1
Luận văn
Các công cụ chính sách tiền
tệ và việc vận dụng của Ngân
Hàng Nhà Nước Việt Nam 2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG 5
1.1. Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ : 5
1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ : 5
1.3 Các công cụ của CSTT : 6
1.3.1.Nghiệp vụ thị trường mở: 6
1.3.2 Dự trữ bắt buộc: 7
1.3.3 Chính sách tái chiết khấu: 7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CỦA
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 10
2.1 Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ. 10
2.2 Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ những năm qua. 10
2.2.1. Công cụ lãi suất: 10
7 . Hoàng Thị Thảo
8 . Phạm Thanh Thảo
9 . Vũ Thị Thắm
10. Nguyễn Văn Điệp
11. Hoàng Văn Quý 4
LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vĩ mô với hạt
nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung. Mặt khác,
nền kinh tế thị trường bản chất là một nên kinh tế tiền tệ. Do đó việc ổn định
giá trị đồng tiền cùng với việc thiết lập nền Tài Chính Quốc Gia mạnh là cơ
sở đầu tiên cho việc kiềm chế lạm phát, và ổn định nền kinh tế.
Ngày nay việc làm và phân phối thu nhập vừa là vấn đề bức thiết trước
mắt, vừa là vấn đề lâu dài để ổn định và tăng trưởng kinh tế. Vì vậy mà việc
đẩy lùi và kiểm soát lạm phát, tạo công ăn việc làm là vấn đề thường trực.
Giải pháp cho việc đẩy lùi lạm phát, trách thất nghiệp nhiều cần tập trung vào
chính sách tiền tệ nhưng việc lựa chọn giải pháp nào để xây dựng và điều
hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn còn là một ẩn số phức
tạp và nhiều bất cập . Có thể nói chính sách tiền tệ là huyết mạch của nền kinh
tế.
Được sự hướng dẫn của thầy Trịnh Viết Giang nhóm chúng em đã làm
làm hoàn thành chuyên đề 2: Các công cụ chính sách tiền tệ và việc vận dụng
của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam .
Chuyên đề gồm 3 chương :
Chương 1: Chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trường
Chương 2:Thực trạng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ
ở Việt Nam hiện nay.
chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất ,mọi hoạt động của nó đều nhằm
làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn.
1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ :
*ổn định giá trị đồng tiền: NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến
sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình.Giá trị đồng tiền ổn định
được xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền(chỉ số giá cả hàng 6
hoá và dịch vụ trong nước)và sức mua đối ngoại(tỷ giá của đồng tiền nước
mình so với ngoại tệ).Tuy vậy ,CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền
không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng 0 vì như vậy nền kinh tế không thể phát
triển được,để có một tỷ lệ lạm phát giảm phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp
tăng lên.
*Tăng công ăn việc làm: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng
trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực xã hội,quy mô sản xuất
kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế .Để có
một tỷ lệ thất nghịêp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên.
*Tăng trưởng kinh tế :Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi
chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để
giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản
tệ là rất quan trọng ,nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ
.Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách
hài hoà.
Mối quan hệ giữa các mục tiêu :Có mối quan hệ chặt chẽ,hỗ trợ nhau,
không tách rời. Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này
có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau.Vậy để đạt được các
mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cần phải
có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.
Mặt khác khi tăng (giảm ) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay của các
NHTM giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng (giảm),từ đó làm cho
lượng cung ứng tiền giảm (tăng).
Đặc đIểm:Đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nước nên giúp
NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của
nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh
hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền). Song tính linh hoạt của nó không
cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm ,phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh
hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM.
1.3.3 Chính sách tái chiết khấu: 8
Khái niệm : Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn
đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc đIều chỉnh
lãI suất táI chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay táI chiết
khấu(cửa sổ chiết khấu)
Cơ chế tác động:Khi NHTW tăng (giảm ) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn
chế (khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng
cho vay của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền
kinh tế giảm (tăng).Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay chiết
khấu của mình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại.
Ngoài ra, ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưa
phổ biến để có thể làm công cụ táI chiết khấu) thì NHTW còn thực hiện
nghiệp vụ này thông qua việc cho vay táI cấp vốn ngắn hạn đối với các
NHTM.
