấy tờ có giá ngắn hạn
đối với các ngân hàng, công thức xác định số tiền NHNN bán lại giấy tờ có giá
ngắn hạn nhƣ sau:

GTCG, hoặc yêu cầu ngân hàng chuyển khoản GTCG vào tài khoản của NHNN mở
tại Trung tâm giao dịch chứng khoán để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho một
hay nhiều khoản vay cam cố của ngân hàng tại NHNN.
Lãi suất cho vay cầm cố là lãi suất tái cấp vốn mà NHNN áp dụng khi thực hiện
cho vay cầm cố đối với các ngân hàng, tại thời điểm giải ngân khoản vay và duy trì
trong suốt thời hạn cho vay. Lãi suất tái cấp vốn được NHNN công bố trong từng
thời kỳ.
Đối với các trường hợp dư nợ vay cầm cố bị chuyển sang nợ quá hạn thì ngân
hàng phải chịu lãi suất quá hạn b'ng 150% lãi suất cho vay ghi trên hợp đồng tín
dụng.
Các đối tượng được vay cầm cố tại NHNN phải có đủ các điều kiện cho vay cầm
cố, bao gồm:
 Là các tổ chức tín dụng được phép và không bị đặt vào tình trạng kiểm soát
đặc biệt.
 Có GTCG đủ tiêu chuẩn cầm cố theo quy định của NHNN.
 Có hồ sơ đề nghị vay cầm cố tại NHNN.
 Không có dư nợ quá hạn tại NHNN tại thời điểm xin vay.
 Có cam kết về sử dụng tiền vay cầm cố đúng mục đích và trả nợ (gốc và lãi)
cho NHNN đúng thời gian quy định.
Việc cho vay cầm cố của NHNN đối với các ngân hàng thực hiện theo các
nguyên tắc sau:
 Khoản cho vay cầm cố được bảo đảm bằng các GTCG đủ tiêu chuẩn theo
quy định của NHNN.
8

 Cho vay cầm cố giấy tờ có giá nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện
thanh toán cho các ngân hàng tạm thời thiếu hụt khả năng thanh khoản; ngân hàng
được vay cầm cố phải hoàn trả vốn vay NHNN (cả gốc và lãi) đầy đủ và đúng hạn.
1.1.3. Cho vay theo hồ sơ tín dụng:
Cho vay theo hồ sơ tín dụng là hình thức cấp tín dụng của NHNN dựa trên cơ sở

chuẩn theo quy định tại Thông tư này.
1.1.4. Cho vay bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho các ngân hàng thƣơng mại:
Ngân hàng trung gian có thể cho vay hết dự trữ bắt buộc vì khi cần thiết nó có
thể vay NHNN với lãi suất cũng giống như vay của nhân dân để thanh toán cho
nhân dân.
Nhưng giả sử NHNN quy định, tuy lãi suất cho vay của ngân hàng trung gian là
10%, nhưng nếu ngân hàng trung gian cho vay dưới tỉ lệ dự trữ bắt buộc và phải vay
đến NHNN, NHNN sẽ cho vay với lãi suất cao hơn là 12%. Lúc đó ngân hàng trung
gian sẽ cân nhắc, việc lỗ trông thấy khi vay tiền của NHNN sẽ buộc các ngân hàng
trung gian giảm lượng cho vay xuống, hay nói cách khác là giảm lượng cung ứng
tiền ngân hàng và tăng dự trữ để giải quyết vấn đề khi dân rút tiền.

CHƢƠNG 2
Chức năng “Ngƣời cho vay cuối cùng” của NHNN Việt Nam
đƣợc áp dụng trong các năm gần đây

Chức năng NCVCC được áp dụng trong những tình huống khác nhau, ở các
quốc gia với những thể chế Nhà nước khác nhau, nhưng luôn có một số cơ chế hoạt
động thống nhất, bao gồm: Khoản vay phải có tài sản đảm bảo, có điều kiện thế
chấp tốt, cho vay ở mức lãi suất bù, ưu tiên trả nợ cho NHNN. Phần này nhóm sẽ
tập trung làm rõ mục đích của các cơ chế trên.
Ở nhiều quốc gia trên thế giới có quy định rằng các khoản vay của NHNN phải
có thế chấp bảo đảm. Lý do là để tránh tình trạng NHNN trở thành chủ nợ của
những ngân hàng đổ vỡ, điều có thể dẫn đến gánh nặng đối với vốn của NHNN
hoặc xung đột về lãi suất khi NHNN trở thành chủ nợ của một tổ chức bị kiểm soát.
10

Vì vậy NHNN có lợi thế hơn so với thị trường liên ngân hàng ở chỗ nó có thể vượt
qua quyền ưu tiên của các tổ chức bảo hiểm tiền gửi, Chính phủ có thể cải thiện một
số ngân hàng trong việc cung cấp thanh khoản bởi họ có quyền lực cao hơn những

phá sản.

