TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
o0o MÔN: LÝ THUYẾT TCTT
ĐỀ TÀI: Giáo viên hướng dẫn: TS. Diệp Gia Luật
Nhóm thực hiện: Nhóm 4
Lớp: CHKT - Ngày 3 - QTKD TP.HCM 04/04/2012
Chính sách kiểm soát tín dụng của
ngân hàng nhà nước Việt Nam
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
Nhóm 4 2
TRÍCH BIÊN BẢN HỌP NHÓM
(V/v Phân công nhiệm vụ thực hiện và đánh giá hiệu quả tham gia thực hiện đề
tài môn Lý thuyết Tiền tệ)
*Biên bản họp lần 1:
Ngày: 17/03/2012
Địa điểm: Phòng học B211
Nội dung: Triển khai thực hiện đề tài nhóm môn Lý thuyết tiền tệ
Thành phần: Thành viên Nhóm 4 – Lớp CHKT- ngày 3
- Chuyển file đề tài nộp thầy.
100% thành viên tham dự thống nhất với nội dung họp nhóm.
*Biên bản họp nhóm đánh giá mức độ tham gia thực hiện đề tài:
Ngày 1/04/2012:
Địa điểm: tại phòng học:
Nội dung: Đánh giá thực hiện đề tài
Thành phần: Thành viên nhóm 4 (Vắng Thành Phi; Đức Phương: Có lý do)
Chủ trì: C. Vịnh
Thư ký: Trà My.
Chị Vịnh nêu rõ bài viết đã được hoàn thành trước thời hạn quy định của nhóm,
trên cơ sở bài viết được đánh giá (góc độ nhóm) là đảm bảo đạt yêu cầu.
Các thành viên đều tham gia tích cực, thảo luận, trao đổi, phản biện theo quan điểm
của từng cá nhân sôi nổi với nhiều hình thức: Qua E mail, điện thoại, tại lớp,…
Việc đánh giá của cả nhóm là đồng đều, mỗi người một trách nhiệm và hoàn thành
xuất sắc.
100% thành viên tham dự họp thống nhất đề nghị giảng viên ghi nhận việc đánh
giá của nhóm đối với các thành viên là chính xác.
N
H
H
Ó
Ó
M
M4
4Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
Nhóm 4 4
L
L
Ớ
Ớ
P
PC
C
A
A
O
O
Ó
Ó
A
A2
2
1
1
STT HỌ VÀ TÊN
ĐÁNH GIÁ MỨC
ĐỘ ĐÓNG GÓP &
HOÀN THÀNH
CHỮ KÝ
1 Đào thân Chinh Tích cực : 100%
2 Vũ Huy Chiến
Tích cực : 100%
3 Trần Thị Trà My
Tích cực : 100%
4 Trần Đăng Khoa
Tích cực : 100%
5 Nguyễn Thi Khánh Linh
Tích cực : 100%
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
Nhóm 4 6
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
PHẦN 2: CHÍNH SÁCH KIỂM SOÁT LÃI SUẤT TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC HIỆN NAY
1. Chính sách kiểm soát lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước năm 2011 12
1.1 Tình hình kinh tế vĩ mô 2010 – 2011 13
1.2 Diễn biến chính sách lãi suất của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2011 15
1.3 Phân tích hiệu quả của chính sách lãi suất của Việt Nam 16
1.4 Nguy cơ và triển vọng: 18
2. Chính sách kiểm soát lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước năm 2012 20
PHẦN 3: KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
Nhóm 4 8
PHẦN 1: CHÍNH SÁCH KIỂM SOÁT LÃI SUẤT TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC HIỆN NAY
1. Khái quát tín dụng và vai trò của tín dụng trong nền kinh tế:
Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay.
Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc
hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay có
nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không
kèm theo một khoản lãi. TD có vị trí quan trọng đối với việc tích tụ, tận dụng các nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh doanh. TD được phân loại theo các tiêu thức:
thời hạn TD (TD ngắn hạn, trung hạn, dài hạn); đối tượng TD (TD vốn cố định, TD vốn
lưu động); mục đích sử dụng vốn (TD sản xuất và lưu thông hàng hoá, TD trong tiêu
dùng); chủ thể trong quan hệ TD (TD hàng hoá, TD thương mại, TD nhà nước).
