CHÍNH SÁCH KIỂM SOÁT LÃI SUẤT TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC HIỆN NAY - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
o0o
MÔN: LÝ THUYẾT TCTT
ĐỀ TÀI:
“CHÍNH SÁCH KIỂM SOÁT LÃI SUẤT TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC HIỆN NAY”
Giáo viên hướng dẫn: TS. Diệp Gia Luật
Nhóm thực hiện: Nhóm 4
Lớp: CHKT - Ngày 3 - QTKD
TP.HCM 04/04/2012
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
TRÍCH BIÊN BẢN HỌP NHÓM
(V/v Phân công nhiệm vụ thực hiện và đánh giá hiệu quả tham gia thực hiện đề
tài môn Lý thuyết Tiền tệ)
*Biên bản họp lần 1:
Ngày: 17/03/2012
Địa điểm: Phòng học B211
Nội dung: Triển khai thực hiện đề tài nhóm môn Lý thuyết tiền tệ
Thành phần: Thành viên Nhóm 4 – Lớp CHKT- ngày 3
Chủ trì: Lê Thị Vịnh – trưởng nhóm
Thư ký: Trần thị Trà My
Nội dung chi tiết:
- Chị Vịnh triển khai phân công thực hiện đề tài theo yêu cầu của Giảng viên bộ môn:
Nhóm 4 sẽ thực hiện viết và hoàn thành đề tài “ Chính sách kiểm soát lãi suất tín dụng
và vai trò của tín dụng của ngân hàng Nhà nước hiện nay”
- Phân công: C. Vịnh: Chịu trách nhiệm chung đôn đốc và kiểm tra quá trình nhóm
thực hiện; Viết phần mở đầu và kết luận; Soạn đề cương; Hoàn chỉnh đề tài.
• Trà My, Viết Quý : Đánh giá sự tăng trưởng của tín dụng trong thời gian gần
đây
• A. Chiến, Khánh Linh, Hữu Trường, Du Thuần, Đức Phương: Chịu trách

của từng cá nhân sôi nổi với nhiều hình thức: Qua E mail, điện thoại, tại lớp,…
Việc đánh giá của cả nhóm là đồng đều, mỗi người một trách nhiệm và hoàn thành
xuất sắc.
100% thành viên tham dự họp thống nhất đề nghị giảng viên ghi nhận việc đánh
giá của nhóm đối với các thành viên là chính xác.
DANH SÁCH NHÓM 4
DANH SÁCH NHÓM 4
Nhóm 4 3
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
LỚP CAO HỌC NGÀY 3- KHÓA 21
LỚP CAO HỌC NGÀY 3- KHÓA 21
STT HỌ VÀ TÊN
ĐÁNH GIÁ MỨC
ĐỘ ĐÓNG GÓP &
HOÀN THÀNH
CHỮ KÝ
1 Đào thân Chinh Tích cực : 100%
2 Vũ Huy Chiến
Tích cực : 100%
3 Trần Thị Trà My
Tích cực : 100%
4 Trần Đăng Khoa
Tích cực : 100%
5 Nguyễn Thi Khánh Linh
Tích cực : 100%
6 Trần Đức Phương
Tích cực : 100%
7 Nguyễn Thành Phi
Tích cực : 100%
8 Nguyễn Viết Quý
Nhóm 4 5
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN


lưu động); mục đích sử dụng vốn (TD sản xuất và lưu thông hàng hoá, TD trong tiêu
dùng); chủ thể trong quan hệ TD (TD hàng hoá, TD thương mại, TD nhà nước).
Hệ thống tín dụng thường gắn liền với hệ thống ngân hàng. Ngân hàng được
đánh giá là mạch máu duy trì sức sống của nền kinh tế, sau mỗi cuộc khủng hoảng,
ngành ngân hàng sẽ phải hồi phục trước, để từ đó ”bơm vốn” hỗ trợ cho sự tăng trưởng
trở lại của nền kinh tế chung. Chính vì lý do đó, kiểm soát lãi suất tín dụng là một việc
bắt buộc mà mọi quốc gia đều phải thực hiện để kiểm soát được nền kinh tế của nước
mình.