Đặc điểm:Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là
người cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn
trong thanh toán ,và có thế kiểm soát đựoc hoạt động tín dụng của các NHTM
lưu thông. Việc phân bổ trái phiếu thường mang tính chất bắt buộc. 10
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ.
Kể khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì quá trình thực
hiện chính sách tiền tệ cũng được xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh
tế của nó và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thể hiện ở một số mặt sau:
Cách xác định lượng tiền cung ứng: Nếu như trong thời kỳ bao cấp
chúng ta chỉ quan niệm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm tiền
mặt và mức cung là bao nhiêu, ở thời kỳ nào là do chính phủ phê duyệt thì
ngày nay việc quan niệm về lượng tiền cung ứng để thay đổi bên cạnh lượng
tiền mặt (C) còn tính đến khả năng tạo tiền của các NHTM, tổ chức tín dụng
khác (D). Bên cạnh đó lượng tiền cung ứng hàng năm phải dựa trên cơ sở: tỉ
lệ lạm phát ước tính, tốc độ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch, vòng quay tiền
tệ
Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Được sử dụng một cách
linh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ không
đông cứng, đóng băng như thời kì bao cấp (lãi mất cố định nhiều năm )
Cơ chế điều hành: Năm 1988, Hệ thống NH đã được phân thành 2 cấp
NHNN và các NHTM, trong đó NHNN là cơ quan quản lý Nhà nước trên
lĩnh vực tiền tệ- tín dụng- ngân hàng; trực thuộc chính phủ. Thống đốc
NHNN có quyền chủ động hơn và chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc thực
thành thị và nông thôn. Đó là cơ sở tăng lãi suất huy động vốn VND. Hạn chế
rút tiền VND tích trữ USD ,tăng vốn cho sản xuất kinh doanh.
- Quy định trần lãi suất cho vay bằng USD vẫn giữ nguyên 8,5% năm
như trước đây đồng thời NHNN còn quy định lãi suất tiền gửi tối đa của các 12
pháp nhân tại TCTD nhằm hạn chế việc quản lí ngoại tệ trên tài khoản tiền
gửi góp phần tăng cường cho việc quản lí ngoại hối.
- Đến cuối năm, trần lãi suất cho vay bằng USD được điều chỉnh giảm từ
8,5 % xuống 7,5% năm để phù hợp với cân bằng lãi suất LiBOR, SiBOR hiện
hành; đồng thời góp phần mở rộng cho vay ngoại tệ đối với nền kinh tế.
Nhìn chung việc điều chỉnh lãi suất trong năm 1998 là phù hợp với diễn
biến kinh tế vĩ mô và tỷ giá, nó đã có tác động tích cực đối với việc huy
động vốn và cho vay trong nền kinh tế. Tổng số vốn huy động ở hầu hết các
tổ chức tín dụng đều tăng lên điều đó cho thấy mối tương quan giữa lạm phát
và lãi suất tiền gửi được coi là tương đối hợp lý. Từ đó, quy mô tín dụng cung
ứng cho nền kinh tế tăng lên đặc biệt tín dụng bằng VND có tốc độ tăng cao
hơn. Thị trường ngoại tệ ,tỉ giá VND/USD lại trở về trạng thái tương đối ổn
định.
Bước sang năm 1999, nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng chững lại, để
phù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ
và thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của chính phủ , NHNN đã 5 lần điều
chỉnh trần lãi suất cho vay bằng VND theo xu hướng giảm: Từ 1,2% tháng
(ngắn hạn) và (1,25%tháng -trung dài hạn) xuống mức thấp nhất là 0,85%
tháng (thành thị); 1% tháng (nông thôn); 1,15% tháng (NHTMCP nông thôn-
Quỹ TDND cơ sở ); 0,7% (NH phục vụ người nghèo). Trần lãi suất cho vay
bằng USD là 7,5% năm.
Sự điều chỉnh lãi suất trên là quyết định hết sức kịp thời và phù hợp với
diễn biến của nền kinh tế, kích thích tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh nguy
quốc tế.