Hệ thống tín dụng thường gắn liền với hệ thống ngân hàng. Ngân hàng được
đánh giá là mạch máu duy trì sức sống của nền kinh tế, sau mỗi cuộc khủng hoảng,
ngành ngân hàng sẽ phải hồi phục trước, để từ đó ”bơm vốn” hỗ trợ cho sự tăng trưởng
trở lại của nền kinh tế chung. Chính vì lý do đó, kiểm soát lãi suất tín dụng là một việc
o Trên tầm vĩ mô, lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô rất có hiệu
quả của chính phủ thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong
từng thời kỳ nhất định, làm ảnh hướng đến nền kinh tế của 1 quốc gia.
Việc kiểm soát lãi suất tín dụng mang một ý nghĩa rất quan trọng đối với định
hướng sự phát triển của hệ thống ngân hàng, góp phần vào sự phát triển của nền kinh
tế xã hội, kiểm soát lạm phát và kiểm soát giá cả trên thị trường.
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
Nhóm 4 10
2. Sự tăng trưởng của tín dụng trong thời gian gần đây:
Theo công bố của ngân hàng nhà nước, tăng trưởng tín dụng trong vòng 11
năm, từ 2001 tới 2011 cụ thể như sau:
T
Ă
NG TR
ƯỞ
NG TÍN D
Ụ
NG
21.4
22.2
28.2
40.5
19.2
21.4
51.39
30
37.73
có những biến động mạnh. Nó làm khả năng tiếp cận nguồn vốn của các cá nhân
doanh nghiệp trở nên khác nhau, tạo nên kẽ hở cho một bộ phận lợi dụng và hưởng lợi.
Để điều chỉnh vấn đề này, ngân hàng nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách nhằm quản
lý chặt hệ thống tín dụng cũng như mức lãi suất ở mức hợp lý. Một trong những chính
sách đó là chính sách quy định trần lãi suất huy động tín dụng được ngân hàng nhà
nước thực hiện trong năm 2011.
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
Nhóm 4 12
PHẦN 2: CHÍNH SÁCH KIỂM SOÁT LÃI SUẤT TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC HIỆN NAY
1. Chính sách kiểm soát lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước năm
2011:
Hiện nay, các chính sách kiểm soát tín dụng của Ngân hàng Nhà nước đưa ra
chủ yếu nhằm mục đích kiểm soát lạm phát tại Việt nam.
Chúng ta cùng nhau tìm hiểu tại sao Việt nam lại đặt tiêu chí kiểm soát lạm
phát lên hàng đầu trong các chính sách kiểm soát tín dụng.
Trong sự biến động của nền kinh tế vĩ mô hiện nay, kiểm soát lạm phát và lãi
suất đang là các mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Sự tăng cao của lạm phát
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt là những
người có thu nhập thấp, điều này có thể đẩy họ đến những hoàn cảnh cùng quẫn và gây
ra những bất ổn về an ninh trật tự của quốc gia. Bên cạnh đó, những diễn biến phức
tạp của thị trường tài chính, tín dụng và ngân hàng dẫn đến sự không hiệu quả trong
kiểm soát lãi suất có thể càng làm trầm trọng thêm vấn đề lạm phát. Chính vì vậy,
cùng với rất nhiều các nỗ lực khác nhau của Chính phủ ở các khía cạnh khác nhau
nhằm hướng tới mục tiêu chung là kiểm soát lạm phát, việc điều hành chính sách lãi
suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong thời gian qua cũng không nằm ngoài
mục tiêu này. Tuy nhiên, trong thời điểm tháng cuối cùng của năm 2011, với sự điều
hành cương quyết của NHNN và Chính phủ, chính sách lãi suất đã và đang được đánh
giá là phát huy tính hiệu quả và góp phần tạo ra những tín hiệu tích cực cho nền kinh
Chính vì vậy, Báo cáo triển vọng phát triển châu Á đã dự báo tăng trưởng GDP của
Việt Nam trong năm 2011 và 2012 sẽ ở mức thấp hơn so với năm 2010.