Hiện nay, thị trường ngân hàng của Việt nam có thể nói là quá nhiều, chúng ta
có thể nói một câu “Ra cửa gặp ngân hàng”. Hệ thống ngân hàng của chúng ta phát
triển quá nhanh, mỗi ngân hàng có hàng trăm, hoặc vài trăm chi nhánh, việc phát triển
các chi nhánh quá nhiều là tăng khả năng thỏa mẫn nhu cầu của khách hàng, tuy nhiên
điều này cũng làm tăng chi phí của các ngân hàng. Mặt khác, Sự phát triển mạnh của
hệ thống ngân hàng làm sự cạnh tranh trong ngành ngày càng cao. Cạnh tranh không
chỉ qua dịch vụ chăm sóc khách hàng, lãi suất cho vay, mà có những lúc còn cạnh
tranh nhau bằng cả lãi suất huy động.
Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của
quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng
phải trả cho người cho vay; là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay
trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử
Nhóm 4 8
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc
trì hoãn chi tiêu.
Lợi tức là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự vận động của tín dụng và do
bản chất của tín dụng quyết định. Lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận
được ở người đi vay trả cho việc sử dụng tiền vay. Thực chất, lãi suất được biểu hiện
bằng quan hệ tỷ lệ giữa lợi tức tín dụng và tổng số tiền vay trong một thời gian nhất
định.
Lãi suất tín dụng có hai ý nghĩa chính là ý nghĩa vi mô và ý nghĩa vĩ mô.

Nhóm 4 11
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
PHẦN 2: CHÍNH SÁCH KIỂM SOÁT LÃI SUẤT TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC HIỆN NAY
1. Chính sách kiểm soát lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước năm
2011:
Hiện nay, các chính sách kiểm soát tín dụng của Ngân hàng Nhà nước đưa ra
chủ yếu nhằm mục đích kiểm soát lạm phát tại Việt nam.
Chúng ta cùng nhau tìm hiểu tại sao Việt nam lại đặt tiêu chí kiểm soát lạm
phát lên hàng đầu trong các chính sách kiểm soát tín dụng.
Trong sự biến động của nền kinh tế vĩ mô hiện nay, kiểm soát lạm phát và lãi
suất đang là các mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Sự tăng cao của lạm phát
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt là những
người có thu nhập thấp, điều này có thể đẩy họ đến những hoàn cảnh cùng quẫn và gây
ra những bất ổn về an ninh trật tự của quốc gia. Bên cạnh đó, những diễn biến phức
tạp của thị trường tài chính, tín dụng và ngân hàng dẫn đến sự không hiệu quả trong
kiểm soát lãi suất có thể càng làm trầm trọng thêm vấn đề lạm phát. Chính vì vậy,
cùng với rất nhiều các nỗ lực khác nhau của Chính phủ ở các khía cạnh khác nhau
nhằm hướng tới mục tiêu chung là kiểm soát lạm phát, việc điều hành chính sách lãi
suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong thời gian qua cũng không nằm ngoài
mục tiêu này. Tuy nhiên, trong thời điểm tháng cuối cùng của năm 2011, với sự điều
hành cương quyết của NHNN và Chính phủ, chính sách lãi suất đã và đang được đánh
giá là phát huy tính hiệu quả và góp phần tạo ra những tín hiệu tích cực cho nền kinh
tế trong thời gian tới.
Nhóm 4 12
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
1.1 Tình hình kinh tế vĩ mô 2010 – 2011:
Sau thời kỳ ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, các chính sách kích cầu,
chính sách hỗ trợ lãi suất được thực hiện trong các năm 2008, 2009 dần kết thúc. Từ
năm 2010, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phải đi theo quỹ đạo thực sự của nó, các

mức tăng cao nhất trong các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, trong mối quan tâm
chung của toàn cầu về điều chỉnh giá năng lượng và các sản phẩm công nghiệp, các
mặt hàng này có thể góp phần điều chỉnh giảm đối với tỷ lệ lạm phát. Đặc biệt, nhóm
hàng nhà ở và giao thông được cho là có tác động lớn đối với tỷ lệ lạm phát trong đầu
năm nay (Báo cáo của Citigroup). Các tính toán từ các mô hình Leontief và ARIMA
đưa NDH Money đến dự báo CPI tháng 12 có thể tăng khoảng 0,6% so với tháng
Nhóm 4 14
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
trước và CPI năm 2011 tăng khoảng 18,2%, gần mức dự tính sau nhiều lần điều chỉnh
của Chính phủ là 18%. Nửa đầu năm 2012, mức lạm phát có thể được điều chỉnh
giảm xuống còn 9 - 10%.