- Từ ngày 1/6/2002 ngân hàng nhà nước quyết định chuyển sang cơ chế
lãi suất ổn định Đồng VN của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Đây là
một sự “cởi trói” cho các tổ chức tín dụng trong các hoạt động kinh doanh,
tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng chủ động trong hoạt động huy động
vốn và cho vay đối với khách hàng. Cơ chế mới đã tạo ra sự sôi động trong
hoạt động kinh doanh và cạnh tranh của các tổ chức tín dụng. Nếu như với cơ 14
chế lãi suất cơ bản, trong các đầu năm 2002 lãi suất huy động vốn dừng lại ở
mức 0,6%/tháng, lãi suất cho vay bình quân là 0,7%/tháng, thì từ khi áp dụng
cơ chế lãi suất thỏa thuận từ tháng 6 năm 2002 và nhất là trong các tháng 8và
9 năm 2002 lãi suất huy động vốn cao nhất của các NHTM lên tới 0,7% thậm
trí 0,72%/tháng. Mức lãi suất cao nhất trong vòng gần hai năm qua, không
dừng lại ở đó các tháng đầu năm 2003 do nhu cầu vốn vay trên thị trường vẫn
cao các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng vẫn tiếp tục cuộc cạnh
tranh huy động vốn thông qua các biện pháp nâng lãi suất huy động. Thực
hiện các hình thức khuyến mại rầm rộ và hấp dẫn. Đã xuất hiện diễn biến bất
thường trên thị trường tiền tệ Việt Nam là lãi suất nội tệ tăng lên quá cao,
trong khi lãi suất ngoại tệ giảm xuống quá thấp.
Với nội dụng điều hành lãi suất cơ bản như trên cho thấy lãi suất cơ bản
được xác định trên cơ sở lãi suất thị trường với mức độ rủi ro thấp, đảm bảo
sự kiểm soát lãi suất của NHNN, phù hợp thực tiễn Việt Nam, đây là một
bước tiến mới, bước đi tiếp theo trong tiến trình tự do hoá lãi suất.
Như vậy, chính sách lãi suất linh hoạt và phù hợp cùng với việc ổn định
tỷ giá VND/USD trong những năm qua không những góp phần quan trọng
trong quá trình ổn định kinh tế vĩ mô mà còn làm tăng tính hấp dẫn của đồng
tiền Việt Nam và lòng tin của dẫn chúng vào hệ thống ngân hàng, giảm dần
tình trạng sử dụng hay cất trữ USD, từng bước đẩy lùi tình trạng “đô la hoá” ở
thấy hiện tượng phổ biến là hầu hết các NHTM đều có xu hướng vượt qúa chỉ
tiêu hạn mức tín dụng được giao, cụ thể .
Biểu 2: Tình hình thực hiện hạn mức tín dụng (1995-1998).
Năm
Danh mục
1995 1996 1997
Quỹ T D
/1998
KH
giao
Thực
hiện
KH
giao
Thực
hiện
KH
giao
Thực
hiện
KH
giao
Thực
hiện
Tăng so với
năm trước
21% 37,8%
25% 29% 21% 26,4%
trường vốn phát triển và thị trường mở đi vào hoạt động có hiệu quả.
2.2.3 Công cụ Dự trữ bắt buộc 17
Đây là công cụ gián tiếp điều chỉnh mức cung tiễn được sử dụng sớm
nhất ở Việt Nam (từ 1991), theo pháp lệnh Ngân hàng (1990), tỷ lệ DTBB có
thể ở mức từ 10% đến 30% tổng nguồn vốn huy động của các NHTM.
Song trong điều kiện thực tế lúc bấy giờ khi tiềm lực của các NHTM
Việt Nam còn nhỏ bé và lạm phát đã được kiềm chế ở mức đáng kể, nên
NHNN đã quy định tỉ lệ DTBB là 10%; được áp dụng cho các NHTMQD,
NHTM cổ phần ,chi nhánh NH nước ngoài,NH liên doanh và các công ty tài
chính.
Qua quá trình thực hiện ban đầu cho thấy rất ít NHTM dự trữ đủ 10%
nhất là các NHTM cổ phần, do vậy để nâng cao hiệu quả của công cụ này,
trong năm 1994, NHNN đã hai lần điều chỉnh tỉ lệ DTBB; quy định mức
DTBB thống nhất đối với tất cả các NHTM(có phân biệt với các loại tiền gửi
khác nhau : tiền gửi, tiền tiết kiệm không kì hạn: 13%;tiết kiện kì hạn 3,6
tháng, kì phiếu mục đích, trái phiếu: 8%) ; đồng thời đẩy mạnh việc áp dụng
quy chế phạt đối với các TCTD không thực hiện đúng quy chế DTBB.