Một thực tế dễ dàng nhận thấy là cho đến thời điểm hiện nay, măc dù đã thực
hiện “Luật Phá sản doanh nghiệp”, tuy nhiên Toà kinh tế chưa tuyên bố phá sản một
tổ chức tín dụng nào. Không phải là hệ thống ngân hàng Việt Nam hoàn toàn vững
mạnh mà do pháp luật về phá sản TCTD chưa có một văn bản pháp luật nào rõ ràng
mà chỉ có sự dẫn chiếu rất mơ hồ: “Luật các TCTD” ngày 12/12/1997 dẫn chiếu
sang “Luật Phá sản doanh nghiệp”; “Luật phá sản doanh nghiệp” trao quyền cho
Chính phủ qui định cụ thể, Nghị định 189/CP của Chính phủ lại dẫn chiếu ngược về
“Luật Phá sản Doanh nghiệp”. Trong khi đó tự bản thân “Luật phá sản doanh
nghiệp” không thể điều chỉnh quan hệ phát sinh trong lĩnh vực phá sản các TCTD.

Sau đây, đề tài nêu ra thực trạng áp dụng chức năng NCVCC của NHNN Việt
Nam khi các hệ thống tín dụng, ngân hàng tại Việt Nam gặp khủng hoảng về mặt tài
chính.
Hiện nay NHNN Việt Nam hầu như chỉ mới thực hiện hai hình thức là cho vay
có bảo đảm bằng cầm cố chứng từ có giá và chiết khấu, tái chiết khấu. Hoạt động
tái cấp vốn của NHNN trong gần 30 năm qua đã đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh
khoản của các tổ chức tín dụng, góp phần ổn định hoạt động của hệ thống các tổ
chức tín dụng. Cho dù vậy, hoạt động tái cấp vốn cũng còn một vài hạn chế. Thời
gian hoàn thành một đề nghị cho vay cầm cố giấy tờ có giá của NHNN còn dài, có
khi lên tới 5 ngày đối với những tổ chức tín dụng không có trụ sở chính tại Hà Nội
và 2 ngày đối với những tổ chức tín dụng có trụ sở chính tại Hà Nội. Bên cạnh đó,
quy trình thủ tục tái cấp vốn chưa đồng bộ và còn những hạn chế nhất định, chưa
được hiệu quả bởi lẽ việc phân bổ hạn mức chiết khấu của NHNN với các tổ chức
tín dụng mới chỉ dựa trên các yếu tố như tổng dư nợ bằng đồng Việt Nam, tổng tài
sản có và vốn tự có của tổ chức tín dụng mà chưa tính tới khối lượng giấy tờ có giá
mà tổ chức tín dụng nắm giữ.
12


đổ vỡ.
13

Việc hàng loạt các HTXTD và QTD bị phá sản tạo ra tâm lý lo sợ bị mất tiền
cho những người gửi tiền. Họ kéo đen rút tiền ồ ạt ở các tổ chức khác. Các QTD và
HTXTD này đã không thể đáp ứng được nhu cầu chi trả tiền mặt với khối lượng lớn
như vậy, dẫn đen sụp đổ theo hiệu ứng Domino, lan truyền rộng rãi trên địa bàn cả
nước.
Trong khi đó, cơ chế hỗ trợ các tổ chức tín dụng cũng như bảo vệ cho người gửi
tiền chưa có, vậy nên NHNN với vai trò NCVCC đã trực tiếp giải quyết cho vay để
chi trả tiền gửi tiết kiệm cho nhân dân. Cho dù vậy, nhiều người vẫn không rút được
tiền. Có thể thấy r'ng, sự biến động này đã làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của
dân chúng vào hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng như những chính sách điều
tiết, quản lý của Chính phủ và NHNN.