1.2 Diễn biến chính sách lãi suất của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2011:
Trước tháng 3/2011, chính sách lãi suất của Việt Nam không có nhiều biến
động khi nền kinh tế đang trên đà phục hồi. Các mức lãi suất được duy trì ở mức khá
thấp từ sau gói hỗ trợ lãi suất của NHNN, do vậy, cơ chế lãi suất trần không còn cần
thiết. Chính vì vậy, ngày 14/04/2010, NHNN đã ban hành Thông tư số 12/2010/TT-
NHNN hướng dẫn tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay bằng đồng Việt Nam đối với
khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.
Tuy nhiên, từ tháng 03/2011 cho đến nay, tỷ lệ lạm phát lại tăng cao với sự gia
tăng mạnh giá cả nhiên liệu, năng lượng và các hàng hóa khác. Với mục tiêu kiểm
soát lạm phát và ổn định nền kinh tế, NHNN đã phải thực thi chính sách tiền tệ thắt
chặt, điều này đã tác động làm tăng lãi suất tiền gửi và cho vay của các ngân hàng
thương mại (NHTM). Nhằm ngăn chặn tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa
các ngân hàng, NHNN đã ban hành Thông tư 02/2011/TT-NHNN ngày 3/3/2011 quy
định về mức lãi suất trần huy động tiền gửi là 14% cho các NHTM. Ưu tiên hàng đầu
của NHNN hiện nay là giảm lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp bằng cách kiểm
soát chặt chẽ mức lãi suất huy động đầu vào của các ngân hàng. Trong tháng 9/2011,
NHNN đã có những biện pháp quyết liệt nhằm tăng cường kiểm soát đối với chính
Nhóm 4 15
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật

14,5% vào tháng 03/2010 (khi bắt đầu thỏa thuận về trần lãi suất giữa NHNN và
Hiệp hội Ngân hàng) lên đến mức 18,5% vào tháng 06/2011 và 18,73% vào tháng
Nhóm 4 16
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
08/2011. Theo báo cáo của NHNN, mức lãi suất cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất
bao gồm bất động sản, chứng khoán hay tiêu dùng còn cao hơn mức lãi suất trung bình
từ 3 - 5%. Tuy nhiên, kể từ khi NHNN có những động thái kiên quyết trong việc thực
hiện chính sách trần lãi suất huy động trong tháng 11 và tháng 12/2011, lãi suất cho
vay cũng đã có những tín hiệu tích cực. Các NHTM lớn đã có những công bố về hạ
mức lãi suất cho vay xuống 17,5% - 18% đối với doanh nghiệp.
Chính sách trần lãi suất tỏ ra không có hiệu lực và khó kiểm soát trong 10
tháng đầu năm, nhưng nhanh chóng có những chuyển biến tích cực trong các tháng
cuối năm.
Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2010 đến tháng 3/2011, chính sách trần lãi
suất huy động được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của các NHTM. Tuy
nhiên, điều này đã cho thấy sự thỏa thuận này không có hiệu lực trong thực tế.