Mức tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm 2011 nằm ở mức 5,76%. Mặc dù tăng
trưởng kinh tế chậm lại, nhưng tỷ lệ lạm phát tính theo năm trong tháng 8 vẫn tăng cao
lên mức 23% so với cùng kỳ năm ngoái. Lạm phát tăng cao có nguyên nhân từ việc
giá lương thực tăng vọt và ảnh hưởng tác động từ tăng trưởng tín dụng nhanh trong
năm 2010, cũng như các tác động chậm của những lần điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ. Mặc
dù lạm phát đã được kiềm chế ở mức 0,9% trong tháng 8, so với mức tăng 3,3% của
tháng 4, nhưng lạm phát tính theo năm đến thời điểm này của năm 2011 cũng đã đạt
23,02% - mức cao nhất kể từ tháng 11/2008. Nhóm mặt hàng có tốc độ tăng giá cao
nhất trong cơ cấu CPI của Việt Nam là nhóm hàng thực phẩm, tăng 40%, được xem là
mức tăng cao nhất trong các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, trong mối quan tâm
chung của toàn cầu về điều chỉnh giá năng lượng và các sản phẩm công nghiệp, các
mặt hàng này có thể góp phần điều chỉnh giảm đối với tỷ lệ lạm phát. Đặc biệt, nhóm
hàng nhà ở và giao thông được cho là có tác động lớn đối với tỷ lệ lạm phát trong đầu
năm nay (Báo cáo của Citigroup). Các tính toán từ các mô hình Leontief và ARIMA
đưa NDH Money đến dự báo CPI tháng 12 có thể tăng khoảng 0,6% so với tháng trước
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
Nhóm 4 15
và CPI năm 2011 tăng khoảng 18,2%, gần mức dự tính sau nhiều lần điều chỉnh của
Chính phủ là 18%. Nửa đầu năm 2012, mức lạm phát có thể được điều chỉnh giảm
xuống còn 9 - 10%.
1.2 Diễn biến chính sách lãi suất của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2011:
Trước tháng 3/2011, chính sách lãi suất của Việt Nam không có nhiều biến
động khi nền kinh tế đang trên đà phục hồi. Các mức lãi suất được duy trì ở mức khá
thấp từ sau gói hỗ trợ lãi suất của NHNN, do vậy, cơ chế lãi suất trần không còn cần
thiết. Chính vì vậy, ngày 14/04/2010, NHNN đã ban hành Thông tư số 12/2010/TT-
NHNN hướng dẫn tổ chức tín dụng (TCTD) cho vay bằng đồng Việt Nam đối với
Với 85% thị phần của 12 NHTM lớn, các cuộc họp của nhóm G12+1 sẽ có thể tạo ra
những chính sách phản ánh đúng thực tế và diễn biến của thị trường hơn. Nhóm
G12+1 sẽ họp ít nhất mỗi quý một lần, trong trường hợp thị trường có những biến
động phức tạp, nhóm G12+1 sẽ họp bất cứ lúc nào để xử lý tình hình.
1.3 Phân tích hiệu quả của chính sách lãi suất của Việt Nam:
Chính sách trần lãi suất huy động bước đầu làm giảm lãi suất cho vay vào thời
điểm cuối năm 2011.
Mặc dù chính sách trần lãi suất được khởi động từ tháng 03/2011 cùng với sự
cam kết và quyết tâm của các nhà lãnh đạo của NHNN và Hiệp hội Ngân hàng Việt
Nam, các quy định về trần lãi suất của NHNN vẫn chưa chấm dứt hẳn các cuộc chạy
đua lãi suất huy động ngầm. Mục đích của các quy định này nhằm tạo ra sức ép giảm
lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp, tuy nhiên, chính sách này cho đến nay vẫn tỏ ra
chưa thật sự hiệu quả. Theo tính toán của Công ty Stoxplus, lãi suất huy động và cho
vay vẫn liên tục tăng, mức lãi suất cho vay trung bình đã tăng đáng kể từ mức
14,5% vào tháng 03/2010 (khi bắt đầu thỏa thuận về trần lãi suất giữa NHNN và
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
Nhóm 4 17
Hiệp hội Ngân hàng) lên đến mức 18,5% vào tháng 06/2011 và 18,73% vào tháng
08/2011. Theo báo cáo của NHNN, mức lãi suất cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất
bao gồm bất động sản, chứng khoán hay tiêu dùng còn cao hơn mức lãi suất trung bình
từ 3 - 5%. Tuy nhiên, kể từ khi NHNN có những động thái kiên quyết trong việc thực
hiện chính sách trần lãi suất huy động trong tháng 11 và tháng 12/2011, lãi suất cho
vay cũng đã có những tín hiệu tích cực. Các NHTM lớn đã có những công bố về hạ
mức lãi suất cho vay xuống 17,5% - 18% đối với doanh nghiệp.
Chính sách trần lãi suất tỏ ra không có hiệu lực và khó kiểm soát trong 10
tháng đầu năm, nhưng nhanh chóng có những chuyển biến tích cực trong các tháng
cuối năm.
Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2010 đến tháng 3/2011, chính sách trần lãi
suất huy động được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của các NHTM. Tuy
vốn cho cả ngân hàng và doanh nghiệp, tuy nhiên, chính sách này cũng tạo ra nhiều tác
động đến nhiều lĩnh vực. Để đảm bảo sự thành công của chính sách này, NHNN cần
có các biện pháp mạnh và nghiêm khắc đối với các NHTM nhỏ khi không tuân thủ
quy định của NHNN. Đặc biệt, trong thời gian qua, vấn đề thanh khoản của các ngân
hàng đã được cải thiện đáng kể khi NHNN đã mua khoảng 5 - 7 triệu USD trong
những tháng vừa qua và cung cấp các khoản cho vay tái chiết khấu đối với các
NHTM nhỏ nhằm giúp các ngân hàng này giải quyết vấn đề thanh khoản của mình.
1.4 Nguy cơ và triển vọng:
Với những nỗ lực tích cực của NHNN trong việc thiết lập và duy trì cơ chế trần
lãi suất huy động, NHNN đã thực sự “mạnh tay” trong việc xử lý các trường hợp vi
phạm quy định về trần lãi suất huy động. Tính đến nay, đã có 3 ngân hàng bị xử lý vì
vi phạm quy định về trần lãi suất theo Chỉ thị 02 về việc chấn chỉnh các quy định về lãi
suất tại Thông tư 02 và Thông tư 14. Tuy nhiên, cùng với việc công bố một chiến lược
tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và kết quả khả quan bước đầu trong việc tuyên bố hợp
nhất các NHTM nhỏ, NHNN Việt Nam cần tiếp tục có những giải pháp và lộ trình
phù hợp trong thời gian tới bằng việc tiếp tục nhận diện các vấn đề cần giải quyết của
hệ thống NHTM Việt Nam.
Thứ nhất, các NHTM nhỏ thực sự gặp khó khăn về thanh khoản và thiếu hụt
vốn. Đặc biệt, với sự hình thành và liên kết của 12 NHTM lớn cùng với NHNN,
một cuộc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng quy mô lớn có thể xảy ra. Các NHTM nhỏ
buộc phải có những liên kết và thỏa ước nhất định với các NHTM lớn. Số lượng
NHTM tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua cũng đang được nhiều chuyên gia
đánh giá là chưa phù hợp, chưa tương xứng với năng lực quản trị, chất lượng nguồn
nhân lực
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
Nhóm 4 19
Thứ hai, khó khăn từ nguồn tín dụng chính thức của các NHTM có thể là
nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ của các hoạt động tín dụng phi chính thức trong nền
kinh tế. Với sự phát triển nóng của nền kinh tế và của thị trường bất động sản giai
Nhóm 4 20
tín dụng chậm lại, chi tiêu dùng và đầu tư chậm lại. Điều này sẽ góp phần kìm hãm
lạm phát.
Chất lượng tín dụng ngân hàng suy giảm vẫn đang là một rủi ro. Việc thắt chặt
kinh tế vĩ mô, sau một giai đoạn tăng trưởng tín dụng nhanh, thường tạo áp lực đối với
người vay và ngân hàng. Mức tăng trưởng 23% lượng tiền vay bằng đôla Mỹ trong
sáu tháng đầu năm nay càng làm tăng nguy cơ này. Đồng Việt Nam có thể chịu áp lực
giảm giá khi mà những khoản vay, phần lớn là ngắn hạn này, đến kỳ thanh toán.
Thực ra, việc lạm phát cùng kỳ 12 tháng đã vượt qua đỉnh có thể nói là hệ quả
trực tiếp của chính sách thắt chặt tiền tệ trong năm 2011. Khác với các ngân hàng
trung ương khác, NHNN thắt chặt tiền tệ thông qua ba kênh: tăng lãi suất chính sách,
bóp nghẹt thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, và áp đặt hành chính trần tín dụng.