2.2. Rút tiền ồ ạt ở Ngân hàng ACB:
2.2.1. Năm 2003:
Ông Lý Xuân Hải - Tổng giám đốc ACB - được cơ quan công an mời lên trong
ngày 20/8/2003 để làm rõ những sai phạm về quản lý kinh tế. Sau đó, sự kiện đột
biến rút tiền hàng loạt ở NHTMCP Á Châu xảy ra từ ngày 14 đến 16/10/2003 do tin
đồn ông Hải đã bỏ trốn. Tin đồn về tổng giám đốc ACB bỏ trốn đã gây nên một tâm
lý hoang mang, hốt hoảng ở khách hàng có quan hệ giao dịch với ACB. Mặc dù
Thống đốc NHNN Lê Đức Thuý, các phó chủ tịch UBND TP.HCM đã trực tiếp đến
ACB, lên tiếng bác bỏ tin đồn này, trong hai ngày 14 và 15/10/2003, khách hàng
vẫn ùn ùn kéo đen rút tiền, nhiều người trong số họ rút tiền trước hạn.
Thiệt hại trước tiên thuộc về người gửi tiền khi rút tiền trước hạn, bởi sẽ không
được trả lãi bằng mức lãi khi họ rút đúng kỳ hạn. Theo đánh giá của một cán bộ
NHNN được trích dẫn trên báo Vietnamnet ngày 13/7/2005, trong tổng số tiền huy
động 3.500 tỷ đồng của NHTMCP Á Châu thời điểm đó, có tới 500 tỷ đồng là tiền
lãi do người gửi tiền rút tiết kiệm trước hạn mà đáng lẽ đã thuộc về họ. Ngân hàng

động kinh tế. Vì tin rằng ông Kiên đóng vai trò quan trọng trong ban điều hành, ban
giám đốc Ngân hàng ACB, cũng như nghi ngờ việc ông Kiên bị bắt có liên quan
đen hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ACB, người dân hoang mang, lo sợ mất
tiền gửi. Họ kéo nhau đen các trụ sở của ACB để rút tiền.
Có thể nói, sự kiện ông Kiên bị bắt đã gây ra nhiều hậu quả cho ngân hàng
ACB. Trước hết, ở thời điểm đó, cổ phiếu của ngân hàng tụt dốc thê thảm. Sau hai
15

ngày ông Kiên bị bắt, cổ phiếu của ACB giảm kịch sàn. Bên cạnh đó, nhu cầu rút
tiền mặt tăng cao tạo áp lực thanh khoản cho ACB, chỉ trong hai ngày 21/8 và 22/8,
khách hàng đã rút tiền khỏi ACB khoảng 8.000 tỷ đồng, trong đó ngày 21/8 số tiền
khách hàng rút là 3.000 tỷ và ngày 22/8 là 5.000 tỷ đồng.
Bản thân NHTMCP ACB. sau thông tin ông Nguyễn Đức Kiên, ông Nguyễn
Thanh Toại, Phó Tổng giám đốc ngân hàng này cho biết, hoạt động của ACB vẫn
diễn ra bình thường và việc ông Kiên bị bắt giữ không có ánh hưởng gì do 2 nguyên
nhân: Thứ nhất, ông Kiên chỉ là cổ đông bình thường của ACB, nắm giữ dưới 5%
cổ phần và cũng không giữ các chức vụ trong HĐQT và ban TGĐ, do đó việc liên
quan đen ông Kiên không thuộc diện phải công bố thông tin.Thứ hai, việc bắt giữ
ông Kiên không liên quan tới hoạt động tại ngân hàng ACB mà vì lý do kinh te của
cá nhân ông Kiên.
Song song với biện pháp đáp ứng chi trả tiền cho khách hàng, trong ngày 23/8,
ngân hàng ACB đã công bố chương trình tăng lãi suất nhằm thu hút người dân gửi
tiền trở lại. Khách hàng khi gửi tối thiểu 100 triệu đồng, kỳ hạn 12 tháng, sẽ được
hưởng lãi suất cố định lên tới 12%/năm, và được nhận lãi định kỳ 1 tháng, 2 tháng,
3 tháng, 6 tháng, cuối kỳ tùy theo nhu cầu và lựa chọn của khách hàng. Đặc biệt,
khách hàng tham gia chương trình này sẽ được ưu đãi khi vay cầm cố sổ tiết kiệm
12+. Theo bản tin Thời sự Đài truyền hình Việt Nam tối ngày 25/8, ACB tiếp tục
hút tiền về hệ thống bằng việc triển khai chương trình khuyến khích gửi lại đối với
khách hàng đã rút tiền. Khách hàng đã rút tiết kiệm nếu gửi lại sẽ nhận được quà
tặng. Không những thế, ACB cam kết sẽ giữ nguyên lãi suất đến hạn trên sổ tiết

hàng. Nhờ đó, mà lượng người đen rút tiền tại ngân hàng Phương Nam đã giảm hẳn
từ cuối giờ giao dịch sáng ngày 22/7/2005.