Chính vì vậy, từ tháng 3/2011, NHNN đã ban hành Thông tư 03 ngày 03/3/2011 với
yêu cầu bắt buộc thực hiện chính sách trần lãi suất huy động đối với các NHTM. Tuy
nhiên, quy định này vẫn thường xuyên bị xem nhẹ và bị các NHTM tìm cách “lách
luật”. Đến tháng 9/2011, đích thân Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình phải công bố
các hình thức xử lý nếu như phát hiện các NHTM vi phạm quy định về trần lãi suất
huy động. Tuy nhiên, một lần nữa, một số NHTM lại tìm được các khe hở trong quy
định về trần lãi suất huy động của NHNN để đối phó với quy định này. Từ đây,
NHNN đã có những xem xét một cách dài hạn trong chính sách quản lý lãi suất,
tránh tình trạng chính sách đi sau thực tế. NHNN cũng đã xây dựng chiến lược tái cấu
trúc hệ thống ngân hàng với các lộ trình cụ thể. Một số NHTM nhỏ đang gặp khó khăn
về thanh khoản đã có những động thái tự nguyện và tích cực trong việc ủng hộ chiến
lược tái cấu trúc hệ thống của NHNN. Điển hình là quyết định đầu tiên về hợp nhất ba
ngân hàng: Đệ Nhất (Ficombank), Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank) và Sài Gòn
(SCB) trong tháng 12/2011 đã không làm xáo động đến hệ thống ngân hàng cũng

hệ thống NHTM Việt Nam.
Thứ nhất, các NHTM nhỏ thực sự gặp khó khăn về thanh khoản và thiếu hụt
vốn. Đặc biệt, với sự hình thành và liên kết của 12 NHTM lớn cùng với NHNN,
một cuộc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng quy mô lớn có thể xảy ra. Các NHTM nhỏ
buộc phải có những liên kết và thỏa ước nhất định với các NHTM lớn. Số lượng
NHTM tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua cũng đang được nhiều chuyên gia
đánh giá là chưa phù hợp, chưa tương xứng với năng lực quản trị, chất lượng nguồn
nhân lực
Thứ hai, khó khăn từ nguồn tín dụng chính thức của các NHTM có thể là
nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ của các hoạt động tín dụng phi chính thức trong nền
Nhóm 4 18
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
kinh tế. Với sự phát triển nóng của nền kinh tế và của thị trường bất động sản giai
đoạn 2004 - 2007, rất nhiều hoạt động tín dụng phi chính thức đã được hình thành
dưới hình thức các cá nhân, tổ chức tự huy động vốn với lãi suất cao để đầu tư bất
động sản. Trong đó, sự liên kết với các khoản tín dụng chính thức không phải là ít khi
các cá nhân, tổ chức này lại lấy chính các bất động sản họ mua được để thế chấp vay
tiền chính thức của ngân hàng. Với sự thắt chặt của chính sách tiền tệ và sự khan hiếm
tiền của các NHTM, dòng tín dụng chính thức bắt đầu bị chặn lại trong khi thị trường
bất động sản vẫn đang tiếp tục đóng băng đã dẫn đến sự đổ vỡ của các thương vụ vay
mượn phi chính thức. Điều này đang làm ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý và lòng
tin của người dân và nhà đầu tư đến khả năng ổn định của nền kinh tế.
Thứ ba, sự căng thẳng về lãi suất trong việc duy trì trần lãi suất có thể làm gia
tăng nợ xấu của các NHTM. Đặc biệt, các NHTM nhỏ gặp căng thẳng về thanh
khoản nhưng lại không thể huy động được vốn do không có lợi thế cạnh tranh, các
ngân hàng này cũng là những ngân hàng thường có tỷ lệ cho vay bất động sản lớn. Khi
dư nợ tín dụng không tăng thì nợ xấu sẽ gia tăng từ các khoản cho vay bất động sản và
sự phá sản của các doanh nghiệp nhỏ và vừa do không tiếp cận được vốn tín dụng.
Theo Stoxplus, thông tin chính thức từ NHNN thì nợ xấu trong hệ thống NHTM tính
đến cuối tháng 6/2011 vẫn dưới mức 3%, tuy nhiên, con số ước tính của Fitch Rating

doanh nghiệp khó khăn và chậm trả nợ trong lúc thanh khoản của hệ thống bị NHNN
siết chặt, nợ xấu trong khối ngân hàng gia tăng nhanh chóng, nhất là những ngân hàng
không có tiềm lực mạnh. Nhu cầu cải tổ hệ thống ngân hàng vốn đã yếu kém là điều
tất yếu và NHNN đang ráo riết triển khai một kế hoạch cải tổ như vậy. Việc thanh lọc
những doanh nghiệp và ngân hàng yếu kém trong năm qua và sắp tới, xét trên khía
cạnh hiệu quả kinh tế, là điều cần thiết cho mục tiêu phát triển dài hạn và bền vững của
Việt Nam. Nới lỏng tiền tệ quá sớm có thể làm công cuộc tái cấu trúc này không đi
đến đích.