Đây là liều thuốc đắng Việt Nam cần phải uống sau nhiều năm quá say sưa với tăng
trưởng nóng. Chính sách thắt chặt tiền tệ hà khắc đã đẩy nhiều doanh nghiệp vào tình
trạng khó khăn, nhất là những doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay. Con số
hơn 50.000 doanh nghiệp đóng cửa hoặc ngừng hoạt động trong năm 2011 là bằng
chứng chính sách tiền tệ đã phát huy tác dụng, dù không ai mong muốn như vậy. Khi
doanh nghiệp khó khăn và chậm trả nợ trong lúc thanh khoản của hệ thống bị NHNN
siết chặt, nợ xấu trong khối ngân hàng gia tăng nhanh chóng, nhất là những ngân hàng
không có tiềm lực mạnh. Nhu cầu cải tổ hệ thống ngân hàng vốn đã yếu kém là điều
tất yếu và NHNN đang ráo riết triển khai một kế hoạch cải tổ như vậy. Việc thanh lọc
những doanh nghiệp và ngân hàng yếu kém trong năm qua và sắp tới, xét trên khía
cạnh hiệu quả kinh tế, là điều cần thiết cho mục tiêu phát triển dài hạn và bền vững của
Việt Nam. Nới lỏng tiền tệ quá sớm có thể làm công cuộc tái cấu trúc này không đi
đến đích.
2. Chính sách kiểm soát lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước năm
2012:
Trên cơ sở những thành quả đạt được trong việc thực hiện các CSTT trong năm
2011, mới đây nhất Ngân hàng Nhà nước đưa ra Tiêu chí để phân chia các nhóm bao
trường tài chính…; cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín
dụng; nâng cao trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị trường trong hoạt động ngân hàng.
Đề án 254 này là một bản đồ chỉ đường rất rõ ràng và chi tiết cho chương trình
“Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015”. Đồng thời đánh dấu
một thời điểm Chính phủ “chấp nhận” chấm dứt những tháng năm dài của những “do
dự và tranh luận” về những nỗi lo ngại sự cố đổ vỡ hàng loạt các tổ chức tín dụng vì
những khoản nợ xấu rất lớn đã được cấu thành trong hệ thống qua một thời gian dài và
đặc biệt suốt hơn năm năm với lạm phát cao. Những “do dự và tranh luận” đã được
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
Nhóm 4 22
chuyển và thay thế với những hành động cụ thể ngăn chặn trước một sự đổ vỡ có tính
hệ thống này và cứu vớt nền kinh tế ra khỏi con bệnh lạm phát kinh niên này.
Tại sao phải có đề án 254 và bản chất thật của vấn đề là gì?
Thứ nhất : giải bài toán Nợ – Nợ xấu – Nợ bẩn
Nhiều nền kinh tế khác cũng đã đối diện và chấp nhận những đề án thực hiện
những giải pháp để ngăn chặn sự đổ vỡ hệ thống ngân hàng và cứu vớt nền kinh tế của
họ trong suốt thời gian đại khủng hoảng kinh tế và tín dụng vừa qua – bắt đầu từ Mỹ
và gần đây nhất là Hy Lạp.
Nợ tự nó không phải là một từ ngữ hoặc một khái niệm xấu (tiêu cực) trong
quan hệ tín dụng – tiền tệ bình thường và trong một môi trường kinh tế lành mạnh. Nợ
chỉ trở thành nợ xấu (vấn đề) khi nó bị sự cố trong những hoạt động kinh doanh có và
bị trắc trở khách quan. Nợ sẽ trở thành nợ bẩn (vấn nạn) khi nó là sự cấu kết bất chính.
Vấn đề và vấn nạn của các đề án mang tầm quốc gia và vĩ mô này thường có một mẫu
số chung lớn: nợ bẩn. Khủng hoảng tại Mỹ cũng bắt đầu từ mẫu số chung đó: “Nợ
dưới chuẩn – Subprime loan hoặc khoản vay láo – Liar loan”. Cái giá mà nền kinh tế
và xã hội của họ đã, đang và sẽ trả là quá lớn vì họ đã làm một cuộc “tổng vệ sinh” quá
trễ.
Đề án 254 của Việt Nam, trực tiếp hoặc gián tiếp – nhiều hoặc ít – lớn hoặc
nhỏ, với những dữ liệu trên công luận về hàng loạt sự kiện sự cố của lĩnh vực quốc
là những đối tượng phải gánh chịu tổn thất đầu tiên, do họ ở những vị trí có ảnh hưởng
đến sự chế tài này.
“Nợ xấu” vẫn còn có thể có cơ may trở về hoặc vượt lên “nợ”. “Nợ bẩn” thì vẫn
sẽ luôn là “nợ bẩn”. Sau cùng và sẽ là như thế chẳng thể khác được.
Đề án 254 là một kế hoạch tổng vệ sinh nợ bẩn trong hệ thống các định chế tài
chính giống những nền kinh tế khác đã và đang thực hiện. Xã hội và nền kinh tế đã hụt
hẫng và mất rất nhiều về nguồn “nợ” – loại nợ mà xã hội của cần cù lương thiện đáng
ra phải được nợ để tạo ra giá trị nhiều lần hơn.