2.4. NHTMCP Nông thôn Ninh Bình:
NHTMCP Nông thôn Ninh Bình diễn ra từ ngày 07/7/2005 đến 14/7/2005.
Nguyên nhân dẫn đến sự cố này khiến là bắt nguồn từ tin đồn ngân hàng này có liên
quan đến vụ án lừa đảo của Nguyễn Đức Chi, với khoản vay lên tới 10 triệu Đô la
Mỹ và Tổng giám đốc ngân hàng đã bỏ trốn. Tổng số tiền người dân rút ra những
ngày này lên tới 20 tỷ đồng trong tổng số vốn huy động tiết kiệm từ dân cư là 80 tỷ
đồng. Đứng trước tình hình đó, NHNN đã duyệt cho vay 70 tỷ đồng và thực te ngân
hàng này đã sử dụng 40 tỷ.

17

Chƣơng 3
Nhận Xét và Biện Pháp
giúp Ngân hàng Nhà nƣớc thực hiện
chức năng “Ngƣời cho vay cuối cùng”

3.1. Nhận xét chung:
Nhìn chung thực trạng khủng hoảng của các ngân hàng thương mại, các tổ chức
tín dụng tại Việt Nam trong các năm vừa qua, hiện tượng xảy ra mặc dù diễn ra vào
những thời điểm khác nhau nhưng tất cả đều có một điểm chung đó là bắt nguồn từ
thông tin bất cân xứng, sự lan truyền các tin đồn thất thiệt và những hạn chế, bất cập
trong hoạt động của bản thân các tổ chức tín dụng cũng như hệ thống giám sát ngân
hàng còn nhiều yếu kém. Trong các trường hợp này, NHNN Việt Nam đóng vai trò
quan trọng và then chốt là NCVCC. Nhờ vậy, niềm tin của dân chúng nhanh chóng
được phục hồi. Tuy vậy, vẫn gây ra những hậu quả đáng kể cho bản thân người gửi
tiền, các ngân hàng và cả hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam.


các chính sách cũng cần được ban hành và thực hiện một cách có tổ chức, nhằm tạo
điều kiện cho các NHTM, các doanh nghiệp và người dân thích ứng kịp thời. Đồng
thời, việc hỗ trợ và cung cấp vốn phải được công khai một cách rõ ràng, minh bạch,
cân bang giữa các NHTM. Một khi đã có lòng tin ở người dân, NHNN sẽ có khả
năng trấn an người dân trong trường hợp có biến cố xảy ra đối với hệ thống ngân
hàng.
Thứ hai, thẩm định cho vay là quy trình đầu tiên khi NHNN thực hiện vai trò
NCVCC của mình. Bước thẩm định giúp NHNN đánh giá, thẩm tra khả năng hỗ trợ
thanh khoản cho tổ chức tín dụng. Neu việc thẩm định được thực hiện đúng đắn và
chính xác thì hiệu quả NCVCC của NHNN được nâng cao. Việc thẩm định phụ
thuộc phần lớn vào hệ thống giám sát tài chính. Tuy nhiên, hệ thống giám sát tài
chính của Việt Nam còn nhiều hạn chế. Quan trọng là hệ thống giám sát tài chính
cần những quy định và cơ chế giám sát rõ ràng về mức độ an toàn của tổ chức tín
dụng, đặc biệt là khả năng đánh giá khi nào cần hỗ trợ thanh khoản và khi nào tiến
hành thủ tục đóng cửa tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán. Không những thế,
khi cung cấp thanh khoản, phải xác định chắc chắn và trung thực tổ chức tín dụng đi
vay có tài sản thế chấp đầy đủ và có khả năng chi trả hay không, nếu không NHNN
19

sẽ trở thành chủ nợ của một ngân hàng phá sản, ảnh hưởng đến vốn của NHNN và
hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Rõ ràng quy trình về việc đánh giá và
cho vay của NHNN với vai trò NCVCC cần được tuân thủ nghiêm ngặt.
Tuy nhiên, mục đích NHNN “cho vay cuối cùng” là để hỗ trợ thanh khoản ngắn
hạn, tránh những hậu quả nghiêm trọng ánh hưởng đến toàn hệ thống. Chính vì vậy
quy trình thẩm định này mặc dù đòi hỏi tính chính xác và an toàn nhưng cũng cần
nhanh chóng và kịp thời.
Cơ chế giám sát của NHNN phải được tổ chức chặt chẽ, nghiêm túc, nhờ đó mới
có thể phân định được ngân hàng thiếu thanh khoản và ngân hàng mất khả năng
thanh toán. Cơ quan giám sát phải có cách thức xử lý những ngân hàng cố tình làm
mập mờ trong bảng cân đối tài sản nhằm đánh lừa về tình trạng thực của mình và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status