2. Chính sách kiểm soát lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước năm
2012:
Trên cơ sở những thành quả đạt được trong việc thực hiện các CSTT trong năm
2011, mới đây nhất Ngân hàng Nhà nước đưa ra Tiêu chí để phân chia các nhóm bao
dựa trên quy mô vốn,năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro, những sai sót sai
phạm trong tuân thủ chỉ thị của Ngân hàng Nhà nước. Theo đó, ngân hàng thuộc nhóm
1 tương đối, an toàn lành mạnh ổn định sẽ được tăng trưởng ở mức cao nhất 17%;
ngân hàng thuộc nhóm 2 ở mức thấp hơn thì tỷ lệ là 15%; ngân hàng thuộc nhóm 3 tối
đa 8% và ngân hàng thuộc nhóm 4 thuộc diện đang phải cơ cấu lại có vì nguy cơ mất
an toàn nên không được tăng trưởng tín dụng,”. Đây là một biện pháp nhằm phát tạo
Nhóm 4 20
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
sự phát triển biền vững của các Ngân hàng, thúc đẩy việc giảm tỷ lệ nợ xấu, tăng độ an
toàn của các Ngân hàng.
Chưa đầy hai tháng trước dư luận còn rất bức xúc khi nhiều ngân hàng công bố
những con số lợi nhuận rất lớn trong khi nhiều doanh nghiệp phải oằn mình chịu lãi
suất cao. Nghịch lý này cho thấy giới ngân hàng, nhất là những ông lớn, vẫn giữ được
chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay rất cao. Họ làm được điều này một phần
vì trần lãi suất huy động 14% mà NHNN áp đặt, một phần vì còn nhiều doanh nghiệp
vẫn chấp nhận vay với mức lãi suất có lúc vượt 20%/năm. Một khi quá trình thanh lọc
doanh nghiệp yếu kém phát huy hiệu quả, nhu cầu vay vốn từ khối doanh nghiệp sẽ
giảm và lãi suất cho vay sẽ tự động hạ thấp, kéo theo lợi nhuận của giới ngân hàng sẽ

quan hệ tín dụng – tiền tệ bình thường và trong một môi trường kinh tế lành mạnh. Nợ
chỉ trở thành nợ xấu (vấn đề) khi nó bị sự cố trong những hoạt động kinh doanh có và
bị trắc trở khách quan. Nợ sẽ trở thành nợ bẩn (vấn nạn) khi nó là sự cấu kết bất chính.
Vấn đề và vấn nạn của các đề án mang tầm quốc gia và vĩ mô này thường có một mẫu
số chung lớn: nợ bẩn. Khủng hoảng tại Mỹ cũng bắt đầu từ mẫu số chung đó: “Nợ
dưới chuẩn – Subprime loan hoặc khoản vay láo – Liar loan”. Cái giá mà nền kinh tế
và xã hội của họ đã, đang và sẽ trả là quá lớn vì họ đã làm một cuộc “tổng vệ sinh”
quá trễ.
Đề án 254 của Việt Nam, trực tiếp hoặc gián tiếp – nhiều hoặc ít – lớn hoặc
nhỏ, với những dữ liệu trên công luận về hàng loạt sự kiện sự cố của lĩnh vực quốc
doanh như tập đoàn Công nghiệp và tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) thì chúng ta cũng
không thể tránh được cách xử lý mẫu số chung… nợ bẩn.
Nợ bẩn là một thực tại và đang tồn tại trong hệ thống. Nếu thật sự muốn xử lý
những rối bời và nhức nhối của những “nợ bẩn”, không còn sự lựa chọn nào khác là
chúng ta phải ghi nhận nó và nhanh chóng thực hiện giải pháp “tổng vệ sinh” nó.