Theo đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đến năm 2015, phải xử
lý dứt điểm nợ xấu. Trụ cột chính đảm đương nhiệm vụ này công ty Mua bán nợ và tài
sản tồn đọng của doanh nghiệp thuộc bộ Tài chính (DATC). Mới đây, Thủ tướng phê
duyệt đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015”. Theo
đó, trong các biện pháp xử lý nợ xấu có biện pháp bán nợ xấu có tài sản đảm bảo cho
DATC.
Lộ trình trên và cả nhiệm vụ này có hoàn thành được không khi mà đến nay
DATC vẫn đang than mình đứng vào thế khó khi thiếu cơ chế cụ thể, ngay cả kịch bản
tái cơ cấu nợ cụ thể vẫn chưa được phác thảo?
Tiểu luận Lý thuyết TCTT TS. Diệp Gia Luật
Nhóm 4 24
Ngày 17.12.2011, ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố dư nợ xấu trong toàn
hệ thống ngân hàng ở mức 3,4% tổng dư nợ, quy ra khoảng 85.000 tỉ đồng. Trong khi
đó, nếu phân loại nợ theo chuẩn mực quốc tế, Fitch Rating cho rằng tỷ lệ nợ xấu của
các ngân hàng Việt Nam là 13% tổng dư nợ (khoảng 300.000 tỉ đồng). Đến bây giờ, nợ
xấu của DNNN là bao nhiêu, xem ra rất khó có câu trả lời chính xác. Theo NHNN thì
đến cuối tháng 9.2011, dư nợ cho vay DNNN là khoảng 416.000 tỉ đồng, tương đương
17% tổng dư nợ tín dụng, trong đó có một tỷ lệ nợ xấu không nhỏ. Còn vào thời điểm
tháng 10.2011, ông Deepak Mishra – kinh tế trưởng ngân hàng Thế giới cho rằng hiện
các DNNN chiếm tới 60% tín dụng của các ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Đặc biệt,
mức nợ của các DNNN đang chiếm tới 70% nợ xấu của các ngân hàng.
thép tăng đột ngột của Trung Quốc v.v, còn có những nguyên nhân từ yếu tố tiền tệ.
Trường phái tiền tệ mà điển hình là Milton Friedman đã nhận định rằng “lạm phát là
một hiện tượng tiền tệ “. Nhận định này được rút ra trên cơ sở các chứng cứ thực
nghiệm nghiên cứu về sự tăng trưởng tiền tệ kéo dài gắn với sự gia tăng lạm phát (lạm
phát và sự tăng trưởng tiền tệ tại Mỹ la tinh 1980-1990 và siêu lạm phát ở Đức 1921-
1923 v.v). Bên cạnh đó, những phân tích quan điểm lạm phát của trường phái Keynes
cho thấy rằng, sự gia tăng lạm phát có thể xuất phát do những cú sốc về cung hoặc cầu,
nhưng nếu cung tiền không tăng theo hay không thay đổi thì chỉ trong một thời gian
ngắn, kết quả ròng của cú sốc cung (cầu) sẽ làm dịch chuyển cả đường tổng cung lẫn
đường tổng cầu và đưa mức giá về mức ban đầu. Do vậy những cú sốc về cung (cầu)
không phải là nguồn gốc của lạm phát cao (nhưng là nguồn gốc làm tăng mức giá
trong ngắn hạn).
Từ những nguyên nhân dẫn đến lạm phát trên, chúng ta thấy rằng dù có một
chính sách tiền tệ đúng đắn, chúng ta cũng không thể chắc chắn sẽ kiểm soát được lạm
phát nếu chúng ta đưa ra những chính sách quản lý chưa phù hợp làm ảnh hưởng trực
tiếp tới việc tăng giá hàng hóa, dịch vụ.
Hiện nay, chúng ta đang mắc phải một sai lầm rất tai hại đó là không phân tích
ảnh hưởng lợi ích của một lĩnh vực, một ngành nghề đến toàn xã hội. Ví dụ như việc
tăng giá xăng dầu, huy gần đây nhất là một chính sách đang bị rất nhiều phản ứng của
xã hội hiện nay là việc “Thu phí bảo trì đường bộ”, “ Phí hạn chế phương tiện cá
nhân”, khi hoạch định chính sách thu phí này người hoạch định chưa tính tới ảnh