Năm 1995, NHNN quy định (T10/1995) DTBB chỉ được tính đối với
loại tiền gửi có kì hạn từ 12 tháng trở xuống, thống nhất ở mức 10% được áp
dụng cho tất cả các NHTM( trừ NHTMCP nông thôn, HTX tín dụng, quỹ
TDND tạm thời chưa phải thực hiện). Số lần tính DTBB hàng tháng tăng lên,
lại bỏ dần tín phiếu kho bạc trong cơ cấu tiền gửi DTBB; tiễn gửi DTBB được
hợp nhất với tiền gửi thanh toán của các NHTM vào một tài khoản chung là
tài khoản tiền gửi không kì hạn tại NHNN. Tiền gửi dự trữ vượt được trả lãi
0,1% tháng (Năm 1996). Điều này đã tạo sự linh hoạt hơn cho việc điều chỉnh
dự trữ của các NHTM tại NHNN, góp phần gián tiếp khống chế lãi suất thị
trường và khối lượng tín dụng cung ứng để thực hiện tốt mục tiêu kiềm chế
1/10/99
1. NHTMQD, NHTM của đô thị,
chi nhánh NH nước ngoài, NH
liên doanh & Công ty TC
10 7 6 5 5
- NH nông nghiệp và PTNT 10 7 6 5 3
2. NHTMCP nông thôn, NH hợp
tác, Quỹ TDNDTW, khu vực.
0 5 4 1 1
3. TCTD có số dư tiền gửi phải
tính DTBB dưới 500
trđ
quỹ
TDND cơ sở, HTX tín dụng, NH
0 0 0 0 0 19
ph
ụ
c v
ụ
ng
ư
ờ
i ngh
è
20
phát, NHNN hạn chế tới mức thấp nhất mức tái cấp vốn cho các NHTM qua
việc nâng lãi suất tái cấp vốn từ 85% -100% lãi suất cho vay các NHTM,
riêng NH nông nghiệp là 95%. Năm 1995 để đẩy mạnh mục tiêu trên, NHNN
đã ngưng tái cấp vốn cho các NHTM nhằm đẩy mạnh công tác thu hồi nợ và
giảm cho vay tín dụng của các NHTM. Nhờ đó, đến cuối 1995 dư nợ cho vay
chiết khấu của NHNN đã giảm xuống 13% so với 1994. Năm 1996 ,để giải
quyết tình trạng khó khăn trong thanh toán của các NHTM, NH đã thực hiện
việc cho vay ngắn hạn đối với các NHTM trong trường hợp tạm thời thiếu
khả năng thanh toán (qua các phiên thanh toán bù trừ trên từng địa bàn).
Nhưng áp dụng lãĩ suất tái chiết khấu ở mức tối đa. Điều này một mặt bảo
đảm được sự ổn định của hệ thống ngân hàng, mặt khác hạn chế được khả
năng cung ứng vượt qúa về tín dụng của các NHTM đồng thời khuyến khích
việc huy động vốn của các NHTM, cũng hạn chế bớt việc các NHTM vay tiền
của NHNN, vì vậy cuối năm 1996, dư nợ cho vay tái chiết khấu chỉ tăng
3,5% so với 1995.
Trong năm 1997 NHNN đã sử dụng phương thức tái cấp vốn có thế chấp
(bằng chứng từ, tiền gửi ngoại tệ tại NHNN) nhằm bù đắp khó khăn tạm thời
trong thanh toán cho các NHTM. Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh từ quy
định 100% lãi suất cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế sang quy định
mức lãi suất cụ thể (từ tháng 3-tháng 7năm 1997). Mức lãi suất tái cấp vốn
quy định là 1,1% tháng, từ T8/1997là 0,9% ). Do trong năm 1997 các NHTM
đã tích cực hơn trong việc trả nợ NHNN và khả năng huy động vốn tăng nên
đến cuối 1997, dư nợ tái cấp vốn của NHNN giảm 11,9% so với 1996.