Thứ hai : giải bài toán Ai bán, ai mua?
Trong đề án, phần cơ cấu lại tài chính – mua và bán nợ của các tổ chức tín
dụng, là một trong những vấn đề được nhấn mạnh và trong thực tế sẽ được nhiều đối
tượng liên quan, như người đầu tư tư nhân trong và nước ngoài, cổ đông của ngân
hàng đang bị chế tài, người vay nợ có tài sản thế chấp, các định chế tài chính liên quan
trong và ngoài nước, rất quan tâm. Có hai yếu tố quyết định sự thành công hoặc thất
bại trong việc cơ cấu lại tài chính – mua và bán nợ cần phải được thể hiện ngay.
Ngược lại, nó sẽ mở đường cho những xung đột lợi ích của các đối tượng có quyền lợi
trực tiếp hoặc gián tiếp.
Trước tiên, ưu tiên của những ưu tiên trong giai đoạn này là tách bạch được các
loại nợ – nợ xấu và nợ bẩn. Nếu không có hoặc thiếu tính minh bạch trong việc tách
Nhóm 4 22
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
bạch các loại nợ thì tính khả thi của đề án sẽ bị giảm rất nhiều, và nhất là đe doạ hoặc
phá vỡ hai mục đích quan trọng của đề án: lành mạnh hoá hệ thống và tạo dựng lại

Nhóm 4 23
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
nợ xấu của DNNN là bao nhiêu, xem ra rất khó có câu trả lời chính xác. Theo NHNN
thì đến cuối tháng 9.2011, dư nợ cho vay DNNN là khoảng 416.000 tỉ đồng, tương
đương 17% tổng dư nợ tín dụng, trong đó có một tỷ lệ nợ xấu không nhỏ. Còn vào thời
điểm tháng 10.2011, ông Deepak Mishra – kinh tế trưởng ngân hàng Thế giới cho rằng
hiện các DNNN chiếm tới 60% tín dụng của các ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Đặc
biệt, mức nợ của các DNNN đang chiếm tới 70% nợ xấu của các ngân hàng.
Với con số nợ xấu thuộc hàng khổng lồ đó, thị trường hiện nay lại trông chờ
chủ yếu vào DATC. Theo công bố của DATC, gần sáu năm qua, đơn vị này đã thực
hiện được khoảng 109 phương án mua bán nợ và tài sản theo phương thức thoả thuận
để thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp. Tổng mệnh giá nợ và tài sản đã mua khoảng
7.000 tỉ đồng, xử lý tồn tại tài chính cho doanh nghiệp khoảng 2.200 tỉ đồng. Như vậy,
trung bình mỗi năm DATC xử lý được 366,67 tỉ đồng. Dù là công ty mua bán nợ duy
nhất mang tầm quốc gia nhưng đơn vị này chưa thể phát huy hết vai trò của mình. Đơn
cử là khi Vinashin đổ bể, để tiếp cận nguồn nợ, DATC đã phải làm nhiều công văn xin
phép cấp trên, thế nhưng đến nay vẫn chưa tiếp cận được. Hay như tổng công ty Dâu
tằm tơ, thua lỗ đã hàng chục năm nay, nhưng đến nay DATC mới công bố bắt đầu vào
cuộc.
Với tốc độ này, từ nay đến năm 2015, DATC chỉ có thể xử lý được một phần
rất nhỏ nợ xấu. Vậy đâu là sự đột biến để DATC làm tròn sứ mệnh này? Đây là một
câu hỏi mà muốn có được lời giải đòi hỏi Chính phủ phải có những chính sách quản lý
tiền tệ nói riêng và những chính sách kinh tế, an sinh xã hội nói chung đồng bộ, nhất
quán để đạt được mục đích đã đề ra.
Nhóm 4 24
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
PHẦN 3: KẾT LUẬN
Trong năm 2011 và những tháng đầu năm 2012, bằng những chính sách tiền tệ
cứng rắn của Ngân hàng nhà nước và của chính phủ, đã mang lại những kết quả khả
quan trong việc giảm lãi suất cho vay, hiện nay lãi suất cho vay đang ở mức dưới


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status