Năm 1998, để thực hiện chính sách tiền tệ “thắt chặt” nhằm hạn chế sự
gia tăng lạm phát do ảnh hưởng cuả cuộc khủng hoảng tài chính khu vực,
NHNN đã tăng lãi suất tái chiết khấu từ 1%
tháng 1,1% tháng (thấp hơn tiền
lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,1% tháng.
22
NHNN các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác trên thị trường tiền tệ để thực
hiện CSTT quốc gia”
Trước khi thị trường mở chính thức được đưa vào vận hành ở Việt Nam,
NHNN đã từng bước tạo lập cơ sở cho nó qua việc tổ chức đấu thầu và phát
hành các loại tín phiêú, đó là:
Tín phiếu kho bạc Nhà nước (KBNN): từ năm 1996 đến hết năm 1998
NHNN đã phối hợp với KBNN tổ chức đấu thầu tín phiếu và trái phiếu kho
bạc. Năm 1996, KBNN đã phát hành gần 100 tỷ đồng tín phiếu qua NHNN,
sau đó chủ yếu là phát hành trái phiếu kho bạc (thời hạn một năm). Tổng
mệnh giá trúng thầu năm 1997 là 2917,5 tỷ VND (37 đợt ); năm 1998 là
4020,7 tỷ VND (46 đợt),năm 1999 là 3011.6 tỉ VND(46 đợt) , năm 2000 là
4441.0 tỉ VND (43 đợt). Các đối tượng trúng thầu chủ yếu là các NHTM
Quốc doanh, các NHTM cổ phần và các Công ty Bảo hiểm. Song nếu theo
quy định của luật NHNN thì các trái phiếu này không thể sử dụng làm công
cho thị trường mở được.
Tín phiếu NHNN: Do NHNN Việt Nam phát hành từ năm 1995, tính đến
thời điểm tháng 7/1999 NHNN đã tổ chức được 6 đợt phát hành tín phiếu
NHNN. Các đợt này đều được tổ chức vào các thời điểm khi mà tổng phương
tiện thanh toán và lạm phát có xu hướng gia tăng nhằm rút bớt tiền trong lưu
thông. Tổng mệnh giá đã phát hành của cả 6 đợt là 3.400 tỉ VND; phần lớn
các tín phiếu này đều có thời hạn 3 tháng.
Cho đến ngày 12/7/2000, NHNN chính thức khai trương đưa nghiệp vụ
thị trường mở vào hoạt động theo phương hướng sử dụng nó như là một công
cụ điều tiết tiền tệ linh hoạt và có hiệu quả của NHNN.
Trong năm 2000, NHNN đã thực hiện được 17 phiên giao dịch thị
trường mở, trong đó có 14 phiên mua được 1353,50 tỷ đồng đạt 71,24% khối
lượng chào mua với lãi suất trong khoảng 4,20%- 5,58% năm và 3 phiên bán
Chỉ tiêu
1996 1997 1998 1999 2000
Tốc độ tăng của
22,7 25,4 23,9 39,28 38 24
M2(%)
Tỷ lệ lạm phát (%) 4,5 3,6 9,2 0,9 6
Về sức mua đối ngoại của đồng tiền, cơ chế điều hành tỉ gía từng bước
được điều chỉnh phối hợp cùng với các công cụ của CSTT đã dần phù hợp với
thông lệ quốc tế, góp phần đẩy mạnh các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của
Việt Nam, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu.
Biểu 5: Tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam
Năm
Chỉ tiêu
1996 1997 1998 1999
- Xuất khẩu (%) 38 24 4 23,3
=11.540 tr USD
- Nhập khẩu (%) 54 -7 11 _
* Góp phần tăng trưởng kinh tế:Việc ổn định giá trị VND đã tạo lòng
tin của nhân dân vào đồng bản tệ, tạo môi trường đầu tư lành mạnh, thu hút
được nguồn vốn đáng kể từ trong và ngoài nước. Đặc biệt việc điều chỉnh các
công cụ CSTT: lãi suất, tỉ lệ dự trữ bắt buộc của NHNN ở các giai đoạn cụ
thể đã có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới việc huy động và phân bổ nguồn
vốn có hiệu quả trong nền kinh tế của các TCTD. Cũng từ đó mà góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế liên tục qua các năm.